Reatimes.vn

CƠ QUAN NGÔN LUẬN CỦA HIỆP HỘI BĐS VIỆT NAM

Chúng ta đang còn nợ sông Hồng!

  • Nguyễn Thành Phong

    Nhà thơ

    Nguyễn Thành Phong

    Sông Hồng không chỉ bồi tụ nên địa lý, mà còn là ngọn nguồn những sức mạnh không dễ gì cắt nghĩa hết được của những người dân áo vải nơi xứ sở này.

Chúng ta đang còn nợ sông Hồng!

Sông Hồng bao giờ mới trẻ lại, đẹp lên, sung sức hơn, có ích hơn cho đời bây giờ và tương lai? Không phải chưa có người đặt ra những câu hỏi này, nhưng câu trả lời thật ý nghĩa thì vẫn chưa có...

Tùy bút

Mùa xuân năm nay, tôi mới có dịp đến cửa bể Ba Lạt, nơi con sông Hồng đổ ra biển Đông. Nghĩ cũng lạ, đời người xuôi ngược, làm báo, đi khắp đó đây trong nước và ngoài nước, vậy mà đến tận bây giờ tôi mới đi ra với cửa sông Hồng. Hóa ra, cái gì cứ nghĩ là gần, thế nào rồi cũng sẽ đến, mà lại thành xa xôi lắm.

Sông Hồng chắc chắn là thân thuộc với mọi người, ở miền Bắc, ở đồng bằng Bắc Bộ, ở Nam Định, Hưng Yên, Hà Nam… giống như tôi sinh ở Thái Bình thôi. Ngay từ bé tuổi, theo cha tôi lang bạt, cứ khi xe lên được phà Tân Đệ ngang con sông Hồng mênh mông, là cha tôi nói, ta đã rời quê rồi đấy con ạ. Đi mãi, đi mãi, cuối cùng tôi về Hà Nội, là lại sống bên sông Hồng.

Hà Nội - Thành phố bên sông Hồng. Ảnh: Internet

Tôi đã đến nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt ở A Mú Sung, Lào Cai, những năm còn trẻ lắm. Hồi ấy, biên giới phía Bắc đang nóng bỏng. Thời bài hát “Gửi em ở cuối sông Hồng” lính trên chốt rất hay hát. Nghe rồi, tôi nghĩ, nay mai về xuôi, sẽ tìm đến cửa sông Hồng, nhìn cuối sông ở đấy, ngắm em ở đấy, xem có đúng như mình hình dung khi nghe và hát bài hát này ở biên giới không?

Tôi cũng đã lên đến Mường Tè, Lai Châu, nơi con sông Đà chảy vào đất Việt, đã đến Thanh Thủy, Hà Giang, nơi con sông Lô chảy vào đất Việt. Sông Đà và sông Lô là hai phụ lưu, cùng với sông Thao dòng chính làm nên sông Hồng. Ba con sông này gặp nhau ở quãng ngã ba Bạch Hạc, Việt Trì, nơi kinh đô cổ nhất nước Việt thời các Vua Hùng, để từ đó gọi là sông Hồng. Ngoài ba dòng chính, nước của dòng sông Hồng còn nhận từ khắp các phụ lưu, rồi lại phân lưu chia ra. Tính hết cả mạng lưới, sông này bao bọc gần như khắp đồng bằng Bắc Bộ nước ta, thì có đến hơn 40 dòng chảy, mang đủ những quán từ như sông, ngòi, suối, nậm, huổi… đứng trước. Những sông Đuống, sông Gâm, sông Chảy, sông Châu, Phó Đáy… Những ngòi Thia, ngòi Hút, ngòi Lao… Những suối Ba Ta, Pa Ma, Nà Thầy… Những nậm La, nậm Ngần… Những huổi Hô, huổi Luông… Đấy đã là những địa danh quen thuộc với bao nhiêu lớp người vì đã trập trùng bước vào những trang văn đầy cảm xúc của thời kháng chiến hào hùng, gian khó.

Hát rằng, anh ở biên cương nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, là chỗ Lào Cai ấy, nhưng tên sông từ Lào Cai về tới ngã ba Bạch Hạc, Việt Trì, lại mang tên là sông Thao. Tính từ điểm đầu biên giới theo hướng Tây Bắc, Đông Nam đến cuối sông Hồng ra biển, dài hơn 500 cây số. Một đoạn đường tuy đi từ rừng đến biển, cũng không quá xa xôi…

***

Sông Hồng gắn với lịch sử hình thành và phát triển nước Việt mấy ngàn năm. Nhưng cửa Ba Lạt thì mới định hình hơn 300 năm nay, từ trận lụt lịch sử 1787, nước lũ phá tan cửa sông Ba Lạt nhỏ bé, gọi là sự kiện “Ba Lạt phá hội”, mở toang nó ra, để phế truất hai cửa cũ là cửa Lân và cửa Hà Lạn của sông Ngô Đồng, để làm nên cửa mới phóng khoáng và mênh mông hơn rất nhiều lần.

Hôm ra cửa biển, tôi ngồi bên những người bạn: Anh Tuấn, tiến sỹ kinh tế, nhà báo. Anh Hiệp, tiến sỹ, doanh nhân. Anh Huy, thiếu tướng cảnh vệ. Cả mấy anh em chúng tôi đều đã trải đời, tuổi trong ngoài hoa giáp như nhau. Nhìn cửa sông mênh mông sóng đỏ, thấy mỗi một tặc lưỡi của mình là đã có khoảng 1.000 mét khối nước phù sa hòa vào biển cả. Người ta đã tính, lưu lượng nước sông Hồng nơi cửa biển, cao nhất đến 30.000m3/giây vào mùa lũ, thấp nhất thì độ 700m3/giây vào mùa cạn. Nhìn ngược lên thượng nguồn mà tưởng tượng, ở độ cao hơn 70 mét so với nơi mình đang đứng, nước cứ cần mẫn đổ xuống, tràn qua bao nhiêu thác, bao nhiêu ghềnh, bào gột đi bao nhiêu cát đá, phù sa, mấy ngàn năm mà thành đồng bằng Bắc Bộ mênh mông. 

Cứ liên tưởng, rồi thấy, những gì mình đã làm, đã đóng góp suốt cả đời mình cho đời sống này, thật đúng là chưa đáng một phần của hạt cát mà sông Hồng mang từ nơi non cao về bồi tụ cho đồng bằng. Ngồi thưởng thức cua, mực tươi ròng vừa bắt nơi cửa sông lên, nhấp chén rượu nếp cái từ mùa màng châu thổ, mà thấy đấy là ân sủng lớn lao trời đất ban cho mình…

Sông Hồng mấy ngàn năm mang phù sa bồi đắp cho đồng bằng Bắc Bộ. Ảnh: Internet

Sông Hồng đã trằn mình trôi qua thời gian và lịch sử. Chế Lan Viên thốt lên: “Hỡi sông Hồng, tiếng hát bốn ngàn năm/Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng”. Bao người người lớp lớp kinh qua lửa máu để Văn Cao viết “Trường ca sông Lô”, Đỗ Nhuận viết “Du kích sông Thao”? Những ngày kháng chiến chống Pháp, Hoàng Cầm đã chỉ ra nguồn cội sức mạnh từ sự trữ tình sông Đuống “Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”. Còn trong thời yên ả, Nguyễn Tuân vẫn thấy sóng vỗ nơi mặt nước xanh màu ngọc bích mà thành tùy bút “Người lái đò sông Đà”... Đấy chỉ là những ấn tượng trong văn nghệ của sông Hồng cùng các chi lưu, phân lưu trong thời nước Việt Nam mới. Còn nhiều lắm những trang văn, trang sử, ca dao, dân ca trong quá khứ nữa…

Sông Hồng không chỉ bồi tụ nên địa lý, mà còn là ngọn nguồn những sức mạnh không dễ gì cắt nghĩa hết được của những người dân áo vải nơi xứ sở này.

***

Hôm đến cửa bể Ba Lạt, khi sải những bước chân trên thềm phù sa non còn đang ấm nóng, tôi đứng lại, nhìn lên bầu trời. Bầu trời xanh trên sóng đỏ sông Hồng đang thật hiền hòa, nhẹ bẫng những đám mây bay về xa…

Không phải lúc nào, trời trên sông Hồng cũng xanh trong, yên ả.

Bầu trời ấy ngút khói và nhoáng lửa khi Hà Nội bước vào kháng chiến chín năm chống Pháp, đoàn quân cảm tử lặng lẽ rời Thủ đô qua gầm cầu Long Biên.

Bầu trời ấy gầm rú tiếng máy bay Mỹ, Long Biên bị trúng bom sập mất mấy nhịp cắt đứt giao thông, phải nối lại qua cầu phao bắc vội.

Bầu trời ấy đầy mây đen sũng nước trong trận lụt lịch sử 1971, nước đã tràn qua mặt cầu Long Biên cao hơn Hà Nội mấy mét, đá núi chất đầy, thậm chí cả một đoàn tàu hỏa chứa đá hộc phải leo lên nằm giữa mặt cầu trì xuống để giúp sức cho nó trụ lại trước lũ dữ. Đê Cống Thôn đã phải vỡ, tiếng nổ như những chùm bom lớn kéo dài trong đêm đen, để chia bớt nước sông Hồng…

Bây giờ, bầu trời trên sông Hồng xanh lại đã mấy chục năm rồi.

Sông Hồng mấy ngàn năm chảy mãi, giờ cũng có vẻ mệt mỏi và già yếu đi. Nhìn sông Hồng đi qua Hà Nội mà nghĩ xem, có đúng thế không? Hà Nội có sông Hồng nhưng chưa mấy ai thấy thú vị vì mình đang sống ở thành phố bên sông. Chúng ta còn nợ sông Hồng món nợ rất lớn. Sông Hồng bao giờ mới trẻ lại, đẹp lên, sung sức hơn, có ích hơn cho đời bây giờ và tương lai? Không phải chưa có người đặt ra những câu hỏi này, nhưng câu trả lời thật ý nghĩa thì vẫn chưa có.

Câu trả lời ấy dứt khoát phải có trong thời hôm nay của chúng ta. Trời xanh trên sóng đỏ sông Hồng đã mấy chục năm nay vẫn đang kiên nhẫn chờ đợi…

Viết nhân dịp Quốc khánh, 2/9/2019

Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự


TOP