Reatimes.vn
CƠ QUAN NGÔN LUẬN CỦA HIỆP HỘI BĐS VIỆT NAM

Chuyện của Hùng Tây Nguyên
Văn Công Hùng
Nhà văn
Cuộc nhập cảnh không visa của một nhà báo Pháp

Cuộc nhập cảnh không visa của một nhà báo Pháp

Cầu sông Bé hôm nay chứng kiến thêm một câu chuyện vừa bi tráng vừa diễm lệ, vừa đơn giản nhưng lại cũng hết sức bí ẩn, đặc biệt khó lý giải với thế hệ bây giờ.

07:00, 16/03/2020

Tôi vừa được dự một cuộc rải tro cốt hết sức cảm động. Cảm động ở người thực hiện, cảm động ở di nguyện của người mất và cảm động từ cả những người không liên quan.

Và mới thấy cuộc kháng chiến của chúng ta bi tráng đến như thế nào. Mỗi con người, mỗi số phận, mỗi nóc nhà, mỗi gia đình... khi bị xô vào cuộc chiến, đều đầy bi kịch, nhưng lại cũng hết sức lạ lùng. Nhiều sự kiện gần như không thể cắt nghĩa được nếu như không sống trong lòng sự kiện đó.

Ngay sau 1975, tôi về quê, làng Thế Chí Tây, Điền Hòa, Phong Điền, Thừa Thiên Huế, gặp anh em. Tôi là con bác cả, đa phần các anh em tôi là... lính Việt Nam cộng hòa, thời ấy hay gọi là lính... ngụy.

Anh em gặp nhau, kẻ Bắc người Nam, nhưng thân thiện. Ngay đêm đầu tiên, tôi ngủ chung với ông em là lính Cộng hòa xịn, gác chân lên nhau ngủ, như chưa hề có cuộc... chiến tranh.

Sau này, Phan Thúy Hà, với cuốn "Tôi là con gái của cha tôi", viết về một nửa của cuộc chiến tranh ấy, cũng đầy kinh khủng, đau đớn, bi kịch.

Đọc "Tôi là con gái của cha tôi", thấy hiện ra một thời, máu và nước mắt, đau đớn và tủi nhục, những kiếp người lầm lũi, những thân phận vênh vao, những thắc thỏm, những cái giật mình...

Tất cả những gì hiện ra trong cuốn sách hết sức khốc liệt này, tôi đã đều chứng kiến, thế nên đọc chậm để thấm, để hồi tưởng.

Nhạc sỹ Trương Tuyết Mai cùng những người bạn dự cuộc thả tro cốt nhà báo người Pháp Georges Boudarel trên cầu sông Bé.

Và giờ, tôi được dự cuộc thả tro cốt nhà báo người Pháp Georges Boudarel.

Hai mươi bốn tuổi, ông sang Việt Nam dạy học. Ông dạy môn triết ở trường Nữ Trung học Marie Curie Sài Gòn. Năm 1950, ông bỏ dạy, theo kháng chiến, là kháng chiến của Việt Nam ấy, tức là theo Việt Minh. Ra chiến khu D, vùng Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai bây giờ để... chống Pháp. 

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch phân công ông làm việc ở Ban tiếng Pháp, Đài Phát thanh Sài Gòn Chợ Lớn tự do, rồi Đài Nam Bộ kháng chiến. Năm 1951, ông được chuyển sang Cục Địch vận, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Năm 1952, trên đường ra miền Bắc, ông nhận tin một tòa án ở Pháp đã kết án tử hình mình. Sau đấy ông được phân công về làm giám thị một trại tù binh Pháp. Cũng chính vì thế, sau này ông còn bị các cựu tù binh Pháp tố cáo là đồ tể của trại giam.

Sau 1954, ông về công tác ở Nhà xuất bản Ngoại Văn, tiền thân của Nhà xuất bản Thế Giới bây giờ. Từ đây, ông đã có công dịch những là "Dế mèn phiêu lưu ký" của Tô Hoài, "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố ra tiếng Pháp...

Sau đấy vì nhiều lý do mà cơ bản là sự bất đồng giữa các nước xã hội chủ nghĩa, ông và một số đồng đội người châu Âu, tham gia kháng chiến với chính phủ Việt Nam, hồi hương. Nhưng vì đã bị kết án tử hình nên ông không thể về Pháp, mà ông về Tiệp Khắc, làm ở văn phòng Liên hiệp Công đoàn Thế giới. 

Mãi tới năm 1967, phong trào nhân quyền ở Pháp lên cao, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh ân xá cho một số tử tù trong cuộc chiến tranh Pháp - Việt Nam và Pháp - Algerie. Ông trở về Pháp, bảo vệ luận văn tiến sĩ về Phan Bội Châu và dạy môn lịch sử tại một trường đại học. Sau đó ông về hưu, sống nhờ sự giúp đỡ tận tình của Hội "Những người bạn của Boudarel" do một giáo sư toán nổi tiếng thế giới người Pháp đứng đầu.

Tháng 12 năm 2003, khi Boudarel từ trần, ông có ước nguyện là hỏa táng di hài, sau đó rải một phần trên biển ngoài khơi nước Pháp, quê mẹ của ông, phần còn lại mang sang Việt Nam, nếu có thể, đi theo lộ trình của Boudarel đã đi cách đấy sáu mươi năm trước: Từ Sài Gòn lên Việt Bắc, qua chiến khu D, rải tro ông xuống mấy con sông mà ông từng hoạt động như sông Bé, sông Hồng, sông Thu Bồn...

May mắn là tôi được dự và chứng kiến cuộc thả tro của ông xuống sông Bé.

Trên đường 14, người Pháp đã xây rất nhiều những cây cầu xi măng rất đẹp. Xi măng mà nó không thô, mềm mại, mang dáng của Long Biên, Trường Tiền. Cầu Sông Bé là một cây cầu như thế.

Năm 1975, để chặn bước tiến của đối phương, quân đội Sài Gòn đã cho nổ mìn phá đi hai nhịp, và chính vì thế mà giờ nó lại càng... đẹp. Chính chỗ cầu gãy ấy, tro cốt của Boudarel được chọn để thả.

Các nhân vật có mặt, người đầu tiên là nhà văn, nhà báo Nguyễn Ngọc Giao, Việt kiều ở Pháp. Hành trình mang tro cốt của Boudarel về Việt Nam của Nguyễn Ngọc Giao cũng đầy hồi hộp. Anh Giao là một trong những thành viên chủ chốt của Hội "Những người bạn của Boudarel". 

Con đường trở về Việt Nam của anh cũng trắc trở, chẳng khác bao nhiêu con đường Boudarel trở về Pháp. Và hôm nay anh đã về, cùng với vợ và hũ tro của nhà báo Boudarel. Rất cẩn thận và đầy văn hóa, anh Giao thiết kế cái hộp tro cốt của Boudarel như một cuốn sách, rất đẹp và sang.

Người thứ hai là chị Trần Tố Nga, nguyên là nhà giáo, từng dạy ở chính ngôi trường Boudarel từng dạy là Marie Curie, tất nhiên là sau 1975. Rồi chị là người đứng đơn kiện vụ Dioxin. Để tiến hành vụ kiện, chị đã sang Pháp ở mấy năm nay.

Người thứ ba, đặc biệt nữa, là nhạc sỹ Trương Tuyết Mai. Người phụ nữ gần 80 tuổi ấy vẫn rất sang trọng như cái thời mà Boudarel... yêu chị. Đó là một mối tình tuyệt đẹp nhưng cũng vô vọng. Nghe nhà văn Bích Ngân kể, khi ấy Trương Tuyết Mai mới 17 tuổi.... Vâng, hôm nay chị là chủ lễ thả tro người tình cũ Boudarel xuống sông Bé. Từ mọi nơi ở Sài Gòn, chúng tôi tập trung về nhà chị từ sáng sớm, làm lễ xong thì rước Boudarel về sông Bé.

Còn nữa, là nhà thơ Nguyễn Duy, nhà văn Trầm Hương, nhà văn Bích Ngân, nhà báo Lương Bích Ngọc...

Thực sự xúc động vô ngần!

Nhạc sỹ Trương Tuyết Mai bên di ảnh của nhà báo Georges Boudarel

Một người Pháp đã coi Việt Nam như quê hương mình như thế, nên có lẽ ông cũng đã quen... mùi hương. Rất nhiều hương và hoa đã theo ông từ nhà chị Trương Tuyết Mai về sông Bé. Rồi khi anh Nguyễn Ngọc Giao và nhà thơ Nguyễn Duy rắc tro cốt xuống sông Bé, từng bó lớn hương được thả xuống theo. 

Không biết có phải linh ứng mà những bó hương cứ cháy đùng đùng trước khi vòng vèo bay xuống sông. Đứng ở cầu sông Bé, tôi cứ nhớ cây cầu sông Kwai tôi đã từng đến và đã từng xuất hiện trong một bộ phim nổi tiếng đoạt giải Oscar năm 1957. Cầu sông Bé hôm nay chứng kiến thêm một câu chuyện vừa bi tráng vừa diễm lệ, vừa đơn giản nhưng lại cũng hết sức bí ẩn, đặc biệt khó lý giải với thế hệ bây giờ. Bi kịch của chiến tranh và sự hóa giải của tình yêu, sự lãng mạn và bí ẩn, cũng là sự đau đớn đến tận cùng của trái tim con người.

Lần này, Georges Boudarel đã nhập cảnh vào Việt Nam mà không cần visa như thế. Những dòng sông của Việt Nam, đất nước ông từng yêu đến hơi thở cuối cùng, đã đón ông, như đón đứa con của mình... 

Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự


TOP