Đạo Bụt là Đạo Hiếu

Bụt là bậc Đại hiếu. Do thế hạnh của Bụt là hạnh hiếu. Chúng ta dù có tận tâm báo đền ân đức cha và mẹ đến đâu cũng không thể là bậc Đại hiếu. Ta đem cái tâm phàm phu chúng sinh mà đền trả. Tâm đó chưa vượt thoát được ràng buộc hệ lụy của sinh tử, tham đắm u mê bởi tối tăm của bản ngã nên làm sao ta cứu được mẹ cha ta khỏi khổ ải tử sinh, trầm luân thống khổ.

Bụt đã vượt thoát tử sinh. Nên hiếu mà Bụt đền trả là đem cái chân lý nhiệm mầu có khả năng thức tỉnh, giới thiệu đến cho cha mẹ tu tập. Bằng từ tâm của một vị Bụt, ngài hướng tất cả trường năng lượng tình thương để nâng đỡ cho cha mẹ cảm thấy bình an trên đường thực hành đạo mầu.

Nhờ thế cha mẹ dễ đạt đến tinh tiến, nỗ lực, sớm chứng nghiệm được đạo quả. Khi không còn hệ lụy buộc ràng trong bỉ thử nhân ngã, hẹp hòi thì mẹ cha đâu bị bức khổ bởi tâm chấp ngã nhỏ nhen, đọa đày. Hiếu, như thế là người con đã được trả xong.

Chỉ ở nơi một vị Bụt mới gọi là trả hết được Hiếu Nghĩa ân đức với mẹ cha. Chúng sanh phàm phu việc sanh tử của mình chưa giải quyết, không thể độ thoát cho mẹ cha, chỉ là hết lòng thực hành Hiếu hạnh để báo đức ân thâm của cha mẹ trong muôn một mà thôi. Ta có thể là người con Chí hiếu. Tâm báo ân cha mẹ của Bụt, có khả năng độ thoát sanh tử cho cha mẹ mới gọi là Đại Hiếu. Tâm Đại hiếu đó còn là cái tâm hướng đến tất cả chúng sanh trong tứ sinh lục đạo mà quán xét cứu giúp, độ thoát.

Đạo giải thoát, lấy chúng sinh làm chất liệu nuôi lớn hạt giống Bồ đề tâm. Tâm Bồ đề là cái tâm quyết chí cầu thành Phật, chứng đắc đạo quả giải thoát. Mà chúng sanh đó là ai? Bụt dạy: “Sữa mẹ mà ta uống suốt trong luân hồi nhiều hơn nước bốn biển”, Và: “Này các thầy, không thể tìm ra được một chúng sanh nào suốt trong chiều dài luân hồi này mà không từng một lần làm cha hay mẹ chúng ta”.

Từ đó, hiếu với cha mẹ tức là hiếu với chúng sinh. Vì ít nhất trong vô lượng vô số chúng sanh đó, bất kỳ chúng sanh nào cũng đã từng một lần làm cha và mẹ ta.

Hiếu với chúng sanh trở thành hiếu với cha mẹ không khác. Vì vậy ta có định nghĩa: Đạo Bụt là Đạo hiếu.

Người tu xem chúng sanh là đối tượng nuôi lớn Tâm Từ Bi. Đạo Bụt đối với cuộc đời xem hết thảy chúng sanh là bạn. Người học Đạo giải thoát tuyệt đối không bao giờ xem ai là thù.

Qua đó, ta có thể hiểu tại sao Đạo Bụt đề cao đời sống Hiếu hạnh. Thấu triệt được điều đó, nhân gian Việt ta mới có câu: “tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu”. Ông bà ta đã hiểu và đã định nghĩa về thế nào là "chân tu" cho ta rồi đó.

Vu Lan mùa Báo hiếu trở thành vô cùng trọng đại trong ý nghĩa Phật Đạo.

Vu Lan mùa Báo hiếu trở thành vô cùng trọng đại trong ý nghĩa Phật Đạo.

Phụng sự cho chúng sanh trở thành ý nghĩa phụng sự cho cha mẹ chúng ta. Ta đâu có so đo tính toán khi vì cha và mẹ. Quán chiếu như thế, người con có hiếu tu tập đạt đến Ba La Mật khi thực hành Bố thí phụng sự chúng sanh. Đến đây ta có thể hiểu, sao gọi Hiếu Tâm là Phật Tâm.

Vu Lan mùa Báo hiếu trở thành vô cùng trọng đại trong ý nghĩa Phật Đạo.

Hình ảnh người con Mục Kiền Liên cứu mẹ là hình ảnh của người Đại Hiếu. Tôn giả Mục Kiền Liên chứng được quả vị A La Hán và có Thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử Bụt.

Từ nhiều ý nghĩa linh thiêng và lớn lao kia mà ngày Rằm tháng Bảy trở thành ngày lễ trọng đại của Phật giáo.
Đạo Bụt đã truyền vào Nước ta hơn 2000 năm nay. Ảnh hưởng sâu đậm vào đời sống tâm thức Việt. Cách người Việt hành xử và tư duy trong tương quan đời sống nói lên điều đó.

Tiếc thay, là gần đây, có những thế hệ sinh ra và lớn lên không được kế thừa nên cứ ngỡ mình không thuộc về nền văn hóa lâu đời của Đạo Bụt Việt.

Tôi tin với xu hướng nhìn nhận lại nhiều giá trị truyền thống như hiện nay, chắc dần dần nhiều thành phần xã hội và nhiều thế hệ sẽ đi đúng vào dòng chảy Văn hóa Việt Phật.

Theo Âm lịch, tháng bảy là tiết Trung nguyên, mùa Thu. Tính chất thời tiết của mùa này đẹp nhất trong 4 mùa. Không quá rực rỡ như mùa xuân sinh sôi nẩy nở của vạn vật, không lạnh lẽo như Đông về hay khô nóng của mùa Hạ.

Thu về, tiết trời dịu hẳn, không gian như mở rộng và đằm thắm sáng trong hơn. Sông núi cũng trầm mặc sâu lắng hơn. Cái vẻ thiên nhiên của mùa Thu khoác lên vạn vật như ẩn, như hiện cái gì sâu lắng mà xa xăm.. làm người ta phải trầm ngâm khi thưởng ngoạn đất trời.

Người xưa cũng chọn tiết Thu để hoài niệm, để nói tiếng nói của lòng mình chưa dứt khôn nguôi, cái mong manh thực hư ranh giới đôi bờ sống chết giữa hai cõi âm dương. Nỗi niềm trước được mất, bại thành rồi ra biết đâu cũng chỉ là bèo mây.

Ngày Rằm Tháng 7, Ngày Xá Tội Vong Nhân.

Tôi thích giá trị của cụm từ này trong truyền thống văn hóa Việt Nam mỗi khi mùa Thu về chuẩn bị cho Lễ Vu Lan Báo hiếu. Từ ý nghĩa báo đáp ân đức đền trả hiếu nghĩa của những phận người làm con đối với mẹ cha mang tinh thần đạo Bụt trở thành ngày “xá tội vong nhân” trong quan niệm người Việt.

Vì sao, và vì cái giá trị nào mà Ngày Rằm Tháng Bảy trở thành Ngày Xá Tội cho con người lẫn Vong Linh?

Chúng ta phải biết điều này. Sau khi ngài Mục Kiền Liên nghe lời Bụt dạy, mời thỉnh toàn thể Đại đức chúng Tăng thọ thực và cúng dường trăm món cần dùng trong ngày chư Tăng tự tứ và chư Tăng đã chú nguyện cho mẹ Ngài; nhờ công đức này của người con hiếu (Ngài Mục Liên) mà người mẹ Thanh Đề đang đọa đày trong ngục tối A tỳ Vô gián được thoát khỏi địa ngục.

Cũng trong ngày đó, sau khi đã cầu nguyện xong, ngài Mục Kiền Liên dùng thiên nhãn thông quán xét trong địa ngục, mới hay cũng trong ngày đó, bao nhiêu người đã từng chịu khổ như mẹ mình trong địa ngục thảy đều được thoát nghiệp Oan khiên, rời khỏi địa ngục, sanh về thế giới an lành.

Ông cha ta nhận ra được giá trị trên một cách tâm đắc, đã nhìn thấy sức mạnh vi diệu qua sự chú nguyện, tạo thành trường năng lượng lành từ thế giới người tu hành trong Ngày Rằm Tháng Bảy, ngày Tự tứ, Ngày Bụt hoan hỷ.

Từ đó mà bao nhiêu những gì vương vấn day dứt, trói buộc oan trái, cưu thù do nghiệp lực con người tạo ra, như chiến tranh, hận thù, oan ức bởi chết trẻ, chết nạn nơi sông nước hay rừng sâu biển cả.v.v nhiều vô kể trong kiếp sống loài người đều được “giải quyết” trong Mùa Vu Lan: Xá Tội Vong Nhân.

Ảnh minh hoạ

Ảnh minh hoạ

Vu Lan, trở thành mùa của hoài niệm và tri ân báo ân.

Tiết Tháng bảy lập đàn giải thoát

Nước tịnh bình rưới hạt dương chi

Muôn nhờ đức Phật từ bi

Giải oan cứu khổ hồn về Tây phương.

Nhân gian cũng theo đó mà thường hay lập đàn siêu độ vong linh vào ngày rằm tháng bảy. Đó là cõi âm. Người sống thì sao? Bậc vua chúa trong các triều đại trước, thường giảm án tha tội cho tù nhân và phóng thích họ vào ngày rằm tháng bảy.

Mùa Vu lan, ngày Rằm tháng Bảy người Việt Nam đã tạo ra một truyền thống vô cùng tốt đẹp, đó là người ta dễ cảm thông, tha thứ bao dung cho nhau những lỗi lầm vụng dại hay hiểu lầm oan khúc của nhau.

Làm vậy là vì sao? Vì người Việt biết, đến Âm ty Ngục tốt đầu trâu mặt ngựa còn buông tha hình phạt cho tội nhân, hà huống là người với người, lại là người trong một nước.

Âm dương chung nỗi lòng, sống chết gần gang tấc, vì ta sống trong một nước chiến tranh triền miên với giặc phương Bắc để sống còn. Ta không thương ta, Bầu ơi không thương lấy Bí cùng, thì đợi người phương Bắc đến đây thương ta sao.

Đó là cách thống nhất lòng người bằng niềm tin Phật đạo. Là cầu nối niềm tin cõi lòng người con Việt biết Tôn Sư Trọng Đạo.

Ngày Rằm Tháng Bảy, như vậy đã trở thành ngày lễ trọng đại của Dân tộc Việt.

Quên đi ngày Rằm tháng Bảy, hay không quan tâm đến ngày Rằm tháng Bảy đúng mức là đánh mất đi cái cầu nối quan trọng nối hai cõi âm dương, sống chết, nối người với người trong sức mạnh văn hóa Dân tộc bằng đức tin tâm linh.

Lịch sử Dân tộc ta không có ngày nào linh thiêng và mang tầm vóc lớn như thế. Vua chúa Vương quan đại thần không mở tiệc mừng, vui thú giết hại sinh vật trong những ngày như thế.

Còn nay thì sao? Ta có gì để kiêng kỵ giữ mình?

Nếp sống đề cao tâm linh và tình thương muôn vật đã làm cho người Việt biết thức tỉnh dừng lại sau mỗi nửa tháng để ăn chay và thực hành hạnh tốt phóng sinh.

Sức mạnh và độ dày văn hóa Đạo Bụt ảnh hưởng sâu đậm vào nếp sống, nếp nghĩ cha ông ta xưa là vậy. Ngày Rằm là ngày thực hiện hòa bình thực sự của người Việt. Người Việt không ăn thịt hay uống rượu giết hại sinh vật trong những ngày mười bốn rằm hay 30 mùng 1.

Văn hóa tâm linh đó, đã chảy trong huyết quản các thế hệ người Việt Nam ta qua hàng ngàn năm nay.

Đó đích thực là văn minh.

Nhà cao cửa rộng, tiện nghi vật chất sung mãn, nhưng mỗi người mỗi cõi lòng khép kín, không có thời giờ và khả năng mở lòng mình với tha nhân, hòa đồng và chung vui, phải chăng là đã lãng phí thời gian và sinh lực sống tâm linh kiếp người và sao gọi là văn minh!

Quay về và tìm hiểu sâu những giá trị tâm linh của cha ông ta xưa, là khơi mở suối nguồn huyết thống, là nhìn nhận những giá trị không thể thiếu làm căn bản cho đời sống con người ngày hôm nay đang quay cuồng theo đà sống thác loạn thúc đẩy lòng tham hưởng thụ.

Bạn bận rộn gì một ngày để hối hả ra khỏi nhà mà không kịp dâng một nén hương lên ban thờ nhà mình trước khi đi làm?

Bạn sợ thiếu chất, bạn gấp gáp cung cấp dinh dưỡng gì vào cơ thể trong hai tuần qua mà không đủ sực nhớ máu xương sinh vật đã hy sinh trong bữa ăn mỗi ngày?

Nếp sống đề cao tâm linh và tình thương muôn vật đã làm cho người Việt biết thức tỉnh dừng lại sau mỗi nửa tháng để ăn chay và thực hành hạnh tốt phóng sinh.

Với tất cả tính chất trên, mong mọi người hiểu và hãy bày tỏ lòng mình đến tổ tiên, đến các bậc cha mẹ, các bậc ân sư, ân tình bè neeust đến người thân hay kẻ chẳng may vương víu nghiệp lực buộc ràng vào nhau mà oán ghét, khi mùa Vu Lan “xá tội vong nhân” về; gởi niềm thương tưởng, cầu nguyện tri ân báo đáp đền trả đến tất cả mọi người.

Vu Lan đang về, ngồi viết xuống những dòng này, những mong hồi tưởng đẹp đẽ về ngày Rằm tháng Bảy, bông hông cài áo, chư Tăng chuẩn bị lễ Tự tứ, nhà nhà ăn chay phóng sinh, lập đàn siêu độ đang sống lại trong tôi. Am Thụy Ứng cũng đang trong những ngày lập đàn lễ Phả độ gia tiên của mùa tri ân. Chư tăng ni cùng quý phật tử cùng nhau ngồi lại tụng biến kinh nguyện cầu cho những người thân và cửu huyền thất tổ được âm siêu dương thái. Am Thụy Ứng tiết trời như lành lẽ hơn, linh thiêng hơn trong dòng năng lượng và tâm niệm thương kinh của những người con, người cháu biết lẽ hiếu hạnh, tri ân!

Đẹp quá đi thôi Dân tộc có bề dày Văn hóa ngàn năm tâm linh Đạo Bụt!

Thượng tọa Thích Tâm Hiệp