Hà Nội những ngày này nóng ghê gớm. Nhiệt độ ngoài trời hơn 40 độ C. Những hàng cây xanh giờ không thể tỏa bóng mát được cho những tòa nhà cao tầng, bởi thế cái nóng càng dữ dội. Phố sá vắng ngắt vắng ngơ. Có việc phải di chuyển vào tiết trời này quả là một cực hình. Nhưng biết làm sao với công việc?

Đang đạp xe men sát vỉa hè cố tận dụng những khoảng râm mát hiếm hoi của tán lá tỏa xuống từ hàng cây ven đường, tôi bỗng khững lại. Cái gì kia? Ngay trên hè đường một chiếc xe ba bánh đậu đúng chỗ râm mát nhất. Chủ xe có lẽ là một thương binh đang nằm trên chiếc võng mắc chéo trong lòng thùng xe chở hàng ngủ ngon lành. Võng. Đúng chiếc võng lính tráng dạo chiến tranh được cấp phát để dùng. Loại võng vinilon mỏng tang màu xanh lá. Tôi chấp chới nhìn vào mái tóc bạc trắng của người lái xe. Giấc ngủ võng thật thiên thần làm vợi đi bao nhiêu nắng nóng.

Võng có lẽ là vật dụng gắn bó với tất cả người dân kể cả người thành phố. Dạo còn bé đi sơ tán về quê ngoại. Chiếc võng gai đay đan lối mắt cáo được mắc trên hai thân cột gỗ lim của ngôi nhà ngói năm gian chếch về phía một chái buồng, bao giờ cũng là nơi bà ngoại tôi ngồi. Bà ngồi trên võng rất tài. Không nằm chỉ ngồi đó hầu như cả ngày. Cái khăn mỏ quạ bà chít vắt sang cả bốn mùa xuân hạ thu đông.

Mùa hè, tay bà cầm sợi dây vắt vẻo nối với chiếc quạt phên hình chữ nhật to đến mấy mét vuông được mắc trên trần nhà sát với kèo cột rui mè. Bà vừa kể cho chúng tôi nghe những chuyện cổ tích, thần tiên vừa kéo quạt. Mát lắm. Cả tấm phên rộng tạo ra những luồng gió rười rượi mê lịm. Thi thoảng, bà cho đám trẻ nằm lên võng. Cả mấy đứa lận, lúc nhúc như lợn con. Tay bà kéo quạt và bà ru ơi hời những câu ca dao giờ đã là tài sản hóa thạch trong trí não của những đứa trẻ ngày nào. Chiếc võng với tôi là hình ảnh gần gụi thân thương nhất về bà ngoại với một làng quê Việt thanh bình.

Nằm võng

Võng lính một thời.

Lớn lên giặc giã binh đao, tôi cùng chúng bạn hăm hở vào chiến trường. Tuổi xuân lại trôi đi trong rừng xanh núi đỏ với cánh võng. Mỗi người lính một bộ tăng võng. Võng được may bằng vải kaki hoặc nilon. Dây võng là sợi dù bền chắc không bao giờ đứt. Nhớ những ngày hành quân, đêm dừng binh trạm nghỉ. Rừng đấy cứ thân cây mà mắc. Hai đầu võng thít vào thân cây. Trên võng căng mái tăng lên che mưa hoặc sương đêm. Cũng lại một sợi dây dù thẳng từ đầu này đến đầu kia của võng. Thêm chiếc màn tuyn tránh muỗi và côn trùng sâu bọ. Võng thực sự là một ngôi nhà của mỗi người lính. Mùa mưa nằm võng nghe mưa rơi đọt xuống mái tăng rả rích buồn nẫu người và nhớ nhà không thể tả hết. Nhớ những cơn sốt rừng nằm bết bệt tưởng chết trên võng, ước ao một ngày trở về.

Hòa bình, hết chiến trận, về nhà tôi mắc chứng nhớ võng. Nằm giường cứng lưng đau như dần không thể ngủ. Chỉ chiếc võng vải mềm mại đỡ lưng êm ái mới ngủ được. Cái thói quen tưởng không thể bỏ ấy rồi cũng bị cuộc sống cuốn đi vùi vào quên lãng. Chẳng ngôi nhà thành phố nào dạo ấy có thể chứa được cánh võng cách rách. Tôi cuộn lại tấm tăng và chiếc võng cất vào ba lô thành kỷ vật.

Cuộc sống dần trôi, tiện nghi là đệm mút, là giường là nệm. Tôi chuyển nhà mấy lần. Chiếc ba lô thất lạc để không bao giờ còn được nằm trên cánh võng lính tráng ấy nữa. Đi nhiều về nông thôn cũng thấy ít nhà còn dùng võng. Những ngôi nhà ngói cũng lặng lẽ biến mất để thay vào là mái bằng là nhà tầng. Võng bị đẩy dần ra ngoài cuộc sống. Tôi đã tưởng thế.

Nằm võng

Võng thời thị trường.

Nhưng không phải. Dạo đạp xe xuyên Việt, tôi lại được trở về với những cánh võng. Từ Trung Bộ hắt vào hai bên đường quốc lộ dày đặc những quán có võng chăng. Một khu vườn, một ngôi nhà làm quán, mắc lên những dãy võng thành hàng. Khách của quán võng này đủ loại. Một chiếc xe khách cũng có thể nhả xuống lốc nhốc người ngả lưng tạm trong thời gian nghỉ ăn uống. Thi thoảng có một chiếc xe con có đám đàn ông nghiện thuốc. Mươi lăm phút ngả lưng cùng cốc cà phê, điếu thuốc. Nhiều nhất là khách đi xe máy. Quán võng nghỉ ngơi giấc trưa hay cả một đêm dài.

Vào đến tận Cà Mau, tôi vẫn được thụ hưởng quán võng. Đôi khi khách lẳng lặng đến, ngủ một giấc rồi lẳng lặng đi, chủ quán không bao giờ so bì hơn thiệt. Những chuyến đi dài như xuyên Việt nếu không có những quán võng trú chân chắc khó thành hiện thực.

Giấc ngủ trên võng của người chủ xe ba bánh thật sự lay động tôi. Để trong chốc lát được quay về với những cánh võng đã chao gần trọn cuộc đời. Bây giờ có những hãng lớn chuyên sản xuất võng có giá bằng sắt tiện lợi gập lại được. Nhưng nằm trong cái võng xếp ấy tôi không có cảm giác thích thú. Tự nhiên ước một ngày được trở lại với ngôi nhà năm gian cùng cánh võng với lời ru tha thiết của bà ngoại...