Reatimes.vn
CƠ QUAN NGÔN LUẬN CỦA HIỆP HỘI BĐS VIỆT NAM

28/01/2020, 12:58 GMT+7

Triển vọng các ngân hàng niêm yết năm 2020

Reatimes.vn Chất lượng tài sản được cải thiện với việc xử lý nợ VAMC và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng, bên cạnh việc đáp ứng chuẩn về quản trị rủi ro sẽ là một lợi thế không nhỏ cho các ngân hàng năm nay.

Đầu năm 2020, các nhà phân tích đã đưa ra báo cáo triển vọng đầu tư năm 2020, trong đó đề cập khá sâu về lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng đã niêm yết trên sàn chứng khoán.

Theo báo cáo của Công ty chứng khoán Rồng Việt (VDSC), từ cuối năm 2019 hoặc đầu năm 2020, nhiều quy định mới về lãi suất, an toàn vốn, huy động, tài chính tiêu dùng đi vào hiệu lực và sẽ có những tác động đa chiều tới các ngân hàng.

Trong đó, Quy định về việc giảm lãi suất tiền gửi đối với một số kỳ hạn ngắn và lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên (từ tháng 11/2019) có thể có tác động trước mắt rất khác nhau phụ thuộc vào chính sách cụ thể của từng ngân hàng. Dù vậy về lâu dài, do mục tiêu giảm mặt bằng lãi suất của chính phủ, nên khả năng mở rộng lợi tức tài sản của các ngân hàng sẽ trở nên hạn chế hơn.

Các yêu cầu về an toàn vốn mới (theo Thông tư 41/2016-TT-NHNN hoặc Thông tư 22/2019-TTNHNN) và việc giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (Thông tư 22/2019-TT- NHNN) đặt ra yêu cầu chặt chẽ hơn về vốn và huy động do đó dự kiến sẽ hạn chế khả năng mở rộng NIM của các ngân hàng. Tác động của các quy định này sẽ mạnh hơn đối với các ngân hàng có bộ đệm vốn mỏng (như VietinBank) hay tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cao (như VIB và Techcombank).

Việc áp dụng tỷ lệ LDR tối đa mới đồng bộ ở mức 85% cho tất cả các ngân hàng (Thông tư 22/2019-TT-NHNN) sẽ cho phép các ngân hàng tư nhân có thêm cơ hội đẩy mạnh tỷ lệ này (so với mức ngưỡng tối đa 80% trước đây) để cải thiện NIM. Trái lại, việc giảm tỷ lệ LDR tối đa đối với các ngân hàng quốc doanh từ 90% xuống 85% dự kiến sẽ khiến các ngân hàng này phải kiềm chế tín dụng hoặc đẩy mạnh huy động, theo đó làm ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng và biên lãi ròng.

Quy định về việc chuyển số dư tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại về NHNN vào cuối mỗi ngày (Thông tư 58/2019/TT-BTC) nhiều khả năng sẽ ảnh hưởng đến chi phí huy động của các ngân hàng quốc doanh, nơi có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước cao.

Quy định quản lý chặt chẽ hơn hoạt động cho vay của các công ty tài chính tiêu dùng (Thông tư 18/2019/TT-NHNN), theo đó giảm dần tỷ lệ giải ngân trực tiếp cho khách hàng (có số dư nợ giải ngân trực tiếp tại công ty tài chính tiêu dùng đó trên 20 triệu đồng) về 30% kể từ năm 2024. Chúng tôi cho rằng tác động của Thông tư 18 sẽ chưa đáng kể trong ngắn hạn, dù trong dài hạn nhiều khả năng sẽ có ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng và biên lãi ròng của các công ty tập trung cho vay tiền mặt như FE Credit và MCredit.

Tựu chung lại, các nhà phân tích của VDSC cho rằng các quy định mới của NHNN sẽ hạn chế khả năng mở rộng biên lãi ròng của các ngân hàng quốc doanh (VietinBank nhiều khả năng bị ảnh hưởng nhiều nhất) trong khi tác động tới các ngân hàng tư nhân sẽ là đa chiều do đó sẽ có mức độ ảnh hưởng nhẹ hơn (ACB và HDBank nhiều khả năng là những ngân hàng ít bị ảnh hưởng nhất).

Liên quan hoạt động lõi là tín dụng, các nhà phân tích của VDSC kỳ vọng rằng các ngân hàng còn khả năng mở rộng tài chính tiêu dùng (MBB, HDB) vẫn có cơ hội cải thiện NIM hơn nữa vào năm 2020. Tuy vậy, cơ hội cho tất cả các ngân hàng đều có khi tăng trưởng tín dụng được duy trì tích cực, bởi vì (1) cho vay vẫn là nguồn thu nhập chính của các ngân hàng và (2) mở rộng tín dụng sẽ cho phép các ngân hàng bán chéo sản phẩm của họ (thẻ, thanh toán, bảo hiểm, dịch vụ trái phiếu…), từ đó đẩy mạnh thu nhập dịch vụ.

Riêng đối với các ngân hàng quốc doanh, mặc dù dự kiến sẽ gặp thêm nhiều khó khăn về NIM, nhưng khó khăn về vốn cũng đang có khả năng được tháo gỡ nhờ (1) việc bổ sung thêm các ngân hàng quốc doanh vào danh sách đối tượng có thể được tăng vốn từ ngân sách nhà nước (theo dự thảo Nghị định 126/2017/NĐ-CP và 32/2018/NĐ-CP và (2) việc giảm giới hạn sở hữu nhà nước từ 65% về 51% (theo Chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025), dù thời gian hiệu lực còn chưa được xác định rõ.

Ở mảng dịch vụ, các nhà phân tích cho rằng thu nhập sẽ tiếp tục mở rộng, chủ yếu được thúc đẩy bởi bancassurance. Trong số các hoạt động dịch vụ mà các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh như bancassurance, giao dịch, bảo lãnh, dịch vụ trái phiếu, môi giới..., bancassurance là động lực chính thúc đẩy thu nhập dịch vụ, đặc biệt là mảng phân phối bảo hiểm nhân thọ (BHNT). Doanh thu phí mảng BHNT qua kênh ngân hàng đã tăng rất mạnh với tốc độ bình quân 86% mỗi năm trong giai đoạn 2016-2018, đưa tỷ trọng đóng góp vào tổng thu nhập phí BHNT lên cao và còn đang tiếp tục tăng). VDSC tin rằng mảng BHNT sẽ còn tiếp tục thâm nhập sâu với mức tăng trưởng tốt và đo đó, sẽ thúc đẩy tăng trưởng thu nhập từ bancassurance của các ngân hàng trong thời gian tới.

Thời gian qua đã chứng kiến thu nhập dịch vụ tăng mạnh nhất tại VIB và VPBank, tiếp theo là TPBank, VietinBank và MBBank. Trong khi đó, BIDV và HDBank có tăng trưởng thu nhập dịch vụ thấp hơn do thiếu động lực thúc đẩy không chỉ trong hoạt động bancassurance, mà trong cả hoạt động thanh toán. Các nhà phân tích kỳ vọng rằng Vietcombank và ACB sẽ là những ngân hàng tiếp theo có sự tăng trưởng đáng kể trong trong thu nhập từ bảo hiểm hàng năm, nhờ các thỏa thuận bancassurance mới được ký kết trong năm 2019 (VCB ký độc quyền với FWD vào tháng 11; ACB ký không độc quyền với Manulife vào tháng 9 và FWD vào tháng 12).

Không giống với xu hướng chung của các ngân hàng khác, thu nhập dịch vụ tại Techcombank đang có mức tăng trưởng khá thấp, do việc áp dụng các chính sách như miễn phí (zero fee) và hoàn tiền không giới hạn. Xu hướng miễn phí dịch vụ đang dần trở nên phổ biến hơn với sự tham gia của VIB, TPBank và ACB, nhằm hỗ trợ mục tiêu thu hút CASA dưới áp lực gia tăng của chi phí vốn. Do đó, các nhà phân tích của VDSC ước tính rằng trong trung hạn tăng trưởng thu nhập từ thanh toán của nhiều ngân hàng sẽ thấp hơn, mặc dù xu hướng về thanh toán không dùng tiền mặt đang tiếp tục lan rộng.

Mặt khác, các ngân hàng có thể có thêm nguồn tăng thu nhập dịch vụ từ phí bảo lãnh phát hành và phân phối trái phiếu. Về mặt này, Techcombank hiện có lợi thế dẫn đầu về thị phần, nhưng MBBank và TPBank cũng là những ngân hàng có tiềm năng thúc đẩy hoạt động này. Với thỏa thuận bancassurance độc quyền cùng FWD, Vietcombank có thể thu về một khoản thu nhập bất thường lớn trong một vài năm tới. Các ngân hàng khác như BIDV và ACB cũng đang tìm kiếm đối tác bảo hiểm nhân thọ độc quyền, và do đó, cũng có thể nhận được những khoản trả trước cao mặc dù các giao dịch này khó có thể hoàn tất trong ngắn hạn.

Chất lượng tài sản được cải thiện với việc xử lý nợ VAMC và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng Tính đến hết năm 2019, nợ xấu nội bảng đã xuống dưới 2% nhưng tổng tỷ lệ nợ xấu, VAMC và nợ tiềm ẩn so với tổng tín dụng đã giảm dần xuống còn 4,89% từ 5,85% trong năm 2018. VCSC cho rằng đây là tín hiệu tích cực về nỗ lực xử lý nợ xấu trong hệ thống.

Việc xử lý nợ VAMC vẫn đang tiến triển khá tốt. Trong hai năm từ tháng 8/2017 đến tháng 8/2019, với việc Nghị quyết 42 có hiệu lực, đã có tổng số 236,8 ngàn tỷ (10.296 triệu USD) nợ VAMC được xử lý, tương đương với số nợ trung bình mỗi tháng 9,6 ngàn tỷ (417 triệu USD), hơn gấp đôi số nợ xử lý trung bình mỗi tháng trong giai đoạn 2012-2017. Đặc biệt, các ngân hàng đã tất toán hết nợ VAMC còn lại trong năm 2019, do đó, tỷ lệ chi phí dự phòng so với thu nhập hoạt động dự kiến sẽ giảm vào năm 2020 (đến cuối năm 2019 có 11 ngân hàng sạch nợ tại VAMC – pv).

Trong khi đó, với một phần nhỏ nợ VAMC còn lại, BIDV và HDBank sẽ vẫn phải trích lập một khoản dự phòng cho VAMC trong năm 2020, dù có thể thấp hơn nhiều so với năm 2019. Về phía VietinBank, với số dư VAMC ròng lớn ở mức trên 8 nghìn tỷ vào quý 3/2019 (0,9% dư nợ), gánh nặng dự phòng dự kiến sẽ tiếp tục đáng kể vào năm 2020 dù ngân hàng đã nỗ lực xử lý được 25% dư nợ VAMC trong 9 tháng đầu năm trước (là số liệu mới nhất). Do vậy những ngân hàng này sẽ có ít lợi thế hơn.

Ngoài ra, do sự tăng trưởng nhanh chóng của cho vay bán lẻ và tiêu dùng gần đây, tỷ lệ nợ xấu của một số ngân hàng như MBBank và TPBank đã dần tăng lên. VDSC nhận thấy xu hướng này đã bắt đầu từ năm 2018, và đang tiếp tục trong năm 2019. Do đó, chi phí dự phòng cho nợ nội bảng của các ngân hàng này dự kiến sẽ tăng đáng kể vào năm 2020.

Nếu không tính đến các khoản thu nhập hoặc chi phí bất thường thì Chi phí trên thu nhập (CIR) đã cải thiện trong năm qua và xu hướng này có thể tiếp tục vào năm 2020, nhưng mức độ cải thiện dự kiến không đáng kể khi các ngân hàng vẫn cần tiếp tục đầu tư vào ngân hàng số để đáp ứng xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt. VDSC cho rằng BIDV sẽ là ngoại lệ khi CIR dự kiến sẽ tăng nhiều trong hai năm tới do việc tập trung nâng cấp hệ thống ngân hàng cốt lõi của họ.

Bất chấp những thách thức trong việc giảm CIR trong thời gian tới, nhưng các nhà phân tích vẫn tin rằng về lâu dài các ngân hàng vẫn sẽ nâng cao được hiệu quả hoạt động, bắt đầu từ các ngân hàng đầu tư mạnh vào quá trình chuyển đổi số, bao gồm VPBank, Techcombank, TPBank và ACB.

Trong các ngân hàng đã niêm yết, VDSC kỳ vọng thu nhập sẽ tăng 16,0% và lợi nhuận sẽ tăng 23,7% trong năm 2020, với chi phí dự phòng gần như không đổi và chi phí hoạt động tăng 20%. Tất cả các ngân hàng này, không tính VietinBank, sẽ có thể đạt tăng trưởng lợi nhuận ít nhất 15%.

Về cổ phiếu, hiện tại mức định giá thấp (PB dự phóng 2020 ở mức 0,9 - 1,2 lần) và khả năng sinh lời cao (ROE dự phóng 2020 từ 20 - 24%) sẽ là lợi thế của các cổ phiếu ngân hàng. VPB và BID là các cổ phiếu mà VDSC tỏ ra ưa thích nhất.

Trong đó VPBank được đánh giá cao nhờ việc công ty con trong mảng tài chính tiêu dùng là FE Credit đã phục hồi kể từ đầu năm 2019. Và các nhà phân tích tin rẳng FE Credit sẽ đóng góp lần lượt khoảng 60% và 51% vào thu nhập lãi ròng hợp nhất và lợi nhuận sau thuế hợp nhất. Với việc mở rộng cho vay thẻ tín dụng và hợp tác phân phối bancassurance độc quyền với AIA, phí từ phân phối bảo hiểm nhân thọ và phí thanh toán sẽ là động lực tăng trưởng cho thu nhập dịch vụ của VPBank.

Còn BIDV là một ngân hàng quốc doanh đã có nhiều tiến triển tích cực trong quá trình tái cơ cấu dù mức tăng trưởng lợi nhuận khá khiêm tốn trong năm 2019. Cổ phiếu đang được giao dịch ở mức PB dự phòng 2020 2,0 lần, cao hơn so với các ngân hàng khác (ngoại trừ Vietcombank). Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng BID xứng đáng với mức PB này do tiềm năng tăng trưởng được dự báo sẽ tốt hơn đáng kể sau thành công của thương vụ phát hành cho đối tác chiến lược Keb Hana Bank (KHB) và sau khi xử lý hết nợ VAMC. VDSC thậm chí ước tính LNST của BIDV sẽ đạt tăng trưởng kép hàng năm ở mức 30% trong giai đoạn 2019- 2022 và ROE sẽ tiệm cận mức 18% trong ba năm tới.

Các nhà phân tích đưa ra 3 rủi ro mà ngành ngân hàng sẽ gặp phải. Đầu tiên là tiến độ tích cực trong việc thu hồi nợ xấu và nợ VAMC có thể giảm gánh nặng chi phí dự phòng hơn nhiều so với kỳ vọng của chúng tôi. 

Hai là định hướng của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay đi kèm với các quy định quản lý chặt chẽ hơn có thể ảnh hưởng đến NIM mạnh hơn so với chúng tôi kỳ vọng. Và ba là ngành xây dựng và bất động sản rơi vào chu kỳ tăng trưởng thấp hoặc suy thoái.

Bạn đang đọc bài viết Triển vọng các ngân hàng niêm yết năm 2020 tại chuyên mục Tài chính - Ngân hàng của Tạp chí Bất động sản Việt Nam. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng gửi về hòm thư batdongsantapchi@gmail.com

Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự


TOP