Nếu Tết đến, chúng ta cứ hình dung, chúng ta không cần về quê thăm mộ vào những ngày cuối năm để dâng lễ Tổ tiên và người thân của chúng ta đang yên nghỉ. Chúng ta không cần thiết phải về quê cha đất tổ nhà thờ họ tộc nội ngoại thăm viếng dâng lễ trước Tết. Chúng ta không cần thiết phải làm bánh chưng bánh dày và sửa soạn trên ban thờ gia tiên, sắm các vật dụng dâng cúng Tổ tiên, lau chùi đèn đồng đĩa mứt. Chúng ta không cần thiết phải sắm một cành đào, cành mai để đón xuân làm đẹp không gian gia đình, trong không gian đó dường như có ông bà Tổ tiên về cùng ăn Tết. Chúng ta không cần cúng lễ giao thừa và hương tỏa đèn rạng trên ban thờ mâm cúng giữa trời khi phút giây chuyển giao của đất trời linh thiêng. 

Và, trên tất cả, giây phút đó ta chỉ vui đùa nâng ly thỏa thích chúc tụng giữa tiếng rượu chè hoan ca mà không cần lắng lòng trong sáng trong hương thơm trầm quyện tỏa giao hòa nghĩ về điều linh thiêng, những ước vọng kiếp sống, những hoài bão bao đời cha ông, giống nòi gởi gắm, nghĩ về người thương ta đã khuất… Nhiều và nhiều những tập quán lâu đời tốt đẹp đó đã làm nên bản sắc văn hóa Việt. Thử hỏi, khi đó cái Tết của tộc người Việt sẽ thế nào?

Người Việt từ ngàn xưa đã thấy rằng, con cháu đang sinh sống không tồn tại biệt lập với Tổ tiên, giống nòi, thiên nhiên và đồng loại. Vì vậy, tôn trọng giá trị nhân sinh của dân tộc ta từ hai chữ "đồng bào", đã chuyên chở bao nhận thức về cuộc sống, là tương tồn, tất cả là anh em cần đùm bọc, bảo vệ lẫn nhau để cùng tồn tại trên một đất nước.

Câu nói "đất có Thổ công sông có Hà bá" là cái nhìn chứa đựng sự hiểu biết về chủ quyền quyết định tương sinh nằm ở "Trái đất và Nguồn nước" mà con người cần phải tôn trọng đúng mức nếu muốn tồn tại.

Thái độ của con người khi tôn trọng sự sống, cụ thể là tôn trọng sinh môi và con người đã được Tổ tiên chúng ta gọi trong một từ: Lễ. Lễ là thái độ sống ứng xử, từ nhận thức chân thành và tôn trọng đặt trên nền tảng của lòng biết ơn.

Lễ Tết là một từ đầy đủ nhất để nói lên văn hóa tộc Việt và ngày Tết. Chúng ta đón Tết bằng Lễ. 

Nhà, như chúng tôi đã nói, trong quan niệm người Việt không chỉ là nơi có con cháu (người đang sống) ở, mà còn là nơi Tổ tiên (người đã khuất) ngự (ở).

Nên, ngày xuân đến, trồng một cụm hoa, làm một món bánh, sắp một đĩa quả, cắm một cành đào hay thắp một nén hương, tất cả là giao thoa hòa quyện giữa hai cõi âm dương, hiện tại với quá khứ.

Tết có tục xông đất, nghĩa là mừng rỡ khi có có người khách đầu tiên trong năm đến thăm nhà. Tục hiếu khách, trọng thị của người Việt là từ đó. Tục hái lộc đầu xuân cho ta biết nâng niu quý trọng ân huệ của thiên nhiên đất trời ban tặng mà tìm cách gìn giữ. Còn nhiều những lễ tục khác, gửi gắm bao nhiêu giá trị nhân bản, như tục đi lễ chùa trẩy hội, tục thăm hỏi mừng tuổi, tục khai bút, xin chữ và tục đưa tiễn ông táo, tục dựng cây nêu trước ngõ...

Bao nhiêu tục lệ là bấy nhiêu nét đẹp văn hóa của đời sống dân tộc và thiên nhiên phô diễn hết trong dịp Tết, xoay quanh cái cốt tủy của Lễ, hướng về nguồn cội, nâng cao giá trị sum họp đầm ấm giao hòa của một đất nước nặng tình nghĩa, trọng hiếu nghĩa.

Nếu có văn minh, một nền văn minh thực sự Việt, thì đó là nền văn minh được xây dựng trên Lễ và Lễ Tết, điều kiện tốt cho thời gian và không gian biểu hiện cao nhất, đầy đủ nhất, đẹp nhất của nền văn minh đó.

Đạo lý "uống nước nhớ nguồn", từ đó mà càng được khơi dòng, góp sức vào sự phát triển thịnh vượng của thời đại ta đang sống hiện nay. 

Thượng tọa Thích Tâm Hiệp

Bạn đang đọc bài viết Uống nước nhớ nguồn và tục lễ tết của người Việt  tại chuyên mục Viết ngắn của Tạp chí Bất động sản Việt Nam. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng gửi về hòm thư batdongsantapchi@gmail.com