Để "đánh thức" công cuộc kiến tạo văn hóa đô thị Việt Nam
Tôi là một người không sinh ra từ đô thị nhưng sống trong đô thị. Quan sát thấy đời sống đô thị ở nước ta hiện nay ngày càng phồn hoa là điều rất đáng mừng, nhưng dường như chất lượng cuộc sống lại ngày một kém đi, tôi tự đặt ra nhiều câu hỏi, mà nhiều câu chẳng dễ trả lời.
Mãi cho tới khi được đọc cuốn sách “Đô thị vị nhân sinh” của vị Giáo sư đáng kính Jan Gehl, người Hà Lan, tôi mới tìm ra được nhiều câu trả lời thỏa đáng, và cũng gợi ra cho tôi nhiều suy nghĩ về đô thị Việt Nam hiện nay, đặc biệt vấn đề làm thế nào để con người có được một cuộc sống hạnh phúc nơi đô thị.
❃ ❃ ❃
Ảnh: Bùi Văn Doanh
Việt Nam nằm trong nhóm các nước đang phát triển và bởi vậy, chịu sức ép của rất nhiều vấn đề: Trình độ và năng lực quản trị xã hội chưa cao, gia tăng dân số, nạn tàn phá thiên nhiên, biến đổi khí hậu, trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ chưa cao, thu nhập bình quân đầu người thấp; ý thức về pháp luật, văn minh văn hóa của người dân còn hạn chế… Cho nên việc quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị trở nên hết sức nan giải. Tuy nhiên, đây là việc không thể không làm, mà cần thiết phải làm, cần tiến hành ngay từ đầu, cùng lúc với quy hoạch mọi lĩnh vực khác.
Vì nhiều lý do khác nhau, chúng ta đang thấy các di sản kiến trúc truyền thống gồm kiến trúc cổ (gốc bản địa) và kiến trúc cũ (của nước ngoài, chủ yếu thời Pháp thuộc) đang bị hư hại hoặc bị con người phá hủy.
Chúng ta đang chứng kiến ở nhiều nơi tình trạng quy hoạch, xây dựng và kiến trúc vô tội vạ, chồng lấn, nham nhở, theo hướng phá hỏng không gian, cả không gian trung tâm lẫn không gian phụ cận. Các khu đô thị mới có thể quy mô rất lớn, hoành tráng, nhưng đâu đó vẫn còn những công trình rời rạc, khép kín, thiếu sự giao tiếp và thiếu thân thiện với con người bởi không có đủ những điểm gặp gỡ, vui chơi, sinh hoạt, chia sẻ đường phố; không có nhiều khách bộ hành hay người đạp xe… Yếu tố cuộc sống con người của đô thị chưa thực sự được coi trọng.
Trong khi đó, các đô thị lớn của chúng ta vẫn đang rơi vào tình trạng bế tắc về giao thông, càng loay hoay giải quyết lại càng ùn tắc và mức độ tai nạn chẳng mấy suy giảm. Con người đô thị phần lớn lấy xe máy làm phương tiện chính, người trung lưu trở lên thì đi ô tô, chỉ có người thu nhập thấp đi xe đạp, người dân càng ngày càng lười đi bộ; nếu muốn đi xe đạp hoặc đi bộ cũng chưa được tạo điều kiện đầy đủ về cơ sở hạ tầng, thậm chí có tâm lý sĩ diện hão cho rằng đi xe đạp là nghèo hèn, đi ô tô mới là sang chảnh…
Sống trong đô thị, người dân phải đối diện với nhiều vấn đề của đô thị: Kẹt xe, tắc đường; ô nhiễm bụi, tiếng ồn, nguồn nước, nguồn thực phẩm; nạn xả rác bừa bãi, xây dựng vô tội vạ, nhiều di tích cảnh quan bị xâm hại, tàn phá với ngàn lẻ một lý do…
Sống trong đô thị, người dân phải đối diện với nhiều vấn đề của đô thị. (Ảnh: Bùi Văn Doanh)
Ô nhiễm không khí ở Hà Nội. (Ảnh: Bùi Văn Doanh)
Trên thực tế, chúng ta chưa thực sự xây dựng được một văn hóa đô thị, trong đó có “văn hóa xe đạp”, “văn hóa đi bộ”, những khái niệm trở đi trở lại nhiều lần như một kêu gọi khẩn thiết trong công trình nghiên cứu của Giáo sư Jan Gehl.
Cuốn sách “Đô thị vị nhân sinh” của ông không phải là một công trình nghiên cứu hàn lâm, mà là một công trình nghiên cứu thực tiễn, hướng vào vấn đề quy hoạch kiến trúc và phát triển đô thị hiện đại. Thoạt nghe, nhiều người nghĩ đây là cuốn sách chỉ dành riêng cho ngành kiến trúc và xây dựng. Xin nói ngay, do không phải là người có chuyên môn về các ngành này, nên tôi đọc công trình dưới góc nhìn của một người nghiên cứu văn hóa và con người nói chung.
Tác giả Jan Gehl là người có triết lý về quy hoạch đô thị được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt, chỉ đạo mọi suy tưởng, diễn giải và đề xuất của ông, đúng như tên gọi của cuốn sách: “Đô thị vị nhân sinh”.
Như chúng ta biết, triết lý chính là một quan niệm xương sống có ý nghĩa chỉ đạo, tập hợp và thống nhất toàn bộ diễn giải và thực hành của con người về một hoạt động nào đó. Nếu không có triết lý, mọi suy nghĩ và thực hành sẽ trở nên hỗn độn, phân tán, manh mún, tùy tiện. Khi một chương trình, một dự án có triết lý, tức là có tư tưởng, sẽ có giá trị soi sáng, nhất quán, mạch lạc và độc đáo.
Vậy thì “đô thị vị nhân sinh” có phải là một cách nói hoa mỹ? Người ta có thể lập luận: Đô thị nào chẳng là đô thị vì con người, cho con người; không vì/cho con người thì vì/cho cái gì? Thực ra không đơn giản như vậy. Khi bước vào chủ nghĩa hiện đại trong quy hoạch đô thị và kiến trúc từ những năm 50 của thế kỷ XX, hầu hết các đô thị trên thế giới quy hoạch và phát triển vì và chỉ vì… giao thông cơ giới, sau đó là vì các tòa cao ốc và siêu đô thị. Kết quả là, càng quy hoạch ưu tiên cho giao thông cơ giới thì phương tiện giao thông cơ giới ngày càng tăng, nạn tắc nghẽn giao thông ngày càng tệ hại, kéo theo vô vàn hệ lụy về an ninh, sức khỏe, kinh tế, văn hóa, xã hội; cũng thế, càng vì các công trình, càng dẫn đến một đô thị xa cách, thiếu thân thiện với con người, thậm chí không có một cuộc sống đô thị đúng nghĩa. Tất cả đều phụ thuộc vào quan niệm, triết lý của các nhà quy hoạch.
Trong khi đó, con người chính là linh hồn đô thị, làm nên cuộc sống đô thị. Mọi quy hoạch và thiết kế không vì cuộc sống hằng ngày của con người đô thị chắc chắn sẽ thất bại. “Đô thị vị nhân sinh” chính là một triết lý của đô thị, có ý nghĩa toàn cầu, có khả năng khai sáng và truyền cảm hứng cho tất cả những ai sống đời đô thị, quan tâm tới quy hoạch và kiến trúc đô thị.





Nhiều quốc gia châu Âu như Pháp, Hà Lan, Bỉ, Ý… ưu tiên đầu tư hạ tầng dành cho người đi bộ và xe đạp. (Ảnh: Bùi Văn Doanh)
Thế nào là một đô thị vị nhân sinh? Bằng sự nghiên cứu dựa trên các quan sát trực quan, thống kê và phân tích, không bỏ qua nghiên cứu cuộc sống của các cư dân đô thị điển hình trên toàn thế giới một cách tinh tế và sắc sảo, Giáo sư Jan Gehl đã đưa ra một mô hình đô thị vị nhân sinh với 4 điểm cốt lõi: Sống động, An toàn, Bền vững, Lành mạnh.
“Thành phố sống động” là một đô thị thực sự có “cuộc sống đô thị”, nơi con người được đi bộ, đi xe đạp, muốn được lưu trú, được tôn trọng, được tham gia vào các hoạt động đường phố một cách chủ động, hứng thú và an toàn. Một đô thị thưa vắng người đi bộ, đạp xe, ít tham dự vào cuộc sống đô thị một cách hiện sinh; một đô thị khiến cư dân thích đóng cửa ở nhà hơn là muốn ra đường; một đô thị với không gian quá lớn, kiến trúc quá đồ sộ, khoảng cách di chuyển quá xa, hai bên đường khép kín và tẻ nhạt, ít hoặc không có cây xanh đồng nghĩa với việc quy hoạch ưu tiên cho xe hơi… sẽ là đô thị “chết”, tẻ nhạt, không vì con người, con người bị đẩy lùi xuống hàng thứ yếu. Dĩ nhiên, một đô thị mật độ dân số cao, trong khi đó quy hoạch kém, cũng lại là đô thị không chất lượng. Vấn đề đặt ra ở đây là chất lượng không gian đô thị. Một quy hoạch không gian từ đường phố, vỉa hè, quảng trường, nhà ở, công viên, bảo tàng… nếu tiến hành tốt, cư dân sẽ có hứng thú tham gia vào cuộc sống đô thị, và chính họ làm nên một đô thị sống động, một đô thị thực sự có đời sống hiện hữu.
“Thành phố an toàn” được hiểu trước hết là an toàn về giao thông. Từ những năm 50 của thế kỷ trước, sự phát triển và xâm lấn của xe máy, xe hơi đã tấn công vào đô thị, ngày càng trở thành nỗi sợ hãi của con người. Tham khảo từ cuộc sống của các thành phố truyền thống như Venice, Ý (nơi duy trì một chính sách đã có từ lâu, đó là tất cả các cư dân và du khách đều đi bộ, một chính sách nhất quán và bền vững ưu tiên hàng đầu cho chất lượng thành phố), tinh thần nhất quán của tác giả công trình nghiên cứu này là khuyến khích và tạo điều kiện tốt nhất cho cư dân đi bộ và xe đạp, bất kể đó là ai. Khi chính sách này được thực hiện, các nghiên cứu và ứng dụng sẽ đầu tư tốt nhất cho không gian vỉa hè dành cho người đi bộ, làn đường dành riêng cho người đi xe đạp, giải quyết xung đột giữa các loại phương tiện… Dĩ nhiên không thể tất cả các cư dân đô thị đều đi bộ và đi xe đạp, mà quan trọng nhất là duy trì tốt một tình trạng giao thông hỗn hợp, ưu tiên tốt nhất cho những người đi bộ và xe đạp, chứ không phải cho xe cơ giới như lâu nay (từ phân làn, biển hiệu, chỉ dẫn, trạm đỗ, đến ý thức của mỗi người). Thành phố Copenhagen của Đan Mạch hiện nay đứng hàng đầu thế giới và trở thành mẫu mực về một thành phố xe đạp, với con số đáng kinh ngạc: Từ năm 2008, đã có đến 37% số người làm tại công sở đi xe đạp.
Thành phố an toàn còn được hiểu về mặt an ninh. Mỗi một người trong bất kỳ thời gian nào khi xuống đường, đi bộ, đi xe đạp trên không gian đô thị sẽ cảm thấy thanh bình, được bảo vệ, tin cậy và không rơi vào cảm giác hoang mang, lo sợ. Điều này không chỉ liên quan đến an ninh xã hội, mà còn liên quan đến quy hoạch đô thị như bố trí ánh sáng hợp lý, cấu trúc địa phận và đường phố mạch lạc, thân thiện; thay vì tình trạng tăm tối, rối loạn, hoang vắng, cỏ dại hay các ngõ ngách u ám…
Copenhagen (Đan Mạch) được mệnh danh là thành phố xe đạp. (Ảnh: visitcopenhagen.com)
“Thành phố bền vững” hướng đến việc đi bộ và đi xe đạp như một hứng thú, tự nguyện, nó ngược lại với những người chỉ thích ngồi sau vô-lăng xe hơi và máy tính. Mục đích của đi bộ và xe đạp là hướng tới hình thức vận chuyển giá rẻ, yên tĩnh, không gây ô nhiễm; chống nguy cơ cạn kiệt năng lượng, tránh phá hủy môi trường, tài nguyên, sức khỏe; chống ùn tắc giao thông, giảm ô nhiễm dạng hạt và lượng khí thải carbon… Theo lập luận của tác giả, hình thức đi bộ và xe đạp là bước quan trọng tiến tới mô hình đô thị bền vững. Tác giả đưa ra con số: Hai làn đường xe đạp rộng 2 mét đủ cho 10.000 người đi xe đạp/giờ; trong khi đó một đường 2 làn di chuyển hai chiều chỉ phục vụ 1.000 - 2.000 ô tô/giờ; và một chỗ đỗ xe hơi có thể để 10 chiếc xe đạp. Một đô thị bền vững là nơi có không gian đô thị hợp lý, ưu tiên cho đi bộ, xe đạp và giao thông công cộng, các nhóm xã hội được tham gia và hưởng lợi bình đẳng về các cơ sở hạ tầng.
Cuối cùng là “Thành phố lành mạnh”. Đó là thành phố có chính sách sức khỏe tốt như: Chống tình trạng béo phì (nhiều nhất ở Mỹ hiện nay), tạo điều kiện khuyến khích cư dân rèn luyện thể chất hằng ngày, tăng cường đi bộ và xe đạp, tránh tập trung quá nhiều thời gian vào tay lái xe hơi và máy tính, hứng thú tham gia quan sát, cảm nhận, giao tiếp và hưởng thụ cuộc sống đô thị sống động… Giáo sư Jan nói: “Một quả táo mỗi ngày để không phải gặp bác sĩ” là một khẩu hiệu sức khỏe đã được tuyên truyền bấy lâu nay. Còn lời khuyên của ngày hôm nay cho cuộc sống lành mạnh là: “Hãy đi bộ 10.000 bước mỗi ngày”.
Vậy để đạt được mô hình đô thị như trên, giới quy hoạch và phát triển đô thị phải quan tâm tới những vấn đề gì? Cuốn sách đã chỉ ra 2 nguyên tắc tối quan trọng: (i) Tổ chức một “Đô thị ngang tầm mắt” (chất lượng cho các quy mô nhỏ trong không gian đô thị vừa tầm quan sát nhìn ngắm của con người, đô thị thích hợp để đi bộ, thích hợp để du khách lưu lại, thích hợp để gặp gỡ, để thể hiện bản thân, vui chơi và tập luyện; địa điểm tốt, tỷ lệ đẹp; thời tiết đẹp; để trải nghiệm thú vị, để thích hợp đi xe đạp); và (ii) Quy hoạch đô thị tuân thủ trật tự ưu tiên: Cuộc sống con người, không gian và sau cùng mới là các công trình cụ thể.
Rốt cục, yếu tố con người là hạt nhân trung tâm, làm hệ quy chiếu cho toàn bộ quy hoạch và xây dựng đô thị trong hôm nay và ngày mai. Đô thị vì con người, đó là triết lý đô thị, là tinh thần lan tỏa và vẫy gọi từ công trình nghiên cứu xuất sắc này.
Một đô thị bền vững là nơi có không gian đô thị hợp lý, ưu tiên cho đi bộ, xe đạp và giao thông công cộng. (Ảnh: Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP.HCM)
Tại Việt Nam, để xây dựng được một đô thị vì con người, một văn hóa đô thị hiện đại, cần phải có một nhận thức chung và một chương trình hành động căn cơ, cụ thể, kiên nhẫn và tỉ mỉ của tất cả các thành phần xã hội. Nhưng trong tình hình cần kíp hiện nay, theo tôi cần tập trung trước hết vào 4 đối tượng: Các nhà quản lý, các nhà chuyên môn, giới truyền thông và nhà trường.
Thứ nhất, sự nhập cuộc thực sự của các nhà quản lý là khâu khó nhất, nhưng nếu làm được sẽ đem lại hiệu quả cao nhất. Khi có một nhận thức tốt về quy hoạch đô thị vị nhân sinh, họ sẽ từ đó để quy định thiết chế, tham gia tư vấn/hoạch định chính sách, thực hành quản lý và thúc đẩy phát triển. Chỉ khi các nhà quản lý nhập cuộc mạnh mẽ mới có thể hướng toàn bộ xã hội vào câu chuyện này. Toàn xã hội là một con tàu, các nhà quản lý phải là đầu tàu, là động lực kéo và đẩy con tàu hướng đích. Nó ngược lại với thói quan liêu, cửa quyền, nhận thức chậm, bảo thủ; ngược với tham nhũng và nhóm lợi ích. Kinh nghiệm quốc tế cho hay, xây dựng một thành phố “Sống động, an toàn, bền vững và lành mạnh” có thành công hay không phụ thuộc phần lớn vào người thị trưởng, nếu đây là một lãnh đạo có ý chí, tầm hiểu biết, có tình yêu đối với nơi chốn và tinh thần nhân văn.
Thứ hai, nhà chuyên môn đương nhiên phải là người có chuyên môn giỏi, có nghiên cứu sâu về cuộc sống thực tiễn, văn hóa bản địa và khu vực, có ý thức nhân văn trong quy hoạch một cách trong sáng, vì con người. Có những quy hoạch do không có nghiên cứu sâu hoặc hiểu sai về cuộc sống đô thị, dẫn đến một thực tiễn đô thị mà ở đó con người bị “nuốt chửng”, bị “xóa đi” trong không gian. Bởi vậy, đòi hỏi ở mỗi nhà quy hoạch và kiến trúc sư là phải tính toán hết sức bài bản, thậm chí tỉ mỉ không gian và công trình ở cấp độ vĩ mô và cả vi mô, sao cho tất cả vì cuộc sống của con người, kể cả những trẻ em, người già, người khuyết tật. Một quy hoạch đúng và nhân văn sẽ làm cuộc sống nở hoa trong không gian vật lý đô thị và trong cả tâm hồn dân chúng.
Thứ ba, vai trò của giới truyền thông ngày càng trở nên quan trọng hiểu theo nghĩa họ tham dự và tác động vào xã hội như một thế lực hùng mạnh. Nếu truyền thông tích cực, nó góp phần kiến tạo xã hội. Còn ngược lại, nó sẽ hủy hoại xã hội, hủy hoại văn hóa và nhân tính.
Trong công cuộc kiến tạo văn hóa đô thị, truyền thông phải là lực lượng chung tay thiết lập nhận thức chung, đánh thức khát vọng tập thể, ý thức về nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Đội ngũ các nhà báo chính là lực lượng quan trọng nhất của hoạt động truyền thông. Họ lên tiếng phê phán những hạn chế, tiêu cực; vun đắp và lan tỏa những yếu tố tích cực, truyền cảm hứng cho tinh thần đẹp đẽ của đô thị vị nhân sinh, của văn hóa đô thị mới.
Cuối cùng là vai trò của nhà trường. Hiện nay, vấn đề sinh thái nhân văn đang được nhà trường dần chú ý thông qua các nghiên cứu, thực hành, giảng dạy. Tuy nhiên, vấn đề văn hóa đô thị hầu như chưa được quan tâm nhiều. Phải bắt đầu từ con trẻ, từ học sinh các cấp tới đại học sao cho tất cả ý thức được về văn hóa đô thị. Với học sinh, không nên sa vào lý thuyết chung chung, mà nên bắt đầu từ giáo dục hành vi. Làm sao cho các em hiểu cho được tính thiết thực của việc bỏ rác vào đúng nơi quy định, không xả rác bừa bãi; không ngắt hoa chặt cây vô tội vạ, biết thích thú đi bộ hay đi xe đạp mỗi khi đến trường hoặc di chuyển trong phố… đã là rất có ý nghĩa.
Một công cuộc kiến tạo văn hóa đô thị phải được đánh thức đồng loạt và thổi vào đó một nguồn cảm hứng mạnh mẽ mới có thể hy vọng hình thành sớm trong nay mai.


Một công cuộc kiến tạo văn hóa đô thị cần được đánh thức đồng loạt. (Ảnh: Bùi Văn Doanh)
Như chính kiến trúc sư, nhà quy hoạch và tư vấn quy hoạch đô thị nổi tiếng Jan Gehl, tác giả của công trình nghiên cứu “Đô thị vị nhân sinh” đã nói: “Ta định hình thành phố - thành phố định dạng ta”. Để hình thành một đô thị vị nhân sinh đẹp đẽ và đáng sống, cần phải có sự nỗ lực từ chính con người, để rồi sau đó trái quả đô thị ngọt lành sẽ lại trả ơn con người, đền bù xứng đáng cho con người.
Khi các đô thị mới ở nước ta cũng đang phát triển mạnh mẽ song hành với hành trình phát triển của đất nước, nếu có nhận thức tốt và quyết tâm thực hành tốt triết lý “Đô thị vị nhân sinh”, chắc chắn chúng ta sẽ hạn chế được những sai lầm mà thiên hạ đã từng mắc phải và có nhiều cơ hội để phát triển đô thị, sớm có được những đô thị Sống động, An toàn, Bền vững, Lành mạnh./.




