Khó khăn, vướng mắc và kiến nghị giải pháp trong lĩnh vực xây dựng, công nghiệp, hạ tầng và quy hoạch
Xây dựng, công nghiệp, hạ tầng và quy hoạch là các mắt xích trực tiếp tạo năng lực sản xuất, tài sản vật chất và không gian phát triển. Các doanh nghiệp trong những lĩnh vực này đang cùng chịu tác động của những điểm nghẽn về thể chế, quy hoạch, đất đai, thủ tục, vốn, vật liệu, hạ tầng kết nối và tổ chức thực thi. Vì vậy cần xử lý theo chuỗi phát triển, thay vì tháo gỡ riêng lẻ theo từng ngành.
❃ ❃ ❃
Thủ tục đầu tư - xây dựng còn nhiều tầng
Khó khăn, vướng mắc: Một công trình có thể đồng thời phải thực hiện các thủ tục về đầu tư, đất đai, quy hoạch, môi trường, phòng cháy chữa cháy, thẩm định thiết kế, giấy phép xây dựng, đấu thầu và nghiệm thu. Việc phân cấp mạnh tạo điều kiện rút ngắn quy trình nhưng cần hướng dẫn và thực thi thống nhất.
Kiến nghị giải pháp: Chuẩn hóa quy trình liên thông; một dữ liệu chỉ cung cấp một lần; phân định rõ nội dung tiền kiểm và hậu kiểm; quy định một đầu mối và thời hạn xử lý cho từng nhóm dự án.
Giá và nguồn cung vật liệu xây dựng
Khó khăn, vướng mắc: Cát, đá, đất đắp và một số vật liệu có thời điểm thiếu và tăng bình quân 15% giá; thủ tục khai thác mỏ, cấp phép, vận chuyển chưa đáp ứng tiến độ công trình.
Kiến nghị giải pháp: Xây dựng cơ chế dự báo nhu cầu vật liệu theo vùng và dự án; cập nhật giá sát thị trường; đơn giản hóa thủ tục đối với nguồn vật liệu đủ điều kiện; tăng sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu mới và nguồn cung thay thế.
(Ảnh minh hoạ: Trọng Hiếu)
Dòng tiền và thanh quyết toán
Khó khăn, vướng mắc: Nhà thầu phải ứng vốn lớn cho nhân công, vật liệu, thiết bị nhưng có trường hợp nghiệm thu, thanh toán, quyết toán kéo dài, làm tăng chi phí tài chính.
Kiến nghị giải pháp: Quy định và giám sát chặt thời hạn nghiệm thu, thanh toán; xử lý trách nhiệm chậm thanh toán; đẩy nhanh số hóa hồ sơ nghiệm thu, quyết toán.
Định mức, đơn giá và hợp đồng
Khó khăn, vướng mắc: Một số định mức, đơn giá chưa theo kịp công nghệ, vật liệu và phương pháp thi công mới; hợp đồng khó xử lý khi có biến động khách quan lớn.
Kiến nghị giải pháp: Cập nhật định mức theo dữ liệu thực tế; mở cơ chế xác lập định mức mới; hoàn thiện điều chỉnh giá hợp đồng đối với biến động khách quan vượt ngưỡng.
Chi phí đầu vào và logistics
Khó khăn, vướng mắc: Chi phí năng lượng, vận tải, kho bãi và logistics ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của sản phẩm.
Kiến nghị giải pháp: Giảm chi phí logistics thông qua hạ tầng liên vùng, cảng, đường sắt và trung tâm logistics; thúc đẩy số hóa chuỗi cung ứng; bảo đảm nguồn năng lượng ổn định và cạnh tranh.
Tiếp cận đất công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật
Khó khăn, vướng mắc: Một số doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng nhưng thiếu đất sạch hoặc hạ tầng điện, nước, xử lý nước thải và kết nối giao thông chưa đồng bộ.
Kiến nghị giải pháp: Chuẩn bị quỹ đất sạch gắn với quy hoạch khu công nghiệp, cụm công nghiệp; bảo đảm điện, nước và xử lý môi trường đi trước; công khai quỹ đất và điều kiện tiếp cận.
(Ảnh minh hoạ: iStock)
Công nghiệp hỗ trợ và phụ thuộc nhập khẩu
Khó khăn, vướng mắc: Một số ngành phụ thuộc nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu; giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa chưa cao.
Kiến nghị giải pháp: Xây dựng chương trình phát triển nhà cung cấp Việt Nam; ưu đãi R&D, đổi mới công nghệ, công nghiệp hỗ trợ; đặt KPI tỷ lệ doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi FDI.
Chuyển đổi xanh, ESG và tiêu chuẩn quốc tế
Khó khăn, vướng mắc: Yêu cầu về carbon, truy xuất nguồn gốc, môi trường, ESG và tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng trở thành điều kiện tiếp cận thị trường.
Kiến nghị giải pháp: Hỗ trợ doanh nghiệp đo lường phát thải, chuyển đổi năng lượng, tài chính xanh và chứng nhận; phát triển KCN sinh thái, tuần hoàn.
Liên kết FDI - doanh nghiệp trong nước
Khó khăn, vướng mắc: Thu hút FDI cần phải chuyển giao công nghệ và liên danh để phát triển mạnh doanh nghiệp nội địa.
Kiến nghị giải pháp: Đánh giá chất lượng FDI không chỉ bằng vốn đăng ký mà bằng chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, nhà cung cấp Việt Nam và giá trị gia tăng trong nước.
Nghị định 35/NĐ-CP ngày 28/5/2022
Tại điểm d, Khoản 1, Điều 13 có ghi: "Phải có sự đồng thuận của nhà đầu tư xây dựng hạ tầng, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp và trên 2/3 số doanh nghiệp trong khu công nghiệp tại khu vực dự kiến chuyển đổi từ khu công nghiệp sang phát triển đô thị - dịch vụ". Tuy nhiên, quy định này có thể trở thành điểm nghẽn trong một số khu công nghiệp cũ cần chuyển đổi vì yêu cầu tái cấu trúc đô thị, bảo vệ môi trường và hiệu quả sử dụng đất; quyền lợi di dời, bồi thường giải quyết ra sao và quỹ đất mới để di chuyển đến... Do đó, cần có hướng dẫn cụ thể.
Khoản 6, Điều 2 Nghị định là điều khoản giải thích khái niệm: "Khu công nghiệp mở rộng là khu vực khu công nghiệp được hình thành thông qua việc tăng quy mô diện tích của khu công nghiệp đã được thành lập trước đó, trong đó phần diện tích mở rộng của khu công nghiệp có ranh giới liền kề hoặc lân cận và có thể kết nối, sử dụng chung hạ tầng kỹ thuật với khu công nghiệp đã được thành lập". Nhưng cụm từ "liền kề hay lân cận" lại không định lượng rõ về khoảng cách. Do đó, có thể phát sinh cách hiểu khác nhau trong thực tiễn. Ví dụ: Một khu đất cách khu công nghiệp hiện hữu một con đường, một con sông nhưng vẫn kết nối được hạ tầng dùng chung.
Hiện nay, các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu (data center), công nghiệp công nghệ cao, năng lượng sạch, logistics cùng các xu hướng ESG, Net Zero, kinh tế tuần hoàn và chuỗi cung ứng toàn cầu đang phát triển rất nhanh. Do đó, việc xem xét sửa đổi Nghị định 35/NĐ-CP cần hướng tới cấu trúc chính sách thành 5 thế hệ: Khu công nghiệp truyền thống; Khu công nghiệp chuyên ngành; Khu công nghiệp sinh thái; Khu công nghiệp công nghệ cao, thông minh; và Khu công nghiệp kết hợp đô thị - dịch vụ - logistics - đổi mới sáng tạo để phù hợp với yêu cầu của giai đoạn hiện tại và tương lai. Đồng thời, việc phân loại và phát triển các mô hình này cần được đánh giá dựa trên hệ tiêu chí về: hiệu quả sử dụng đất, giá trị gia tăng, hàm lượng công nghệ, năng suất, mức độ liên kết chuỗi, chất lượng việc làm và phát triển xanh.
Giải phóng mặt bằng và thủ tục đất đai
Khó khăn, vướng mắc: GPMB kéo dài có thể làm chậm toàn bộ dự án, tăng tổng mức đầu tư và giảm hiệu quả vốn.
Kiến nghị giải pháp: Tách GPMB thành tiểu dự án độc lập khi phù hợp; chuẩn bị quỹ tái định cư trước; xác định rõ trách nhiệm và thời hạn của địa phương.
Nguồn vật liệu và điều chỉnh dự án
Khó khăn, vướng mắc: Thiếu vật liệu, thủ tục mỏ, điều chỉnh tổng mức đầu tư và thiết kế có thể ảnh hưởng tiến độ.
Kiến nghị giải pháp: Lập cân đối vật liệu ngay từ bước chuẩn bị; cho phép xử lý nhanh biến động khách quan; tăng trách nhiệm khảo sát và thiết kế ban đầu.
(Ảnh minh hoạ: Trọng Hiếu)
PPP và phân bổ rủi ro
Khó khăn, vướng mắc: Dự án PPP có thời gian hoàn vốn dài, doanh thu khó dự báo và chịu nhiều rủi ro thuộc thẩm quyền Nhà nước.
Kiến nghị giải pháp: Nhà nước xử lý rủi ro quy hoạch, GPMB, thay đổi chính sách; doanh nghiệp chịu rủi ro kinh doanh.
Hiệu quả lan tỏa của đầu tư hạ tầng
Khó khăn, vướng mắc: Đánh giá dự án còn thiên về tiến độ giải ngân và hoàn thành công trình, chưa lượng hóa đầy đủ nguồn lực xã hội và tăng trưởng mới được tạo ra.
Kiến nghị giải pháp: Chuyển từ 'đầu tư công trình' sang 'đầu tư tạo không gian phát triển'; tích hợp giao thông + TOD + đô thị + công nghiệp + logistics + dịch vụ + khai thác giá trị đất.
Các lớp quy hoạch chưa luôn đồng bộ
Khó khăn, vướng mắc: Quy hoạch quốc gia, vùng, tỉnh/thành phố, đô thị - nông thôn, sử dụng đất, ngành và hạ tầng có trường hợp chưa cập nhật đồng thời; một lớp quy hoạch vướng có thể làm dừng dự án.
Kiến nghị giải pháp: Các địa phương cần thiết lập cơ chế rà soát liên ngành theo không gian; xác định quy hoạch chủ đạo và nguyên tắc xử lý khi có mâu thuẫn; đồng bộ dữ liệu quy hoạch.
(Ảnh minh hoạ: Trọng Hiếu)
Điều chỉnh quy hoạch chưa theo kịp yêu cầu phát triển
Khó khăn, vướng mắc: Những động lực phát triển mới, thay đổi địa giới và hạ tầng lớn có thể làm phát sinh nhu cầu điều chỉnh nhưng quy trình mất nhiều thời gian.
Kiến nghị giải pháp: Có cơ chế điều chỉnh cục bộ nhanh với nội dung không làm thay đổi chiến lược, cấu trúc lớn và lợi ích công cộng; tăng hậu kiểm, công khai và giám sát.
Dữ liệu quy hoạch phân tán
Khó khăn, vướng mắc: Doanh nghiệp khó kiểm tra nhanh một khu đất thuộc quy hoạch nào, chỉ tiêu.
Kiến nghị giải pháp: Xây dựng nền tảng dữ liệu quy hoạch quốc gia tích hợp GIS, liên thông đất đai - hạ tầng - đô thị; cung cấp khả năng tra cứu trực tuyến.
Tư duy quy hoạch
Khó khăn, vướng mắc: Quy hoạch có lúc nặng về phân khu chức năng và kiểm soát hành chính, chưa gắn chặt với nguồn lực thực hiện và hiệu quả kinh tế - xã hội.
Kiến nghị giải pháp: Chuyển từ 'quy hoạch để quản lý' sang 'quy hoạch kiến tạo không gian phát triển'; mỗi quy hoạch phải làm rõ phát triển gì, ở đâu, kết nối ra sao, nguồn lực nào và giá trị tạo ra.
Tóm lại, những điểm nghẽn chung quy hoạch → đất đai → hạ tầng → đầu tư → xây dựng → sản xuất/ kinh doanh → thị trường. Các lĩnh vực trên không phải chuyện riêng của từng lĩnh vực. Chỉ cần một mắt xích bị tắc thì vốn, tiến độ và hiệu quả của toàn chuỗi có thể bị ảnh hưởng. Do đó, cải cách cần đo bằng thời gian và chi phí thực tế của toàn bộ chuỗi dự án, không chỉ bằng số lượng thủ tục được cắt giảm.
Thứ nhất, thể chế: Xử lý chồng chéo giữa đầu tư - đất đai - quy hoạch - xây dựng - đấu thầu - môi trường.
Thứ hai, quy hoạch: Quy hoạch đi trước, đồng bộ, ổn định nhưng có khả năng điều chỉnh nhanh khi xuất hiện động lực phát triển mới.
Thứ ba, đất đai và GPMB: Tạo đất sạch, xác định nghĩa vụ tài chính rõ, đẩy nhanh GPMB và quy định thời hạn xử lý.
Thứ tư, hạ tầng: Tập trung giao thông, năng lượng, logistics, hạ tầng số, KCN và hạ tầng đô thị có sức lan tỏa.
Thứ năm, nguồn vốn: Phối hợp đầu tư công - tín dụng - trái phiếu - PPP - vốn tư nhân - FDI.
Thứ sáu, sản xuất và thị trường: Phát triển công nghiệp hỗ trợ, nội địa hóa, liên kết FDI - doanh nghiệp Việt, kích cầu trong nước và mở rộng xuất khẩu.
Thứ bảy, bộ máy thực thi: Phân cấp gắn với nguồn lực, dữ liệu, năng lực cán bộ và trách nhiệm người đứng đầu.
Thứ tám, giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng: phân loại sai phạm, vướng mắc khách quan và có cơ chế đặc thù giải quyết.
Thứ chín, tái cấu trúc mô hình phát triển doanh nghiệp: chuyển mạnh sang phát triển theo nhu cầu thực; trọng tâm tăng trưởng kinh tế hai con số; chuyển đổi số, xanh, tuần hoàn; TOD, khu công nghiệp chế xuất…/.



