Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu

Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu

Thứ Tư, 25/02/2026 - 06:30

Có thể hiểu, đô thị sân bay là mô hình đô thị mà trong đó sân bay đóng vai trò trung tâm hạt nhân, bao quanh là các hành lang và cụm kinh tế gồm doanh nghiệp hàng không, thương mại - dịch vụ, khu ở và làm việc. Tất cả liên kết chặt chẽ với nhau nhờ khả năng kết nối trực tiếp và tiện lợi của sân bay, tạo thành một hệ sinh thái phát triển đồng bộ.

Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu- Ảnh 1.

Ông Bùi Văn Doanh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Bất động sản Việt Nam

Trình bày Báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và 5 năm 2021 - 2025; dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh: Cần có cơ chế, chính sách đột phá để khai thác hiệu quả không gian biển, không gian vũ trụ, không gian ngầm với tinh thần "vươn ra" biển lớn, "tiến sâu vào" lòng đất và "bay cao lên" vũ trụ.

Tôi cho rằng, khai thác không gian vũ trụ không chỉ là việc phóng tàu vũ trụ, thám hiểm các hành tinh mà ý nghĩa về mặt kinh tế chính là khai thác và vận hành tốt hạ tầng hàng không gắn với phát triển đô thị bền vững.

Ông John D. Kasarda, chuyên gia hàng đầu thế giới về phát triển sân bay và mô hình "aerotropolis" - đô thị sân bay, từng nói: "Sân bay sẽ là yếu tố định hình vị trí kinh doanh và phát triển đô thị trong thế kỷ 21, tương đương với vai trò của các tuyến đường cao tốc trong thế kỷ 20, đường sắt trong thế kỷ 19 và cảng biển trong thế kỷ 18".

Sân bay đóng vai trò là động lực phát triển kinh tế - xã hội nhờ khả năng kết nối các khu vực, thúc đẩy thương mại, du lịch, tạo việc làm và hỗ trợ các hoạt động cứu trợ. Sự hiện diện của một sân bay giúp rút ngắn khoảng cách địa lý, thu hút đầu tư, tạo điều kiện giao thương thuận lợi giữa các vùng trong nước và quốc tế, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và góp phần vào sự tăng trưởng GDP. Kinh tế - xã hội khu vực phát triển sẽ nâng cao giá trị bất động sản nói chung trong khu vực.

Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu- Ảnh 2.

Mô hình lý thuyết một đô thị sân bay. (Nguồn: Dr. John D. Kasarda)

Sân bay hình thành còn mở ra các dịch vụ kèm theo như dịch vụ lưu trú, dịch vụ thương mại, dịch vụ giải trí và cả dịch vụ tài chính, logistics… phục vụ cho vận hành của sân bay, kinh tế xã hội và nhu cầu của hành khách. Đồng thời hình thành địa bàn cư trú với nhiều tiện ích cho cư dân. Từ đó kéo theo một hệ sinh thái bất động sản khu vực sân bay và trực tiếp làm gia tăng giá trị bất động sản khu vực xung quanh sân bay.

Sự mở rộng nhanh chóng của các hoạt động thương mại quanh sân bay đang biến những "cửa ngõ hàng không" thành đô thị liền kề sân bay - nơi khách quốc tế và người dân có thể làm việc, giao thương, mua sắm, giải trí, tất cả trong bán kính 15 phút từ sân bay.

Trên thực tiễn, rất nhiều trung tâm tài chính - kinh tế - văn hóa lớn trên thế giới là các đô thị được xây dựng theo mô hình này, có thể kể đến như Incheon (Hàn Quốc), DXB và DWC (Dubai), Changi (Singapore), Sân bay quốc tế Trịnh Châu Tân Trịnh (Hà Nam, Trung Quốc).

Đối chiếu với Việt Nam, chúng ta có thể thấy tiềm năng vô cùng lớn để phát triển đô thị liền kề sân bay khi nước ta hiện có hơn 10 sân bay quốc tế, trong đó có những sân bay đạt tiêu chuẩn cao như sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Cam Ranh…

Đồng thời, chúng ta cũng đang triển khai, xây dựng Cảng hàng không Quốc tế Long Thành, Cảng hàng không Quốc tế Gia Bình và dự kiến mở rộng Cảng hàng không Quốc tế Phú Quốc, Cảng hàng không Chu Lai, Phù Cát, Cà Mau, Thổ Chu.

Việc hình thành các đô thị liền kề sân bay sẽ ngày càng trở thành xu hướng tất yếu. Tuy nhiên với lợi thế về đường bờ biển dài cùng nhiều sân bay quốc tế hướng biển như Đà Nẵng, Cam Ranh, Chu Lai, Phú Quốc, Vân Đồn…, những khu vực này sẽ không chỉ phát triển đô thị theo xu hướng "aerotropolis" đơn thuần của thế giới, mà còn cộng hưởng với các ưu thế chiến lược để hình thành một mô hình đặc biệt hơn và tiềm năng phát triển lớn hơn, đó là đô thị biển liền kề sân bay, đặc biệt là các sân bay quốc tế.

Mô hình đô thị biển liền kề sân bay trên thế giới đã và đang có những hình mẫu thành công, và Việt Nam - nơi vừa có lợi thế tự nhiên hiếm có, vừa có hạ tầng kết nối ngày càng hoàn thiện, hội tụ đủ điều kiện để có thể phát triển thành công mô hình đô thị này trong tầm nhìn dài hạn.

Tôi tin rằng, đây sẽ không chỉ là câu chuyện về những thành phố sân bay hay thành phố ven biển, mà còn là một minh chứng cho tầm nhìn phát triển bền vững, gắn kết giữa hàng không - du lịch - thương mại - dịch vụ, góp phần đưa các đô thị sân bay của Việt Nam nói chung và các đô thị biển liền kề sân bay nói riêng vươn lên mạnh mẽ trong khu vực và trên thế giới.

Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu- Ảnh 3.
Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu- Ảnh 4.

Việt Nam hội tụ đủ điều kiện để có thể phát triển thành công mô hình đô thị sân bay trong tầm nhìn dài hạn. (Ảnh minh họa: KN Cam Ranh)

Trong 3 thập kỷ qua, hai dòng chảy đã âm thầm tái định hình không gian phát triển của thế giới là: (i) Hàng không giá hợp lý rút ngắn "độ ma sát" về thời gian - khoảng cách; (ii) "Kinh tế xanh biển" trỗi dậy như một trụ cột tăng trưởng mới.

Ở nơi hai dòng chảy gặp nhau - dải ven biển ngay sát một cửa ngõ hàng không quốc tế - xuất hiện một mô hình không gian phát triển rất đặc thù: Đô thị biển liền kề sân bay. Đây không chỉ là sự cộng gộp giữa đô thị ven biển và "airport city", mà là một hệ sinh thái liên kết nơi 3 hạ tầng chiến lược - sân bay, cảng biển và đô thị dịch vụ - tương tác theo logic chuỗi giá trị toàn cầu.

Mô hình này mang lại 4 lợi thế cạnh tranh cốt lõi: Thứ nhất, độ mở quốc tế cao. Sân bay quốc tế là "động cơ nhập khẩu" khách, tri thức, vốn và chuẩn mực dịch vụ; cảng biển là "động cơ xuất khẩu" hàng hóa, đặc sản và chuỗi cung ứng.

Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu- Ảnh 5.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng - Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội

Thứ hai, đa dạng hóa cơ cấu kinh tế. Cùng lúc phát triển du lịch - nghỉ dưỡng - MICE, logistics hàng không và biển (đặc biệt là logistics lạnh cho thủy sản), y tế - chăm sóc sức khỏe, giáo dục quốc tế và các dịch vụ tài chính - công nghệ hỗ trợ.

Thứ ba, hiệu ứng cụm - mạng lưới. Doanh nghiệp và dịch vụ bổ trợ được "neo" quanh trục sân bay - cảng - đô thị, tạo chi phí giao dịch thấp, tốc độ quay vòng tài sản cao.

Thứ tư, tính chống chịu và bền vững. Nếu quy hoạch đúng, đô thị biển liền kề sân bay có thể phân bổ rủi ro (mùa vụ du lịch, biến động thương mại), tăng năng lực ứng phó khí hậu bằng tiêu chuẩn xanh, hạ tầng thông minh và quản trị theo dữ liệu.

Từ kinh nghiệm quốc tế, có thể rút ra 3 nguyên lý thiết kế - vận hành then chốt: Một là, liên kết hạ tầng theo trục - nan. Một "xương sống" kết nối trực tiếp sân bay với cụm cảng/đầm vịnh và lõi đô thị dịch vụ; các "nan quạt" tỏa ra các phân khu chức năng (khu nghỉ dưỡng - giải trí, logistics - công nghiệp sạch, khu dân cư - giáo dục - y tế).

Hai là, phân vùng chức năng "ba vòng". Vòng lõi (airport city và trung tâm dịch vụ quốc tế); vòng ven (đô thị du lịch - thương mại - văn hóa biển); vòng sinh thái (không gian xanh, đầm phá, hệ sinh thái rạn - vịnh) với chuẩn bảo tồn nghiêm ngặt.

Ba là, chuẩn bền vững và bản sắc. Chuẩn phát thải thấp, phát triển định hướng giao thông công cộng (bus/tram nhanh trục sân bay - đô thị - bờ biển), kiến trúc cảnh quan tôn trọng địa mạo và văn hóa biển địa phương.

Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu- Ảnh 6.

Phối cảnh Cảng hàng không Quốc tế Phú Quốc mở rộng. (Ảnh: CPG Singapore/Sun Group)

Trong bối cảnh Việt Nam chủ trương phát triển kinh tế biển bền vững và nâng cấp hạ tầng kết nối quốc tế, mô hình đô thị biển liền kề sân bay trở thành điểm rơi chính sách rất đáng chú ý.

Nhiều địa bàn có cấu trúc tự nhiên - hạ tầng phù hợp (Cam Ranh, Phú Quốc, Vân Đồn, Chu Lai…) đang hội đủ điều kiện để hình thành các cụm đô thị "cửa ngõ quốc tế" mới. Tuy nhiên, điểm phân biệt giữa thành công và dở dang không nằm ở số dự án đơn lẻ, mà ở tầm nhìn tích hợp: Một bản quy hoạch thống nhất chuỗi giá trị biển - hàng không - dịch vụ; một mô hình quản trị liên thông tỉnh - vùng; và một cơ chế đầu tư đủ linh hoạt để thu hút nhà đầu tư chiến lược, đi kèm kỷ luật kịch bản hóa rủi ro khí hậu - môi trường.

Kinh nghiệm quốc tế về phát triển đô thị biển liền kề sân bay

Trên bản đồ phát triển toàn cầu, không ít nơi đã thành công trong việc kết hợp sức mạnh của sân bay quốc tế, cảng biển và không gian đô thị ven biển để hình thành những "siêu cực" tăng trưởng. Mẫu hình chung của các đô thị này là một cấu trúc tích hợp 3 lớp chức năng: Sân bay quốc tế với dịch vụ hàng không - MICE - thương mại; cụm logistics biển - hàng không, đặc biệt là logistics và chuỗi e-commerce; cùng với dải đô thị ven biển phát triển du lịch, y tế, giáo dục quốc tế và bất động sản cao cấp.

Ở Singapore, sân bay Changi đã trở thành hình mẫu với chiến lược mở rộng Terminal 5 tại khu vực Changi East. Không chỉ dừng ở việc tăng công suất, Singapore đồng thời kết nối sân bay bằng hệ thống metro và quy hoạch liền mạch với khu đô thị ven biển phía Đông. Bài học quan trọng ở đây là mở rộng hạ tầng hàng không phải song hành với kết nối công cộng chất lượng cao và không gian kinh doanh phụ trợ ngay sát sân bay để gia tăng giá trị.

Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu- Ảnh 7.

Phối cảnh dự án Nhà ga T5 Sân bay Quốc tế Changi, Singapore. (Nguồn: Dezeen)

Dubai lại chọn cách xây dựng một "hành lang logistics" đặc biệt, liên thông cảng biển Jebel Ali - khu tự do JAFZA và sân bay quốc tế Al Maktoum. Trên diện tích hàng trăm km2, khu vực này vận hành cơ chế thông quan bonded riêng, tạo nên chuỗi sea-air hiếm có trên thế giới. Sự kết nối trực tiếp giữa cảng biển và sân bay đã biến Dubai thành trung tâm logistics quốc tế, đồng thời thúc đẩy phát triển công nghiệp phụ trợ, thương mại và bất động sản dịch vụ.

Ở Hàn Quốc, khu kinh tế tự do Incheon (IFEZ) được thiết kế như một "tam giác vàng" gồm Songdo (đô thị thông minh và dịch vụ quốc tế), Cheongna (tài chính - giải trí) và Yeongjong (airport city). Tất cả đều gắn kết chặt chẽ với sân bay quốc tế Incheon và cảng biển liền kề. Điểm đặc sắc ở đây là việc phát triển không chỉ dừng lại ở một đô thị duy nhất, mà là cả một vùng chức năng đa hạt nhân với cơ chế hành chính - tài chính linh hoạt để thu hút FDI và nhân lực quốc tế.

Hồng Kông (Trung Quốc) cũng đang xây dựng Airport City ngay trên đảo Lantau, nơi đặt sân bay quốc tế HKIA. Không chỉ là cửa ngõ hàng không, nơi đây được quy hoạch thành một cực giải trí - hội nghị với trung tâm triển lãm AsiaWorld-Expo, tổ hợp thương mại 11SKIES và hệ thống SkyPier. Sân bay trở thành điểm đến trải nghiệm, nơi du khách không chỉ "đến và đi" mà còn lưu trú, mua sắm, tham dự hội nghị và giải trí.

Nice ở miền Nam nước Pháp lại nổi bật với cách kết nối thẳng sân bay quốc tế Nice Côte d'Azur với cảng biển trung tâm bằng tuyến tramway hiện đại, chỉ mất chưa đến nửa giờ di chuyển. Sự kết nối công cộng chất lượng cao này đã thúc đẩy tái thiết khu cảng, tạo động lực cho chuỗi khách sạn, khu nghỉ dưỡng cao cấp và củng cố vị thế của Nice như một điểm đến du lịch - hội nghị hàng đầu.

Trong khi đó, Barcelona (Tây Ban Nha) tận dụng lợi thế cảng nước sâu và sân bay El Prat nằm gần nhau để quy hoạch khu tự do Zona Franca cùng với trung tâm logistics LAZ/ZAL. Tam giác cảng - khu tự do - sân bay đã trở thành động cơ phát triển công nghiệp, phân phối và du lịch MICE cho toàn vùng Catalonia, đồng thời được nâng chuẩn môi trường để giảm xung đột giữa cảng - đô thị - du lịch.

Từ những kinh nghiệm trên, có thể kết tinh một số nguyên tắc cốt lõi.

Thứ nhất, cần thiết kế hành lang tích hợp "Sea - Air - City" với một trục xương sống nối trực tiếp sân bay, cảng biển và lõi đô thị, trong đó phương tiện công cộng đóng vai trò then chốt. Thứ hai, mô hình đô thị biển liền kề sân bay nên được nâng lên thành vùng chức năng đặc thù, đa hạt nhân, với cơ chế hành chính - tài chính linh hoạt để thu hút đầu tư và nhân lực quốc tế. Thứ ba, phải xây dựng hệ sinh thái logistics sea-air hiện đại, đặc biệt là kho lạnh, trung tâm phân phối và cơ chế thông quan nhanh. Thứ tư, cần phát triển "kinh tế lưu trú" (stay-over economy) tại sân bay với các dịch vụ hội nghị, giải trí, mua sắm, y tế để tăng chi tiêu và thời gian lưu trú. Thứ năm, tài chính đô thị phải dựa vào cơ chế khai thác giá trị đất thông qua TOD và đấu giá quyền phát triển ven trục sân bay - bờ biển. Cuối cùng, các đô thị này đều đặt ra tiêu chuẩn xanh, nâng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu, đồng thời bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa - cảnh quan biển như một phần không thể thiếu trong trải nghiệm của hành khách quốc tế.

Nhìn chung, các kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để thành công, một đô thị biển liền kề sân bay không thể phát triển theo tư duy "mạnh ai nấy làm" của từng ngành hay từng địa phương. Nó đòi hỏi một quy hoạch tích hợp, một cơ chế điều phối vùng và một tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến "cửa ngõ hàng không ven biển" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu.

Tiềm năng phát triển đô thị biển liền kề sân bay ở Việt Nam

Việt Nam sở hữu một lợi thế thiên nhiên và vị trí địa chính trị hiếm có: Bờ biển dài hơn 3.260km, nhiều vịnh kín gió, cảng nước sâu thuận lợi, cùng với mạng lưới sân bay quốc tế trải dọc từ Bắc vào Nam. Sự kết hợp của hai yếu tố - cửa ngõ hàng không và không gian biển - đã mở ra triển vọng hình thành các đô thị biển liền kề sân bay, có thể trở thành động lực tăng trưởng mới cho kinh tế quốc gia.

Về lợi thế địa lý - hạ tầng: Dọc bờ biển Việt Nam, nhiều sân bay quốc tế nằm ngay bên cạnh những vịnh biển, đảo du lịch hoặc cảng nước sâu như Cam Ranh (Khánh Hòa), Phú Quốc (An Giang), Vân Đồn (Quảng Ninh), Chu Lai (Đà Nẵng). Đây là những điểm hiếm hoi trên thế giới mà hạ tầng hàng không và hạ tầng biển cùng hội tụ trong phạm vi bán kính 20 - 30km. Nếu biết khai thác hợp lý, mỗi cụm như vậy có thể trở thành một "hub kép" vừa đón khách quốc tế, vừa phân phối hàng hóa - dịch vụ cho khu vực và thế giới.

Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu- Ảnh 8.

Cảng hàng không Quốc tế Vân Đồn, Quảng Ninh. (Ảnh: Sun Group)

Về chiến lược kinh tế biển quốc gia: Đảng và Nhà nước đã xác định kinh tế biển là một trong những trụ cột phát triển của đất nước, với tầm nhìn đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển. Đô thị biển liền kề sân bay là hình thái không gian phát triển trực tiếp hiện thực hóa tầm nhìn này: Vừa khai thác lợi thế du lịch biển, vừa kết nối thương mại quốc tế, vừa bổ sung dịch vụ y tế, giáo dục, tài chính cho vùng ven biển. Mô hình này còn giúp giảm áp lực cho các đô thị lớn như Hà Nội và TP.HCM, khi dịch chuyển một phần chức năng dịch vụ - thương mại - hội nghị ra các đô thị ven biển mới.

Về cơ hội hội nhập và chuỗi giá trị toàn cầu: Khi hạ tầng hàng không và cảng biển gắn kết, Việt Nam có thể hình thành các trung tâm logistics sea-air quy mô khu vực, phục vụ đặc sản thủy sản xuất khẩu, hàng thương mại điện tử và cả ngành công nghiệp chế biến giá trị gia tăng. Cùng lúc, đô thị biển liền kề sân bay sẽ trở thành điểm đến du lịch MICE, y tế quốc tế, nghỉ dưỡng cao cấp. Nói cách khác, Việt Nam hoàn toàn có thể đi theo con đường mà Singapore, Incheon (Hàn Quốc) hay Dubai đã đi, nhưng với bản sắc riêng của mình: Một quốc gia nhiệt đới, giàu tài nguyên sinh thái biển, có văn hóa bản địa hấp dẫn.

Về khung chính sách và thể chế: Nhiều văn kiện chiến lược đã tạo nền tảng cho sự phát triển này. Nghị quyết về phát triển kinh tế biển bền vững đến 2030, tầm nhìn 2045; các quy hoạch vùng duyên hải miền Trung; cùng với chính sách thu hút đầu tư hạ tầng sân bay, cảng biển và khu kinh tế ven biển. Thêm vào đó, các nghị quyết gần đây của Trung ương về đột phá khoa học - công nghệ, phát triển kinh tế tư nhân, đổi mới công tác xây dựng pháp luật đã mở ra khuôn khổ để thiết kế những cơ chế đặc thù. Đây chính là "chìa khóa" để các đô thị biển liền kề sân bay ở Việt Nam có thể thu hút nhà đầu tư chiến lược, triển khai dự án hạ tầng lớn và quản trị theo chuẩn mực quốc tế.

Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu- Ảnh 9.
Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu- Ảnh 10.

Một góc Khu du lịch Bắc bán đảo Cam Ranh. (Ảnh: Báo Khánh Hòa)

Về thách thức và yêu cầu: Tuy tiềm năng rất lớn, nhưng Việt Nam cũng đứng trước những yêu cầu khắt khe. Đầu tiên là quy hoạch tích hợp: Phải đảm bảo sự đồng bộ giữa sân bay, cảng biển và không gian đô thị, tránh tình trạng manh mún, mạnh ai nấy làm. Thứ hai là chuẩn xanh và khả năng chống chịu: biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xói lở bờ biển là những rủi ro hiện hữu, buộc mô hình phát triển phải tính toán ngay từ đầu. Thứ ba là cơ chế quản trị liên thông: cần có một thiết chế điều phối vùng, vượt qua ranh giới hành chính tỉnh - xã, để đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả. Và cuối cùng, phải bảo đảm bản sắc và giá trị cộng đồng: đô thị biển liền kề sân bay không chỉ là "sản phẩm bất động sản" mà phải trở thành không gian sống, làm việc, nghỉ dưỡng hài hòa với văn hóa - lịch sử của địa phương.

Tóm lại, Việt Nam đang hội tụ đủ điều kiện thiên nhiên, hạ tầng và chính sách để phát triển mô hình đô thị biển liền kề sân bay. Đây là không gian phát triển mới, vừa gắn với chiến lược kinh tế biển, vừa kết nối trực tiếp với chuỗi giá trị toàn cầu. Vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là "có nên làm hay không", mà là làm thế nào cho đúng tầm, đúng cách - quy hoạch tích hợp, cơ chế linh hoạt và phát triển bền vững.

Từ ngàn đời, biển luôn là khát vọng vươn khơi của dân tộc Việt Nam; bầu trời luôn là giấc mơ chinh phục của những thế hệ đi trước. Ngày nay, khi nói về đô thị biển liền kề sân bay quốc tế, ta đang nói về sự hội tụ kỳ diệu của trời và biển, của khát vọng và hiện thực, của bản sắc dân tộc và xu thế toàn cầu.

Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu- Ảnh 11.

Nhà báo Phạm Nguyễn Toan - Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam, Chủ tịch Liên chi hội Bất động sản công nghiệp Việt Nam.

Thế giới đã chứng kiến những kỳ tích đô thị sân bay, từ Incheon của Hàn Quốc, Changi của Singapore, đến Schiphol của Hà Lan. Ở đó, sân bay không chỉ là nơi cất hạ cánh mà trở thành trái tim đập nhịp cho cả nền kinh tế, là trung tâm kết nối logistics, tài chính, thương mại, văn hóa, du lịch. Và ở đó, mỗi cánh chim rời khỏi đường băng đều mang theo khát vọng của một quốc gia. Các sân bay quốc tế hiện đại trở thành "tâm mạch" để phát triển các đô thị sầm uất, trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa của khu vực.

Không chỉ là một xu hướng của thị trường bất động sản, mô hình đô thị biển liền kề sân bay còn gợi mở tầm nhìn chiến lược trong hành trình đưa Việt Nam trở thành quốc gia hùng cường từ biển, quốc gia hàng không hiện đại và quốc gia đô thị thông minh - bền vững - nhân văn vào giữa thế kỷ XXI. Đó chính là khát vọng dựng xây một Việt Nam hùng cường, nơi biển là bệ phóng, bầu trời là không gian mở và đô thị thông minh - bền vững - nhân văn là đích đến.

Đó là tầm nhìn chiến lược gắn kết ba hạ tầng trụ cột: Sân bay, cảng biển, đô thị dịch vụ, tạo ra sức bật mới của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong bối cảnh Việt Nam đang ngày một hội nhập sâu rộng với thế giới, thực hiện chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước về phát triển bền vững kinh tế biển và hạ tầng hàng không, nước ta đang khẩn trương hoàn thiện và nâng cấp hàng loạt sân bay quốc tế đạt chuẩn khu vực, tạo nên các "hạt nhân" phát triển kinh tế vùng và mang lại tác động vô cùng tích cực lên thị trường bất động sản phụ cận. Đây là chỉ báo tin cậy cho xu hướng kết hợp hạ tầng hàng không - đô thị - logistics - dịch vụ ở nước ta trong thời gian tới.

Tôi muốn nhấn mạnh một thông điệp: Ở đâu có sân bay quốc tế hiện đại, ở đó có cơ hội hình thành những cực tăng trưởng mới; ở đâu có sự hội tụ của trời và biển, ở đó có thể khai mở những giấc mơ lớn lao.

Những đường băng hôm nay không chỉ để cất cánh những chuyến bay, mà còn để cất cánh những khát vọng phát triển của đất nước. Mỗi đô thị biển liền kề sân bay quốc tế sẽ không chỉ là nơi để ở, nơi để nghỉ dưỡng, mà còn là nơi mở ra không gian phát triển mới cho cả một vùng, một thế hệ.

Và, khi các quốc gia khác tự hào có Incheon, Changi, Dubai, thì Việt Nam hoàn toàn có thể khát vọng về một biểu tượng mới của đô thị sân bay hướng biển, mang bản sắc Việt nhưng tầm vóc quốc tế. Không có lực cản nào ngăn nổi một đô thị hội tụ đủ thiên thời - địa lợi - nhân hòa, nếu có tầm nhìn lớn và quyết sách đúng đắn./.

Phát triển đô thị sân bay: Cần tầm nhìn chiến lược đủ dài để biến các "cửa ngõ hàng không" thành cực tăng trưởng mang tính toàn cầu- Ảnh 12.

 

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top