Nơi tôi sống
Về làng cùng Tết

Về làng cùng Tết

Lũy tre bỏ đi, làng mở ra, cây đa chỉ còn là ký ức, là hướng nhìn về chứ không phải để đánh dấu làng, người dân đi tứ xứ kiếm ăn. Làng nở ra vô tận...

06:06, 25/01/2020

Tôi vừa về thăm lại cái làng mà hồi nhỏ tôi gắn bó lâu nhất. Sở dĩ nói thế, bởi thế hệ tôi đa phần là phải lang thang sơ tán. 

Những người có hoàn cảnh như tôi nhiều lắm. Ba quê Nam, mẹ quê Bắc, gặp nhau ở một tỉnh trung gian, lấy nhau, sinh con đẻ cái, rồi cả gia đình cứ chu du trên xe đạp, sơ tán hết chỗ này tới chỗ khác. Hai nơi in đậm trong trí óc non nớt của tôi là cái làng Đa Giá quê ngoại ở Ninh Bình, sống ở đấy rất ít nhưng đầy ký ức. Và thứ hai, là cái làng tôi đang nói đây, làng Phú Điền, Triệu Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa, nơi có đền Bà Triệu nổi tiếng, giờ là di tích lịch sử cấp quốc gia. Tôi đã ở đấy cho tới khi học hết cấp ba thì mới chuyển về quê nội ở Huế vì lúc ấy cũng vừa năm 1975.

Vừa rồi về lại, ngủ lại, đi thăm lại những nơi mình từng sống, từ cái thuở cấp 2, cho tới lúc tim biết loạn lên vì một mớ tóc lòa xòa của cô bé hàng xóm vô tình dựa bên cửa sổ. Thấy tất cả nó... bé tẹo.

Này là cái con nông giang mà nhờ nó tôi biết bơi. Hồi ấy miền Bắc làm thủy lợi rất tốt, họ đào những nông giang xuyên huyện, chằng chịt khắp nơi. Xuyên đến mấy huyện là cái mương chính, dài mấy chục cây số và rộng, sâu, có thể bơi thoải mái. Anh em chúng tôi ra đấy bơi, từ dùng phao thân cây chuối tới bắt chuồn chuồn cắn rốn, để rồi tôi bơi rất giỏi. 

Nhớ có lần xuống Nha Trang, mấy anh bạn biển nghĩ tôi ở Tây Nguyên thì không biết bơi bèn... thách. Tôi làm một hơi cả cây số, ngoái lại thì các bạn tôi vẫn đang lóp ngóp phía sau. Lúc ấy mới khoan khoái thông báo: “Tớ quê nội sông Hương, quê ngoại sông Đáy, và sinh ra lớn lên bên bờ sông Mã nhé, đừng đùa với tớ nhé”.

Ơ thế mà giờ nó bé tí, như cái rãnh, nước liu hiu vật vờ. Tất nhiên hai bên bờ thì lại thành đường rất to, đường nhựa hẳn hoi, hai ô tô tránh nhau được. Vật đổi sao dời, mấy chục năm, mương thành rãnh và bờ đê nông giang thành đường liên xã. Và cũng bởi là, những cánh đồng lúa từng xanh mướt mạ, vàng ươm lúa ngày xưa, giờ đã thành... phố. Mà phố thì cần gì nông giang. Cần đường hơn chứ.

Cũng như thế, là cái ngõ nhà bà ngoại tôi. Ngày xưa chúng tôi phải cõng nhau lên để nhìn sang phía bên kia, để bắt những con ốc sên nho nhỏ trên bờ rào xương rồng bẹ. Giờ, nó chật và bé đến một mình đi mà cứ sợ đụng những viên đá xanh làm ngõ. Và ngay cái nhà gỗ lim của bà cũng thế, giờ thấy nó tí hin, thế mà đã từng là lâu đài của chúng tôi.

Đã đành chúng ta lớn lên, thì ngay đến mẹ cũng bé lại, vì lưng mẹ còng xuống. Nhưng cũng phải thấy thêm một điều nữa, làng đang nở ra. Tôi dùng nở chứ không mở, bởi mở từ khá lâu rồi.

Ấy là từ khi hợp tác hóa, người ta xóa tên làng, đưa tên hợp tác xã vào. Một là đặt tên theo số, hai là tên mới như Thống Nhất, Đoàn Kết, Tiến Lên, Hợp Nhất, vân vân... Các lũy tre chỉ còn trong ký ức bởi ý tưởng "ruộng đồng bao la đẹp như gấm hoa". 

Trước đấy, làng lấy lũy tre làm biên giới. Phép vua thua lệ làng. Phép vua là lớn nhất, nhưng đến lũy tre làng là phải dừng lại, bởi ở đấy là một thế giới khác. Nó vừa tuân thủ phép nước, vừa song song lệ làng tồn tại. 

Và trong chừng mực nào đấy, lệ làng mới là cái mà người dân phải tuân theo đầu tiên. Chỉ vài ba chức việc trong làng phải theo phép nước, còn tuyệt đại dân làng theo lệ làng. Không theo ư, đơn giản là anh sẽ phải sống một mình. Giỗ không ai tới, cưới không ai sang, và kinh nhất là, chết không có người đưa đám.

Lũy tre bỏ đi, làng mở ra, cây đa chỉ còn là ký ức, là hướng nhìn về chứ không phải để đánh dấu làng, người dân đi tứ xứ kiếm ăn. Làng nở ra vô tận...

Người Việt tha phương, nhiều người thành đạt, họ trở về mang cả làng đi theo, theo cái nghĩa thứ nhất là về quê đưa anh em bà con, thậm chí cả dòng họ đi. Rồi họ lập làng mới, đặt tên hẳn hoi. Làm nhà thờ họ, làm đình làng, cũng hương ước, lệ làng, tôn ti trật tự như... ở làng. Làng di chuyển như thế, nở ra như thế. Những ngày hội làng ở quê mới là dịp để họ phô diễn sắc quê. Từ giọng/tiếng nói đầy bản sắc mà ngày thường họ phải nén lại, đến món ăn, đến cách ứng xử, tên gọi... như ta đang sống ở chính vùng quê ấy.

Thừa Thiên Huế có một làng vàng nổi tiếng, là làng Kế Môn. Mấy trăm năm trước, ông Cao Đình Độ từ Thanh Hóa mang theo nghề vàng vào lập nghiệp ở đây. Rồi Kế Môn trở thành tổ của nghề vàng phía Nam. 

Dân làng tứ tán làm ăn. Đến bất cứ tỉnh thành nào, thấy các tiệm vàng lớn thì đa phần là của người Kế Môn. Không làm chủ thì cũng là thợ chính, thợ cấp cao. Và họ lập những làng vàng ở khắp nơi như thế. 

Hằng năm tổ chức cúng giỗ ở cả hai nơi. Về Kế Môn là những đại gia, hàng đoàn xe xịn ùn ùn về cái làng cát ven biển một thời rất nghèo, giờ giàu hơn phố này. Còn lại thì làm lễ tại "làng" mới, cũng gọi cúng làng, cũng đầy đủ thủ tục. Còn hơn ở quê, bởi ở đây đông hơn, và ở đây không chỉ những người nói tiếng Huế nữa, mà pha khắp nơi, ấy là chồng/vợ con của họ, thợ của họ..., ở quê mới.

Thì đấy là kiểu nở ra (quê mới) và teo lại (quê cũ).

Ở quê, giờ chỉ còn người già và trẻ con. Người lớn đi làm ăn hết. Họ bung ra bằng nhiều con đường, trong đấy có những con đường không chính thống, mà dắt díu nhau, ngầm thông báo cho nhau... đi kiếm ăn, rồi Tết lại quay về. Cái rất hay của người Việt là đi đâu làm đâu, Tết là phải về quê, Tết như là một cái neo giữ người Việt trở lại với làng, là nơi để con người gửi gắm ký ức, nơi phần tốt đẹp được cất giữ và thăng hoa. Và làng là nơi họ đau đáu ở xứ người để mà tịnh tâm phấn đấu, mà sống và kiếm tiền để..., mang về làng.

Tiền kiếm được mang một phần về làng để cho/biếu bà con anh em, cũng để thể hiện mình, dù có khi cũng chả có gì thật nhiều. Số giàu hơn, làm ăn tốt hơn thì ủng hộ làng làm đường, làm nhà thờ, xây mồ mả. Nhà thờ họ Văn của tôi ở quê có hẳn một bác làm ăn ở Đắk Lắk mang về cung tiến 500 triệu đồng và toàn bộ gỗ để làm lại. Hàng năm trai họ đóng góp một khoản tượng trưng để phục vụ tế lễ thường kỳ và cúng bái dịp Tết đến xuân về.

Tết để trở về. Về với làng, với truyền thống, với ân nghĩa quê hương. Nhưng hàng triệu người rùng rùng trở về, chủ yếu là ra Bắc trên tất cả mọi loại phương tiện, trong một thời gian ngắn, rồi sau đấy lại nguyên đội hình ấy, ra đi, thì quả là những hệ lụy không nhỏ. Những cuộc di chuyển tập thể ấy nó khiến không khí Tết, rạo rực xuân nhiều khi không còn thanh nhã nữa... 

Nhưng người Việt là thế. Trừ một số ít khóa cửa nhà đi du lịch, còn lại là tay nải để trở về quê. Hóa ra, làng dù có thế này thế kia, dù có teo lại hay dịch chuyển, thì vẫn là một nơi để mà con người có thể lặn vào, vui buồn với nó. Về để được thật là mình, để sống tận cùng cảm xúc, để hiểu hết nghĩa của hai từ quê hương...

Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự


TOP