Biến đổi khí hậu và xu hướng đô thị xanh, thông minh tại Việt Nam
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng gia tăng, giải pháp đô thị xanh, đô thị thông minh sẽ là các xu hướng tất yếu để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế xanh của Việt Nam. Với mục tiêu Net Zero vào năm 2050, Việt Nam cũng đã xây dựng các kế hoạch phù hợp với Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu. Các xu hướng nghiên cứu và phát triển đô thị xanh, đô thị thông minh ngày càng được chú trọng, điều này giúp hạn chế những tác động của thời tiết cực đoan, đồng thời giảm hiệu ứng nhà kính.
Bài viết đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến con người và các ngành, lĩnh vực, trong đó ngành xây dựng chịu tác động rất lớn; đồng thời đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm phát triển đô thị xanh, đô thị thông minh, từ đó góp phần quan trọng vào phát triển thị trường xây dựng theo hướng tiết kiệm, sử dụng hiệu quả năng lượng và bảo vệ môi trường.
TS. KTS. Lê Thị Bích Thuận - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển hạ tầng
“Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và ảnh hưởng đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”, theo Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
Những ảnh hưởng đầu tiên do biến đổi khí hậu gây ra có thể nhận thấy là hạn hán, lũ lụt, tác động đến nguồn nước, hệ sinh thái nông nghiệp, rừng và sức khỏe con người… Ảnh hưởng rõ nhất có thể kể đến là nhiệt độ cao, tăng số lượng và diện tích các vùng hạn hán - sa mạc hóa, tăng cường mức độ bão, nước biển dâng, tăng tốc xói lở bờ biển, tăng độ mặn và các chất rắn trong nước biển, tăng các dòng chảy của sông… Những ngành bị tổn thương lớn nhất do biến đổi khí hậu là nông nghiệp, thủy sản, du lịch... Trong khi đó, đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là người dân ở khu vực miền núi và ven biển, nhất là người nghèo, phụ nữ và trẻ em.
Những biểu hiện của biến đổi khí hậu. (Ảnh: Báo Chính phủ)
Biến đổi khí hậu làm thu hẹp diện tích đất canh tác, giảm sản lượng và năng suất cây trồng, dự báo gây tổn thất khoảng 0,4% GDP vào năm 2030. Hơn nữa, nhiệt độ môi trường tăng làm năng suất lúa giảm, dự báo giảm khoảng 4,2%/năm và mực nước biển dâng 13cm vào năm 2030 sẽ làm năng suất lúa giảm 9%. Biến đổi khí hậu cũng làm giảm trữ lượng của các loài thủy sản. Dự báo đến năm 2030, thiệt hại của ngành thủy sản có thể lên đến gần 1,6% GDP. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu làm sụt giảm nguồn cung nguyên liệu do nước biển dâng gây ngập lụt cho các khu công nghiệp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm.
Đặc biệt, biến đổi khí hậu sẽ làm cho các nguồn tài nguyên ngày càng suy giảm. Suy thoái, cạn kiệt nguồn nước mặt, nước ngầm, tình trạng thiếu nước, khan hiếm nước trở nên phổ biến hơn. Nguồn cung năng lượng hóa thạch cũng ngày càng cạn kiệt. Về lao động, biến đổi khí hậu thúc đẩy nhanh hơn chuyển đổi việc làm từ nông nghiệp sang các ngành khác, khiến một bộ phận lớn lao động di cư từ nông thôn ra các đô thị và làm gia tăng áp lực cho khu vực thành thị.
Minh họa hiện tượng hiệu ứng nhà kính. (Ảnh: Netzero.vn)
Nhiều nghiên cứu cho thấy, tính bất thường của điều kiện thời tiết, khí hậu ở Việt Nam sẽ ngày càng diễn biến phức tạp. Nguy cơ chịu tác động xấu của các hiện tượng cực đoan có xu hướng ngày càng gia tăng. Mức độ rủi ro đối với các hiện tượng thời tiết nguy hiểm ngày càng cao khi thời gian gần đây, Việt Nam thường xuyên phải hứng chịu những cơn “thịnh nộ” của thiên nhiên. Mặc dù số ngày rét đậm, rét hại về mùa đông giảm đi nhưng nguy cơ chịu những đợt rét kéo dài như năm 2008, hay rét sâu hơn đến mức tuyết có thể rơi ở vùng núi Tây Bắc Nghệ An như năm 2016… vẫn có thể xảy ra. Mưa đá với kích thước lớn kỷ lục ở Yên Bái năm 2013 là một ví dụ khác; bão Haiyan mạnh kỷ lục năm 2013, bão cuối mùa tàn phá khu vực Phú Yên - Khánh Hòa năm 2017.
Đặc biệt, 2025 được ghi nhận là một năm thiên tai phức tạp, khi nhiều hình thái nguy hiểm xuất hiện trên phạm vi rộng, nối tiếp và chồng lấn: Bão - mưa lớn diện rộng - lũ lụt, kèm lũ quét và sạt lở đất. Hay trước đó, tháng 9/2024, cơn bão số 3 (Yagi) hoành hành đã gây ra lụt lội, sạt lở, lũ quét tại miền Bắc. Bởi vậy, tác động của biến đổi khí hậu do các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan ở Việt Nam có lẽ cũng sẽ có chiều hướng khắc nghiệt hơn.
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra chất thải khí nhà kính, hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định 6 loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6. Tất cả các loại khí này đều có đặc tính hấp thụ tia bức xạ hồng ngoại từ bề mặt trái đất lên không gian, làm trái đất nóng lên dẫn đến biến đổi khí hậu.
Thiên tai tại Việt Nam năm 2025 gây thiệt hại lớn về người và của. (Ảnh: TTXVN)
Trong điều kiện Việt Nam, khi mà cơ sở hạ tầng còn quá kém, nhận thức của người dân chưa đầy đủ, trình độ khoa học kỹ thuật chưa cao, độ chính xác của các bản tin dự báo còn nhiều hạn chế và do bản chất không dự báo được của chính các hiện tượng (vì quy mô quá nhỏ), thì việc phải đối mặt với những hiện tượng bất thường của điều kiện thời tiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay sẽ càng nguy hiểm hơn. Bởi vậy, có rất nhiều việc phải làm để hạn chế, giảm thiểu thiệt hại do tác động của biến đổi khí hậu. Trong đó, cần “quy hoạch thành phố hợp lý, phải có phương án bố trí mật độ dân cư, hệ thống giao thông, diện tích mặt nước thoáng, diện tích cây xanh theo quy chuẩn”.
Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta phải thay đổi đáng kể cách xây dựng và quản lý không gian đô thị. Cuộc sống đô thị bền vững là một trong 17 mục tiêu toàn cầu trong Chương trình nghị sự COP26. Hơn nữa, sự biến đổi khí hậu và một vài mô hình đô thị hóa có thể dẫn tới tăng mức độ dễ bị tổn thương ở các nước đang phát triển. Quy hoạch đô thị và cơ sở hạ tầng đang mở ra cơ hội để lồng ghép tăng trưởng xanh vào quá trình lập quy hoạch và hoạch định chính sách. Tiếp cận để tạo dựng đô thị xanh là các biện pháp giảm nhẹ và thích ứng biến đổi khí hậu, thúc đẩy chu trình kinh tế và cải thiện môi trường vì phúc lợi của người dân.
Một khu đô thị xanh đúng nghĩa là nơi mọi người không chỉ tận hưởng cuộc sống với những tiện nghi hiện đại, mà còn được tận hưởng thiên nhiên trong lành ngay trong khu phố nhà mình. Đồng thời, việc tích hợp nhiều tiện ích nâng tầm chất lượng sống, gắn kết cộng đồng trong nội khu cũng được đặc biệt chú trọng. Phát triển đô thị xanh là xu hướng đặc biệt thích hợp với các đô thị có lợi thế về khí hậu và địa hình tự nhiên phong phú, đa dạng; các đô thị trung bình và đô thị nhỏ với lợi thế dễ dàng phát triển thành các đô thị du lịch, đô thị truyền thống làng nghề, cho phép khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững, hạn chế xây dựng mà vẫn tạo nguồn lực phát triển đô thị, hạn chế việc khai thác tài nguyên theo kiểu làm gia tăng các quỹ đất dành cho xây dựng, dẫn đến bê tông hóa bề mặt đô thị.


Khu đô thị Ecopark.
Phát triển đô thị tăng trưởng xanh ở Việt Nam nhằm thúc đẩy chuyển dịch mô hình tăng trưởng kinh tế đô thị theo hướng xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo phát triển kinh tế khu vực đô thị nhanh, hiệu quả, bền vững, góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, nâng cao năng lực chống chịu ứng phó biến đổi khí hậu của hệ thống các đô thị, đóng góp cho cam kết quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính.
Đô thị xanh trong các mục tiêu phát triển đô thị Việt Nam cần được rà soát, điều chỉnh các định hướng, chiến lược và quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia, quy hoạch xây dựng vùng tỉnh, vùng liên tỉnh, quy hoạch đô thị, quy hoạch một số lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật đô thị tại các đô thị lớn, lồng ghép mục tiêu phát triển đô thị tăng trưởng xanh và ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Đồng thời hình thành cơ chế đối thoại chính sách định kỳ với các doanh nghiệp, các đối tác phát triển về phát triển đô thị tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu - nước biển dâng và các chính sách phát triển đô thị; phấn đấu thực hiện thí điểm xây dựng đô thị tăng trưởng xanh tại ít nhất bình quân một đô thị trên mỗi vùng kinh tế - xã hội.
Giải pháp xây dựng đô thị nén kết hợp không gian mở
Giải pháp đô thị nén (compact city) là một lựa chọn quan trọng của đô thị xanh hướng tới mục tiêu sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, bao hàm sự hợp lý về mối liên hệ giữa các thành tố của đô thị, có đủ điều kiện bảo đảm chất lượng tiện nghi đô thị và môi trường sống mà vẫn tiết kiệm được nguồn đầu tư cũng như năng lượng cung cấp cho mạng lưới hạ tầng kỹ thuật vận hành phục vụ đô thị. Lựa chọn mô hình phát triển theo hướng tập trung để tiết kiệm đất đai, không chỉ cần thiết vận hành đối với các đô thị mới, mà cả với các đô thị cải tạo chỉnh trang cũng hoàn toàn có thể tính tới giải pháp này để giảm chi phí năng lượng, chủ yếu trong giao thông và vận hành mạng lưới kỹ thuật hạ tầng. Lựa chọn khu vực mật độ xây dựng cao để dành quỹ đất tạo không gian mở, dành lại các quỹ đất hợp lý cho cây xanh và công trình công cộng.
Đô thị dạng nén Đô thị phát triển theo hành lang giao thông
Hình thức đô thị nén sẽ tạo thuận lợi trong việc tiếp cận các dịch vụ đô thị, định hướng quy hoạch đô thị có thể dựa trên các nguyên tắc để phân bổ các dịch vụ đô thị. Hình thành các khu vực chủ đạo của một đô thị theo xu thế phát triển đô thị hiện đại có cấu trúc gồm đơn vị ở, các khu vực chuyên biệt và các hành lang không gian. Phân bổ một số chức năng chính như trung tâm đô thị, các khu ở, làm việc, nghỉ ngơi, giải trí, với từng đô thị đều có các yêu cầu khác nhau cùng những lựa chọn phát triển riêng biệt, tuy nhiên vẫn tuân thủ nguyên tắc chung cho một đơn vị ở bền vững có quy mô 7.000 - 8.000 người, quy mô đất 40 - 50ha, mật độ ở 160 - 200 người/ha, khoảng cách đảm bảo đi bộ từ trung tâm đến biên là 5 phút và có phương án tiếp cận mạng lưới giao thông công cộng đô thị tốt.
Giải pháp mật độ đô thị hợp lý trong sử dụng đất đô thị
Mô hình xây dựng mật độ cao kết hợp với giải pháp phát triển hỗn hợp sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng và tiết kiệm đất đai xây dựng. Khu vực mật độ cao nên được bố trí tại nơi có tiềm năng về thương mại, giao lưu so với các khu vực xung quanh để vừa khai thác hiệu quả yếu tố vị trí và hệ thống giao thông, vừa nâng cao giá trị sử dụng đất tại những khu vực như khu trung tâm thương mại đô thị, trung tâm khu ở, dọc các trục thương mại, khu vực cửa ngõ đô thị, đầu mối giao thông…
Tại các khu vực có ưu thế tiếp cận không gian tự nhiên, quỹ đất tiếp giáp với không gian như công viên, hồ nước, đồi, núi nên được xây dựng mật độ cao để tận dụng ưu thế vị trí và cảnh quan, đặc biệt đối với khu vực trung tâm đô thị, khu đô thị. Các giải pháp tạo điều kiện để khu vực có mật độ xây dựng cao nhưng vi khí hậu vẫn được duy trì, đặc biệt với các đô thị nhỏ khu vực miền Trung Tây Nguyên, còn với các đô thị lớn không thể có những lợi thế này.
Giải pháp hạ tầng kỹ thuật và giao thông theo hướng hạ tầng xanh, phát triển giao thông công cộng hạn chế phát thải khí carbon
Phát triển đô thị theo hướng đô thị nén sẽ đạt được mục tiêu về chi phí xây dựng và vận hành hệ thống cung cấp các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật, giảm chi phí năng lượng. Trong giải pháp chiếu sáng đô thị, cần tiếp cận với các công nghệ sản xuất thiết bị chiếu sáng đô thị có khả năng tiết kiệm năng lượng, sử dụng hệ thống chiếu sáng công cộng bằng pin sử dụng năng lượng mặt trời. Trong giải pháp cấp thoát nước đô thị, cần bổ sung các chiến lược sử dụng công nghệ xử lý để tái sử dụng nguồn nước thải cho tưới cây, rửa đường, sử dụng cho các thiết bị vệ sinh... Trong giải pháp xử lý rác thải, có chiến lược dùng khí bể bioga cho từng khu đô thị để sử dụng khí tái chế vào việc đun nấu cũng như sử dụng cho ô tô công cộng…


Giải pháp hạ tầng kỹ thuật (Nguồn: Urban design - a typology of procedures and products, Jon Lang)
Các giải pháp giao thông đô thị cho đô thị xanh cần được thiết kế dựa trên đặc điểm địa hình, tạo trục cảnh quan, hướng chiếu sáng thuận lợi và đồng thời tạo các trục lưu thông không khí cho đô thị. Mật độ lưới đường phù hợp với sử dụng đất, tổ chức không gian để tăng hiệu quả đất đai. Quy mô đường và không gian lưu thông đủ điều kiện để tổ chức giao thông công cộng, không gian để đi bộ hoặc xe đạp, giải pháp cây xanh đường phố, mặt lát đường... góp phần cải tạo vi khí hậu và bảo vệ không gian đô thị. Mạng giao thông hợp lý, đô thị phát triển tập trung hơn sẽ giúp các dịch vụ cung cấp hạ tầng kỹ thuật đô thị hoạt động hiệu quả và giảm được chi phí năng lượng để vận hành mạng lưới. Cấu trúc của hệ giao thông đô thị sẽ quyết định tới khả năng khai thác và sử dụng đất. Đồng thời cơ cấu sử dụng đất sẽ quyết định tới nhu cầu đi lại.
Giải pháp tổ chức không gian xanh, không gian mở đô thị
Một trong các tiêu chí rất quan trọng của đô thị xanh là thiết kế không gian xanh cho mục đích giảm chi phí năng lượng, cải thiện vi khí hậu; lựa chọn bố trí không gian mở có chức năng phục vụ đô thị như các công viên, cảnh quan mặt nước, thảm cây xanh đô thị, khu thể thao, công viên giải trí, công viên văn hóa, khu du lịch, vườn thực vật, vườn ươm, khu bảo tồn thiên nhiên. Các đô thị có đặc trưng địa hình tự nhiên là bán sơn địa hoặc núi cao, có thể bị hạn chế bởi sự thay đổi cao độ của địa hình tạo ra các vùng vi khí hậu không thuận lợi do bị che chắn, cần được đánh giá và lựa chọn mức độ khai thác, hạn chế xây dựng.
Các không gian mở trong đô thị có hiệu quả cao nhất khi tiếp cận với không gian nhà ở và không gian công cộng, tiện nghi cho sử dụng và phân bổ phù hợp với các khối kiến trúc công trình. Không gian mở như các quảng trường, tuyến phố là không gian công cộng gắn với hệ thống giao thông đô thị, đặc biệt là giao thông công cộng. Mức độ sử dụng hiệu quả của một không gian mở được xác định theo ngưỡng diện tích để vị trí phù hợp loại hình và bán kính phục vụ. Bên cạnh đó, chỉ tiêu cây xanh đô thị là một chỉ số có hiệu quả cao nhất khi được phân bổ hợp lý trong các khu vực xây dựng tạo nên đô thị xanh.
TechnoPark Tower thuộc đại đô thị Vinhomes Ocean Park (Hà Nội) đạt chứng nhận LEED Platinum v4. (Ảnh: VHS)
Vài năm trở lại đây, biến đổi khí hậu đã tác động trực tiếp đến Việt Nam qua nhiều hiện tượng thiên nhiên như bão lụt, lũ quét, sạt lở đất... ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều vùng của đất nước. Chính vì vậy, giải pháp đô thị xanh, đô thị thông minh để thích ứng, giảm nhẹ, đảm bảo khả năng xoay chuyển linh hoạt, đa dạng trước các tác động của biến đổi khí hậu là xu hướng tất yếu của ngành xây dựng Việt Nam nhằm đáp ứng được các giá trị về kinh tế, văn hóa, công nghệ, các yêu cầu và chất lượng cuộc sống trong hiện tại và tương lai.
Theo đó, một số kiến nghị hành động để phát triển đô thị xanh, đô thị thông minh có hiệu quả và thiết thực được đưa ra như sau:
(1) Bộ Xây dựng là cơ quan đầu mối, chủ trì, phối hợp tổ chức, huy động sự tham gia của tất cả các Bộ ngành, các tổ chức, cơ quan, các hội nghề nghiệp và các bên liên quan khác để tổ chức xét, công nhận, cấp chứng chỉ và trao giải thưởng đối với các đô thị xanh - đô thị thông minh. Tổ chức các giải thưởng, sự kiện tôn vinh các doanh nghiệp tiên phong thực hiện đô thị xanh - đô thị thông minh, các đơn vị tư vấn có nhiều đóng góp, các địa phương có số lượng đô thị xanh gia tăng mạnh mẽ.
(2) Phát triển nghiên cứu khoa học công nghệ về các giải pháp quy hoạch và xây dựng đô thị xanh phù hợp với điều kiện Việt Nam. Rà soát, bổ sung, sửa đổi và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thúc đẩy phát triển đô thị xanh - đô thị thông minh.
(3) Tổ chức đào tạo nhân lực có đủ trình độ để phát triển đô thị xanh - đô thị thông minh. Tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức về đô thị xanh - đô thị thông minh cho cộng đồng.
(4) Huy động sự tham gia phát triển đô thị xanh - đô thị thông minh của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp.
(5) Tăng cường quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế trong phát triển đô thị xanh - đô thị thông minh ở Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
1. Đề tài “Nghiên cứu đô thị phát triển theo hướng tiết kiệm năng lượng” - Viện Kiến trúc Quy hoạch đô thị và nông thôn, nay là Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia (Bộ Xây dựng).
2. Architecture & Building Reseach Institute, Ministry of the Interior, Taiwan, “Good to be Green - Green Building Promotion Policy in Taiwan”, 2006.
3. PGS. TS. Phạm Đức Nguyên, TS. Nguyễn Thu Hòa, Phạm Quốc Bảo, “Các giải pháp kiến trúc khí hậu Việt Nam”, NXB Khoa học Kỹ thuật, 2006.
4. USGBC. LEED. Green Building Rating System for New Construction & Major Renovations, Version 2.2. For Public Use and Display, 2005.
5. Đề tài NCKH “Nghiên cứu mô hình Kiến trúc xanh tại Việt Nam nhằm sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”, TS. KTS. Lê Thị Bích Thuận.





