Hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất - kinh doanh
Theo Điều 4 Nghị định 20/2026/NĐ-CP, Nhà nước triển khai các chính sách hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng và sử dụng quỹ đất tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 7 Nghị quyết 198/2025/QH15.
Theo đó, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm công khai đầy đủ thông tin về quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật; tiêu chí, định mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; đồng thời công bố rõ diện tích quỹ đất dành riêng cho các nhóm doanh nghiệp ưu tiên trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp và vườn ươm công nghệ.
Đáng chú ý, trong thời gian xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng theo tiến độ được phê duyệt, chủ đầu tư không được thu tiền thuê đất đối với phần diện tích đất xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ thuộc diện hỗ trợ.
Trường hợp khu công nghiệp được phân kỳ đầu tư theo giai đoạn, diện tích đất được xác định tương ứng với từng giai đoạn. Sau 2 năm kể từ khi hoàn thành đầu tư hạ tầng của mỗi giai đoạn, nếu không có doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê đất, chủ đầu tư được quyền cho các doanh nghiệp khác thuê lại theo quy định.

Nghị định 20 hướng dẫn giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh.
Những quy định trên sẽ góp phần giảm áp lực chi phí tài chính cho chủ đầu tư ngay từ giai đoạn đầu, đặc biệt đối với khâu phát triển hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các không gian sản xuất tập trung. Việc giảm chi phí đầu vào ở giai đoạn này tạo dư địa kinh tế để chủ đầu tư hạ tầng điều chỉnh mức giá thuê lại theo hướng hợp lý hơn, qua đó hạ thấp rào cản tiếp cận mặt bằng đối với doanh nghiệp thứ cấp.
Đồng thời, cơ chế linh hoạt trong sử dụng quỹ đất theo tiến độ đầu tư, nhưng vẫn gắn với “thời hạn chờ” 2 năm dành riêng cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Điều này tạo điều kiện để các nhóm doanh nghiệp ưu tiên có cơ hội tiếp cận quỹ đất phù hợp với khả năng tài chính và tiến độ chuẩn bị dự án, đồng thời tránh tình trạng quỹ đất bị giữ kéo dài mà không phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội.
Nghị định 20 cũng hướng dẫn rõ việc hoàn trả khoản hỗ trợ giảm tiền thuê lại đất tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ. Theo Điều 5 Nghị định, việc hoàn trả được thực hiện trên cơ sở cụ thể hóa khoản 6 Điều 7 Nghị quyết 198/2025/QH15. UBND cấp tỉnh có trách nhiệm công khai thông tin, làm rõ căn cứ áp dụng mức giảm tiền thuê lại đất đối với các đối tượng được hỗ trợ.
Đối tượng được xem xét hoàn trả là chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ đã cho doanh nghiệp thuê đất và thu tiền thuê đất theo đúng quy định. Việc hoàn trả được thực hiện khi chủ đầu tư đáp ứng đầy đủ các điều kiện: có quỹ đất cho doanh nghiệp thuộc diện hỗ trợ thuê lại theo quyết định của UBND cấp tỉnh; đã ký hợp đồng cho thuê đất với doanh nghiệp, trong đó thể hiện rõ mức giá thuê đã được giảm theo quy định của Nghị quyết 198/2025/QH15; đồng thời doanh nghiệp đã hoàn tất việc thanh toán tiền thuê đất theo hợp đồng trong năm đề nghị hoàn trả.
Việc hoàn trả được thực hiện theo hai cách. Trường hợp chủ đầu tư thuê đất trả tiền hằng năm nhưng chưa đến thời hạn nộp tiền thuê đất, khoản hỗ trợ giảm tiền thuê lại đất sẽ được bù trừ trực tiếp vào nghĩa vụ tiền thuê đất phải nộp trong năm. Nếu khoản được giảm lớn hơn số tiền thuê đất phải nộp, phần chênh lệch sẽ được hoàn trả từ ngân sách nhà nước.
Trường hợp chủ đầu tư đã nộp đủ tiền thuê đất hoặc được Nhà nước cho thuê đất không thu tiền thuê đất, khoản hỗ trợ giảm tiền thuê lại đất sẽ được hoàn trả trực tiếp từ ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, Nhà nước còn hỗ trợ doanh nghiệp thuê nhà, đất là tài sản công theo khoản 4 Điều 8 Nghị quyết 198/2025/QH15. Cụ thể, việc hỗ trợ được thực hiện thông qua áp dụng mức giá thuê thấp hơn khung giá cho thuê nhà, đất là tài sản công theo quy định của Chính phủ.
Đối tượng được hưởng chính sách này gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và hộ kinh doanh, qua đó góp phần giảm chi phí đầu vào, tạo điều kiện mở rộng sản xuất - kinh doanh và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.
Hướng dẫn cụ thể chủ trương ưu đãi thuế cho khu vực tư nhân
Cùng với các chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai và mặt bằng sản xuất - kinh doanh, Điều 7 Nghị định 20 hướng dẫn, cụ thể hóa các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đã được xác lập tại Nghị quyết 198/2025/QH15, qua đó hoàn thiện khung hỗ trợ chi phí đầu vào cho khu vực kinh tế tư nhân.
Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời hạn 3 năm, tính từ năm đầu tiên phát sinh thu nhập chịu thuế; trường hợp năm đầu chưa có thu nhập chịu thuế thì thời gian miễn thuế được tính từ năm tiếp theo. Quy định này nhằm giảm áp lực tài chính trong giai đoạn khởi nghiệp, là thời điểm doanh nghiệp phải tập trung nguồn lực cho đầu tư, vận hành và mở rộng thị trường.
Bên cạnh đó, Nghị định cũng làm rõ phạm vi và cách thức áp dụng ưu đãi thuế đối với các hoạt động đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Cụ thể, công ty quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động đầu tư; đồng thời, thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo cũng thuộc diện được miễn thuế. Đây là nội dung nhằm khuyến khích dòng vốn tư nhân tham gia vào hệ sinh thái khởi nghiệp, đúng theo định hướng đã được Quốc hội xác lập tại Nghị quyết 198.
Các trường hợp doanh nghiệp thành lập mới trên cơ sở hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình; hoặc có yếu tố kế thừa về người đại diện pháp luật, thành viên góp vốn trong thời gian ngắn trước đó, không thuộc diện được hưởng ưu đãi. Việc sàng lọc này bảo đảm đúng đối tượng thụ hưởng theo tinh thần của Nghị quyết.