Cửa tiếp cận vốn xanh đã mở, doanh nghiệp cần làm gì để nắm bắt cơ hội?

Cửa tiếp cận vốn xanh đã mở, doanh nghiệp cần làm gì để nắm bắt cơ hội?

Thứ Ba, 03/11/2026 - 06:12

Cánh cửa tiếp cận vốn xanh đang rộng mở, nhưng để nắm bắt cơ hội, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực tài chính, quản trị và đáp ứng các tiêu chí xanh. Quá trình này cũng cần sự đồng hành của chính quyền địa phương, để chuyển đổi xanh không chỉ là mục tiêu của doanh nghiệp mà còn được đưa vào KPI điều hành kinh tế, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu.

Chuyển đổi xanh đang đặt ra nhu cầu huy động nguồn lực tài chính rất lớn đối với Việt Nam. Tại Hội nghị Tài chính Xanh Việt Nam 2026 với chủ đề “Nơi dòng vốn xanh kết nối cơ hội đầu tư”, diễn ra ngày 6/8/2026 tại TP.HCM, Ban tổ chức cho biết Việt Nam ước tính cần huy động khoảng 700 tỷ USD cho lộ trình chuyển đổi xanh nhằm thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Trong khi nhu cầu vốn ngày càng lớn, quy mô các kênh tài chính xanh hiện vẫn còn khá khiêm tốn. Theo báo cáo phân tích “Định vị Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam trở thành trung tâm tài chính xanh” do FiinRatings công bố ngày 8/9/2026, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD vốn đầu tư bổ sung cho các mục tiêu khí hậu đến năm 2040. Trong khi đó, dư nợ tín dụng xanh mới đạt khoảng 32 tỷ USD, còn quy mô trái phiếu bền vững có nhãn đang lưu hành khoảng 1,1 tỷ USD.

Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện cơ chế xác định dự án xanh có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng huy động và phân bổ nguồn vốn. Ngày 17/9/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG), và đã chính thức có hiệu lực từ ngày 1/11/2026.

Quyết định quy định các tiêu chí xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và cơ chế đánh giá độc lập, góp phần tạo căn cứ chung để doanh nghiệp, ngân hàng và các bên liên quan có căn cứ xem xét cấp vốn cho dự án.

Tuy nhiên, để tiếp cận được nguồn vốn, doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng các yêu cầu về pháp lý, năng lực tài chính, hiệu quả đầu tư và khả năng trả nợ. Đồng thời, nhu cầu vốn lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài của nhiều dự án cũng đặt ra yêu cầu phát triển thêm các kênh tài chính trung và dài hạn.

Trao đổi với Reatimes, TS. Châu Đình Linh, chuyên gia tài chính - ngân hàng, Giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM cho rằng, nỗ lực chuyển đổi xanh và tiếp cận vốn xanh không chỉ từ phía doanh nghiệp, mà cần trở thành mục tiêu cụ thể trong điều hành kinh tế, với những chỉ tiêu KPI gắn với trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền địa phương.

- Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg ngày 17/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị” (ESG) đã cụ thể hóa các tiêu chí xác định dự án xanh. Theo ông, quy định này tháo gỡ được những vướng mắc gì trong việc cấp tín dụng xanh, đặc biệt đối với lĩnh vực bất động sản?

TS. Châu Đình Linh: Quyết định 46 đã tạo ra khung tiêu chí thống nhất giữa ngân hàng, doanh nghiệp và các bên liên quan trong việc xác định dự án xanh. Thực tế nguồn vốn xanh khá phong phú, lãi suất hấp dẫn, đến từ các tổ chức tài chính quốc tế và những quốc gia có chính sách tài trợ cho các dự án xanh tại Việt Nam. Vấn đề là trước đây chúng ta thiếu một hệ thống tiêu chí và cơ chế đánh giá thống nhất để các bên có thể hiểu nhau và đưa ra quyết định cấp vốn.

Chẳng hạn thế nào là một dự án xanh, dựa trên tiêu chuẩn nào để đánh giá, tổ chức nào có đủ năng lực thẩm định, cấp chứng nhận? Trước đây, mỗi ngân hàng có thể áp dụng những tiêu chí khác nhau, dựa trên yêu cầu của các định chế tài chính quốc tế mà họ hợp tác. Doanh nghiệp vì vậy cũng lúng túng, không biết phải chuẩn bị hồ sơ gì, đáp ứng những điều kiện nào.  Ngân hàng cũng gặp khó khăn trong việc phân biệt dự án xanh thực chất với những dự án chỉ được gắn nhãn xanh. 

Quyết định 46 cơ bản đã giải quyết những vấn đề này. Đó là một bước tiến lớn, tạo ra ngôn ngữ chung và mở ra cánh cửa tiếp cận tín dụng xanh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tận dụng cơ hội đó đến đâu phụ thuộc vào sự chuẩn bị và năng lực của chính doanh nghiệp.

- Nhiều nguồn vốn quốc tế đang sẵn sàng tài trợ cho các dự án xanh tại Việt Nam, nhưng bên cạnh việc khai thác những nguồn lực này, chúng ta cần phát triển thêm những kênh huy động vốn xanh từ trong nước như thế nào để chủ động đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản?

TS. Châu Đình Linh: Trước hết, phải nhìn nhận chuyển đổi xanh là một không gian tăng trưởng mới của nền kinh tế. Nếu chuyển đổi xanh thành công, doanh nghiệp vừa đáp ứng các yêu cầu về môi trường, vừa có cơ hội mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh. Để thực hiện quá trình đó, doanh nghiệp cần nguồn vốn đầu tư lớn, để đổi mới công nghệ, xây dựng nhà máy, phát triển vùng nguyên liệu, triển khai những dự án có thời gian thu hồi vốn dài.

Hiện nay, nguồn vốn dành cho chuyển đổi xanh khá phong phú, đến từ các tổ chức tài chính quốc tế, ngân hàng phát triển và những quốc gia có chính sách tài trợ cho các dự án xanh tại Việt Nam. Nhiều nguồn vốn được cung ứng thông qua các ngân hàng thương mại trong nước, với những yêu cầu cụ thể về thẩm định, quản lý và giám sát sử dụng vốn.

Tuy nhiên, bên cạnh nguồn lực quốc tế, chúng ta cũng cần phát triển thêm các kênh huy động vốn trong nước:

Thứ nhất, các ngân hàng có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn phục vụ tín dụng xanh. Đó có thể là trái phiếu thông thường, với nguồn vốn huy động được phân bổ cho các khoản vay xanh, hoặc trái phiếu xanh được phát hành theo những tiêu chuẩn riêng. Thông qua việc mua trái phiếu ngân hàng, nhà đầu tư có thể gián tiếp cung cấp nguồn vốn cho các dự án xanh.

Thứ hai, phát triển sản phẩm tiền gửi xanh. Ngân hàng huy động tiền gửi từ những khách hàng mong muốn nguồn tiền của mình được sử dụng cho các hoạt động phát triển bền vững, sau đó phân bổ để tài trợ cho những dự án đáp ứng tiêu chí xanh.

TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM
Chuyển đổi xanh là một không gian tăng trưởng mới của nền kinh tế. Nếu chuyển đổi xanh thành công, doanh nghiệp vừa đáp ứng các yêu cầu về môi trường, vừa có cơ hội mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh

Thứ ba, tiếp tục phát triển thị trường trái phiếu xanh trong nước để các doanh nghiệp đủ điều kiện có thể trực tiếp huy động vốn trung và dài hạn cho dự án. Việt Nam đã có những doanh nghiệp phát hành trái phiếu xanh, nhưng quy mô thị trường còn hạn chế. Vì vậy, cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ một phần chi phí tư vấn, đánh giá độc lập và xác nhận xanh, giúp giảm chi phí phát hành và khuyến khích thêm doanh nghiệp tham gia thị trường.

Đồng thời, cần thúc đẩy phát triển các quỹ đầu tư phục vụ dự án xanh, khuyến khích các quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm tham gia cung cấp vốn dài hạn; nâng cao chất lượng xếp hạng tín nhiệm, công bố thông tin và xác nhận độc lập đối với trái phiếu xanh, giúp nhà đầu tư có cơ sở đánh giá rủi ro và yên tâm tham gia thị trường.

Nhà nước cũng có thể nghiên cứu cơ chế cấp bù lãi suất đối với một số lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi xanh, giảm chi phí vốn và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư.

Ngày 12/9/2025, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 3168/QĐ-BTC, định hướng phát triển các loại hình quỹ đầu tư mới, mở rộng sự tham gia của nhà đầu tư tổ chức, tạo thêm nguồn vốn trung và dài hạn cho thị trường.

Ngày 27/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1413/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam, trong đó định hướng phát triển trái phiếu doanh nghiệp xanh, quỹ đầu tư ESG chuyên biệt và các sản phẩm tài chính xanh, góp phần huy động nguồn lực cho chuyển đổi xanh.

- Như ông đã phân tích, Quyết định 46 mở ra cánh cửa tiếp cận tín dụng xanh nhưng việc tận dụng được cơ hội đó đến đâu phụ thuộc vào sự chuẩn bị và năng lực của chính doanh nghiệp. Vậy doanh nghiệp bất động sản cần chuẩn bị như thế nào để hiện thực hóa cơ hội này? Dòng tiền và tài sản bảo đảm có vai trò ra sao trong quá trình thẩm định, cho vay đối với các dự án xanh?

TS. Châu Đình Linh: Nhìn chung khi một dự án đáp ứng được các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG), doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận nguồn vốn với mức lãi suất ưu đãi. Vì những dự án tạo ra tác động tích cực đối với môi trường và xã hội cần được khuyến khích.

Tuy nhiên, dự án phải chứng minh được hiệu quả xanh bằng những tiêu chí cụ thể. Chẳng hạn, một tòa nhà tiết kiệm được bao nhiêu năng lượng, giảm được bao nhiêu phát thải CO2, khả năng tuần hoàn và tái sử dụng nước ra sao, quy trình xử lý chất thải như thế nào. Các tiêu chuẩn công trình xanh quốc tế đã có phương pháp đo lường khá cụ thể, nên doanh nghiệp cần tính toán các chỉ tiêu môi trường ngay từ khi khởi động dự án.

Bên cạnh đó, ngân hàng vẫn phải xem xét đầy đủ các điều kiện pháp lý, năng lực tài chính và tính khả thi của phương án kinh doanh. Đối với bất động sản, đó là các thủ tục về đất đai, đầu tư xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản và những yêu cầu pháp luật có liên quan.

Vì vậy, sự chuẩn bị của doanh nghiệp phải tiến hành đồng thời trên hai phương diện: chứng minh dự án đáp ứng tiêu chí xanh và hoàn thiện những điều kiện cần thiết liên quan để được cấp tín dụng. Một dự án đạt tiêu chuẩn môi trường không đương nhiên được ngân hàng cho vay nếu hồ sơ pháp lý chưa đầy đủ hoặc phương án kinh doanh thiếu tính khả thi.

Cũng cần lưu ý, đầu tư theo các tiêu chuẩn xanh thì chi phí cao hơn thông thường, nên bán sản phẩm cũng như vậy. Doanh nghiệp phải xác định được phân khúc khách hàng, sức mua của thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Có bán được hàng, tạo ra dòng tiền thì mới có cơ sở để trả nợ ngân hàng, vì tín dụng xanh vẫn là một loại tín dụng, chứ không phải nguồn tài trợ không hoàn lại. 

Về cho vay dựa trên dòng tiền, thực ra đây luôn là một nguyên tắc quan trọng trong hoạt động tín dụng. Khi thẩm định một dự án, ngân hàng phải tính toán được doanh thu, chi phí, dòng tiền trong từng giai đoạn và khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. 

Với cho vay dựa trên dòng tiền, thì dòng tiền là nguồn trả nợ chính yếu, còn tài sản bảo đảm là nguồn trả nợ thứ cấp. Nhưng không có nghĩa ngân hàng bỏ qua tài sản bảo đảm. Hoạt động kinh doanh bất động sản có những đặc thù riêng. Quyền sử dụng đất thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức đầu tư. Khi chủ đầu tư xây dựng công trình, tài sản hình thành cũng chính là sản phẩm kinh doanh của dự án. Vì vậy, phương án kinh doanh gắn trực tiếp với quyền sử dụng đất, công trình được xây dựng và khả năng hấp thụ của thị trường.

Cho nên, việc ngân hàng nhận thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản hình thành từ dự án là phù hợp. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn phải kiểm soát dòng tiền theo tiến độ triển khai. Đối với các dự án xanh, đặc biệt là bất động sản, doanh nghiệp phải chứng minh dự án đáp ứng các tiêu chí xanh; đồng thời có đầy đủ điều kiện pháp lý, năng lực tài chính và phương án kinh doanh khả thi, tạo ra dòng tiền đủ để trả nợ vay.

Cửa tiếp cận vốn xanh đã mở, doanh nghiệp cần làm gì để nắm bắt cơ hội? - Ảnh 1.

Một khi dự án đáp ứng được các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG), thì doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận nguồn vốn với mức lãi suất ưu đãi. (Ảnh minh hoạ: VSIP)

- Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần tổ chức cơ cấu vốn như thế nào để phù hợp với thời gian đầu tư và thu hồi vốn của dự án xanh? Việc minh bạch thông tin tài chính có vai trò ra sao trong thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư?

TS. Châu Đình Linh: Đối với các dự án xanh, doanh nghiệp trước hết phải tính toán cơ cấu vốn phù hợp với quy mô đầu tư, thời gian triển khai và khả năng thu hồi vốn. Bởi chuyển đổi xanh thường đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn để đầu tư công nghệ, thiết bị, vật liệu và các giải pháp đáp ứng tiêu chuẩn môi trường. Nhưng hiệu quả đầu tư có thể chỉ được thể hiện đầy đủ trong quá trình vận hành lâu dài của dự án.

Doanh nghiệp có thể sử dụng vốn chủ sở hữu hoặc kết hợp với các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn. Điều quan trọng là tìm được cấu trúc vốn tối ưu, bảo đảm chi phí sử dụng vốn hợp lý, khả năng trả nợ và gia tăng giá trị doanh nghiệp. Một nguyên tắc mà tôi luôn nhấn mạnh là vốn ngắn hạn phải gắn với nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn, còn tài sản và dự án đầu tư dài hạn cần được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải rất coi trọng tính minh bạch trong hoạt động tài chính. Tôi thường khuyến nghị các doanh nghiệp rà soát lại công tác kế toán, bảo đảm thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, trung thực và nhất quán. Đây là cơ sở để ngân hàng, các quỹ đầu tư và nhà đầu tư trên thị trường đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp.

Khi huy động vốn, doanh nghiệp phải xác định rõ mục đích sử dụng và chứng minh nguồn tiền được đầu tư đúng vào các hạng mục xanh đã cam kết. Để khi cần thiết, việc sử dụng vốn và kết quả thực hiện phải được kiểm tra, đánh giá bởi các tổ chức độc lập. Đây là những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp xây dựng uy tín và có khả năng huy động các nguồn vốn dài hạn trong những lần tiếp theo.

- Cùng đứng trước cơ hội tiếp cận nguồn vốn xanh, nhưng khả năng đáp ứng của các doanh nghiệp lại rất khác nhau. Ông đánh giá như thế nào về khả năng tiếp cận nguồn vốn này của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa?

TS. Châu Đình Linh: Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, rào cản trước hết là năng lực tài chính, năng lực xây dựng và chứng minh tính khả thi của dự án, nhận thức về ESG cũng như nhận thức của chính người đứng đầu doanh nghiệp.

Bên cạnh đó là chi phí để đáp ứng các tiêu chuẩn xanh. Muốn được chứng nhận, doanh nghiệp phải thuê tư vấn, tổ chức đánh giá độc lập, thực hiện các thủ tục cần thiết. Tất cả đều rất tốn kém, trong khi nguồn lực tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế.

Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp hiện chỉ phục vụ một số nhóm khách hàng trong nước hoặc xuất khẩu sang những thị trường chưa đặt ra yêu cầu cao về chuyển đổi xanh. Khi chưa nhìn thấy lợi ích trực tiếp, họ sẽ khó có động lực bỏ ra một khoản chi phí lớn để thay đổi hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Trong khi đó, đối với các doanh nghiệp lớn, câu chuyện lại khác. Họ có điều kiện chủ động hơn trong việc chuyển đổi xanh, bởi nhận thấy lợi ích kinh tế, yêu cầu cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trách nhiệm xã hội của mình. Ví dụ như Vinamilk là doanh nghiệp có nhận thức về phát triển xanh và trách nhiệm xã hội rất lớn. Cộng với nguồn lực lớn, nên họ chủ động phát triển doanh nghiệp theo hướng xanh, bền vững. Đồng thời, khi xuất khẩu sang những thị trường lớn, với các yêu cầu về tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe, Vinamilk cũng bắt buộc phải đáp ứng để giữ được thị phần.

Vinamilk đã và đang chủ động phát triển doanh nghiệp theo hướng xanh, bền vững. (Ảnh: Vinamilk)

Còn đối với doanh nghiệp bất động sản, tôi nghĩ khó khăn hiện nay không chỉ nằm ở việc đáp ứng tiêu chí xanh, mà còn ở những vấn đề của chính nội tại doanh nghiệp và thị trường. Đó là pháp lý dự án, tình hình thị trường nhà ở, tính minh bạch của báo cáo tài chính và khả năng huy động vốn dài hạn. Những khó khăn này đã tồn tại trong hoạt động của doanh nghiệp, chứ không phải đến khi có yêu cầu về dự án xanh mới phát sinh.

Vì vậy, với lĩnh vực bất động sản, doanh nghiệp cần lựa chọn những dự án có phân khúc thị trường phù hợp, khách hàng có nhu cầu và sẵn sàng chi trả cho những giá trị mà công trình xanh mang lại. Đồng thời, chủ đầu tư phải có năng lực tài chính, quản trị và khả năng triển khai dự án một cách thực chất.

Tôi cho rằng muốn tiếp cận được nguồn vốn xanh, trước hết doanh nghiệp phải chủ động nâng cao năng lực quản trị tài chính, xây dựng phương án kinh doanh, đáp ứng các tiêu chí xanh. Tuy nhiên, với những doanh nghiệp có nguồn lực hạn chế, rất cần thêm các cơ chế hỗ trợ để họ có điều kiện thực hiện.

- Cụ thể, Nhà nước và chính quyền địa phương cần có những cơ chế hỗ trợ như thế nào để giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn xanh, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa?

TS. Châu Đình Linh: Với những khó khăn như vậy, nếu chỉ đưa ra các tiêu chuẩn rồi để doanh nghiệp tự tìm cách đáp ứng thì trong nhiều trường hợp là chưa khả thi, mà nên có những cơ chế hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện.

Ví dụ, với doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nhà nước có thể nghiên cứu cơ chế chia sẻ một phần chi phí tư vấn, đánh giá độc lập và chứng nhận xanh. Có thể áp dụng những tỷ lệ đồng hành phù hợp giữa Nhà nước và doanh nghiệp, chẳng hạn 70/30 hoặc 50/50, tùy từng chương trình và nguồn lực thực hiện; để doanh nghiệp sẽ có thêm điều kiện và động lực để chuyển đổi xanh.

Bên cạnh đó, cần có những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về đầu vào, nhất là đất đai, hạ tầng và nguồn vốn đối với các lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi xanh.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nhà nước có thể nghiên cứu cơ chế chia sẻ một phần chi phí tư vấn, đánh giá độc lập và chứng nhận xanh. Rộng hơn là có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về đầu vào, nhất là đất đai, hạ tầng và nguồn vốn đối với các lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi xanh.
TS. Châu Đình Linh, Giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM

Thực tế, đã có doanh nghiệp sản xuất gỗ xuất khẩu được Nhà nước hỗ trợ tiếp cận đất rừng để trồng rừng với chi phí đất đai bằng 0, đồng thời được Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) tài trợ vốn. Đó là một chính sách rất tốt để doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi xanh mà không phải tự xoay xở toàn bộ chi phí ngay từ đầu. Những hỗ trợ tương tự cũng cần được nhân rộng ra.

Một vấn đề rất quan trọng nữa là phải xây dựng đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp, có thể đến trực tiếp từng doanh nghiệp để hướng dẫn. Nhiều doanh nghiệp muốn chuyển đổi nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu, cần đầu tư những gì, thực hiện theo trình tự nào. Nếu có người tư vấn, xây dựng cho họ một lộ trình cụ thể, xác định rõ từng công việc và lợi ích có thể đạt được, tôi tin rằng doanh nghiệp sẽ có động lực thực hiện tốt hơn là để họ tự tìm hiểu.

Đối với chính quyền địa phương, cần nghiên cứu việc giao chỉ tiêu chuyển đổi xanh cho người đứng đầu. Trong KPI về tăng trưởng kinh tế phải có KPI cho chuyển đổi xanh. Chẳng hạn, mỗi năm một địa phương có bao nhiêu doanh nghiệp chuyển đổi xanh, tỷ lệ che phủ rừng đạt bao nhiêu, kết quả giảm phát thải như thế nào, có bao nhiêu sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn xanh. Những mục tiêu đó phải cụ thể, có thể đo lường và đánh giá được. 

Khi có KPI cụ thể, chính quyền địa phương có thể chủ động rà soát, lựa chọn những doanh nghiệp có tiềm năng và tổ chức tư vấn, đồng hành với họ. Đó phải là quá trình có sự tham gia của cả hai phía. Doanh nghiệp chuyển đổi xanh trước hết vì lợi ích phát triển của chính mình, còn chính quyền có trách nhiệm tạo điều kiện, hỗ trợ và thúc đẩy quá trình đó.

PV: Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ từ chuyên gia!

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top