Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô

Thứ Ba, 18/08/2026 - 11:11

Ngày 7/7, Hà Nội chào đón vị khách quốc tế thứ 5 triệu, đánh dấu một bước tiến quan trọng trên hành trình hướng tới mục tiêu đón hơn 9 triệu lượt khách quốc tế trong năm nay. Tính chung 7 tháng đầu năm, Thủ đô ước đón 21,16 triệu lượt khách, trong đó có 5,31 triệu lượt khách quốc tế, tăng 25% so với cùng kỳ; khoảng 3,75 triệu lượt khách quốc tế có lưu trú. Tổng thu từ khách du lịch đạt 86.470 tỷ đồng, tăng 17,9%, tạo nền tảng để Hà Nội hướng tới mục tiêu khoảng 160.000 tỷ đồng trong cả năm 2026.

Những con số ấy không chỉ cho thấy sức hấp dẫn ngày càng lớn của Hà Nội mà còn đặt ra yêu cầu phát triển du lịch theo chiều sâu, trong đó hiệu quả của một điểm đến cần được đo bằng thời gian lưu trú, mức chi tiêu, chiều sâu trải nghiệm và khả năng quay trở lại của du khách. Nếu hàng triệu khách quốc tế đến Thủ đô nhưng trải nghiệm Hồ Tây vẫn chỉ dừng ở một vòng ngắm cảnh, một bữa ăn hay một cốc cà phê ven hồ, đó sẽ là sự lãng phí đối với một không gian sở hữu hơn 500ha mặt nước, đồng thời hội tụ nhiều lớp giá trị đặc biệt về cảnh quan, lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, làng nghề và sinh thái.

Trong bối cảnh Hồ Tây và vùng phụ cận đã được công nhận là khu du lịch cấp thành phố, đồng thời chủ trương đầu tư Dự án cải tạo, phát huy giá trị khu vực Hồ Tây và tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ đã được thông qua, vấn đề đặt ra là làm thế nào để kết nối những nguồn lực đang phân tán thành một hệ sinh thái trải nghiệm hoàn chỉnh, đưa Hồ Tây ngày càng phát triển xứng tầm.

Ngày 15/6, tại Kỳ họp thứ tư (kỳ họp chuyên đề), Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội khóa 17 đã thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư dự án đầu tư, cải tạo phát huy giá trị khu vực Hồ Tây và tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ theo phương thức đối tác công tư PPP - loại hợp đồng xây dựng chuyển giao (BT).

Dự án đầu tư, cải tạo phát huy giá trị khu vực Hồ Tây và tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ nhằm xây dựng khu vực Hồ Tây trở thành trung tâm văn hóa, du lịch và kinh tế sáng tạo bền vững của Thủ đô Hà Nội; khai thác hiệu quả các giá trị đặc sắc về cảnh quan, lịch sử, văn hóa và sinh thái của Hồ Tây gắn với khu phố cổ, khu phố cũ và không gian sông Hồng, qua đó góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và nâng cao hình ảnh, vị thế của Thủ đô, phù hợp với định hướng Quy hoạch Tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, cũng như các định hướng liên quan khác.

Tổng diện tích đầu tư dự kiến khoảng 575,6ha, trong đó diện tích Hồ Tây là 520,9ha (giữ nguyên mặt nước hiện trạng hồ Tây); diện tích đất là 54,7ha (đã bao gồm các hồ nhỏ khác) với các hạng mục chính khác.

Tổng chiều dài các tuyến đường điều chỉnh xung quanh hồ khoảng 11.525m. Dự án cải tạo Hồ Tây dự kiến chỉnh các tuyến như Trích Sài, Nguyễn Đình Thi, Nhật Chiêu, Vệ Hồ, Quảng An và Quảng Bá nhằm tăng khả năng kết nối giao thông và hoàn thiện không gian cảnh quan ven hồ.

Theo phương án quy hoạch, phố Nguyễn Đình Thi và Trích Sài là hai tuyến đường ven Hồ Tây được nghiên cứu mở rộng. Đây là trục giao thông huyết mạch quanh hồ, thường xuyên chịu áp lực lớn khi lượng người dân và du khách đổ về khu vực Hồ Tây tăng cao, đặc biệt vào giờ cao điểm và dịp cuối tuần.

Giai đoạn 1, dự án tập trung cải tạo, mở rộng khu vực Quảng An, dự kiến hoàn thành quý III/2027, các hạng mục còn lại được triển khai đến quý IV/2028.

Bên cạnh nâng cấp hạ tầng giao thông, dự án còn đầu tư xây dựng các không gian quảng trường, sàn ngắm cảnh ven hồ, cầu cảnh quan, Bến thuyền Hồ Tây, công viên, vườn hoa, công trình thương mại dịch vụ, bãi đỗ xe ngầm, công trình bảo vệ môi trường,... nhằm nâng cao giá trị cảnh quan, du lịch khu vực Hồ Tây.

Theo đề xuất, toàn bộ dự án cải tạo và phát huy giá trị khu vực Hồ Tây sẽ hoàn thành vào năm 2030.

*****

Một chiều đầu thu Hà Nội, giữa dòng người và xe nối nhau qua những con phố quen, tôi có cuộc gặp gỡ với nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến - người đã dành gần trọn cuộc đời để quan sát, khảo cứu và viết về mảnh đất nghìn năm văn hiến. Trong cách ông chậm rãi nhắc lại từng địa danh, từng câu chuyện cũ, có thể cảm nhận tình yêu sâu nặng của một người không chỉ muốn lưu giữ ký ức Hà Nội cho riêng mình, mà còn đau đáu tìm cách trao truyền những giá trị ấy cho các thế hệ sau. 

Khi tôi ngỏ lời thực hiện cuộc phỏng vấn về Dự án cải tạo, phát huy giá trị khu vực Hồ Tây và tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ, ông nhận lời không chút ngần ngại. Nhắc đến Hồ Tây, giọng nhà văn trở nên say sưa. Trong những câu chuyện nối tiếp nhau, Hồ Tây hiện lên không chỉ như một thắng cảnh, mà còn là một phần ký ức lâu bền của Hà Nội, nơi thiên nhiên, lịch sử và đời sống con người đã cùng bồi đắp qua nhiều thế kỷ. 

Cuộc gặp ấy cũng gợi mở điểm khởi đầu cho bài viết. Trước khi bàn về diện mạo tương lai của Hồ Tây, cần hiểu nơi đây đã được hình thành, lưu giữ và trao truyền như thế nào trong đời sống Thăng Long - Hà Nội. Khi chủ trương đầu tư dự án đã được thông qua, câu chuyện không còn chỉ dừng lại ở việc hồi cố hay đơn thuần gìn giữ ký ức. Hồ Tây đang đứng trước một lựa chọn phát triển có ý nghĩa lâu dài, nhằm tạo được sự tiếp nối hài hòa giữa những giá trị được trao truyền và nhu cầu của đời sống đương đại. 

Tiếp nối những câu chuyện về các lớp trầm tích lịch sử, văn hóa của Hồ Tây được nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến gợi nhắc, cuộc trao đổi được tiếp nối với ông Phạm Hải Quỳnh, Viện trưởng Viện Phát triển Du lịch châu Á. Với nhiều năm nghiên cứu, tư vấn và xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng tại nhiều địa phương, ông Phạm Hải Quỳnh góp thêm cách tiếp cận phát triển tiềm năng du lịch của điểm đến dựa trên văn hóa bản địa, bảo vệ cảnh quan, môi trường và bảo đảm sự tham gia, hưởng lợi của người dân. Điểm gặp gỡ giữa các góc nhìn chính là tình yêu dành cho Hà Nội và mong muốn kết nối, chuyển hóa các lợi thế về văn hóa, sinh thái và cảnh quan của Hồ Tây thành sức hấp dẫn mới cho du lịch Thủ đô, trên nền tảng bảo tồn các giá trị vốn có, gìn giữ cảnh quan, môi trường và phát huy những lợi thế riêng. 

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 1.

Có những miền ký ức không nằm yên trong sử sách mà vẫn âm thầm hiện diện trong cảnh vật và đời sống thường ngày. Với Hà Nội, Hồ Tây là một miền ký ức như thế. Trên mặt nước rộng mênh mang, bóng dáng Thăng Long xưa vẫn thấp thoáng qua những huyền tích được truyền lại, tiếng chuông từ những ngôi chùa cổ, dấu tích các làng xưa ven hồ và bao nếp sống đã bền bỉ đi qua năm tháng. Nhiều tên đất, tên làng quanh hồ vẫn cất giữ những câu chuyện riêng, góp phần gợi nhắc chiều sâu lịch sử của Thủ đô nghìn năm văn hiến.

Dẫu Hà Nội không ngừng đổi thay, Hồ Tây vẫn hiện hữu như một mạch ngầm nối quá khứ với hiện tại, gìn giữ những ký ức chung của nhiều thế hệ người dân. Nhưng ký ức chỉ có thể tiếp tục sống khi được kể lại, được trao truyền và tìm thấy vị trí trong đời sống hôm nay. Bởi vậy, câu chuyện gìn giữ và phát huy giá trị Hồ Tây không chỉ là bảo vệ một thắng cảnh, mà còn là cách Hà Nội ứng xử với chiều sâu văn hóa và căn cước của chính mình.

- Thưa nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến, với gần 10 đầu sách viết về Hà Nội, ông được nhiều người trìu mến gọi là “sử nhân Hà Nội”. Đọc Chuyện quanh quanh Dâm Đàm, người đọc càng hiểu vì sao danh xưng ấy được dành cho ông: Qua từng trang sách, Hồ Tây hiện lên không chỉ bằng chiều sâu tư liệu của một nhà khảo cứu, mà còn thấm đẫm sự trân quý và tình yêu tha thiết của một người con Hà Nội. Những trang viết ấy có lẽ đã kết tinh trọn vẹn hình bóng Hồ Tây trong tâm khảm của ông?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến: Với tôi, Hồ Tây chưa bao giờ chỉ là một đối tượng để khảo cứu hay một địa danh để viết thành sách. Là một người sinh ra, lớn lên và đã đi gần trọn cuộc đời mình cùng Hà Nội, tôi luôn coi Hồ Tây là một miền ký ức, một phần kỷ niệm và cũng là niềm tự hào rất đỗi thân thương của mình. Tình cảm ấy không chỉ có ở riêng tôi, mà còn hiện hữu trong tâm thức của biết bao thế hệ người Hà Nội. Có những lúc giữa bao biến động của cuộc sống, chỉ cần nghĩ đến mặt nước Hồ Tây, đến một buổi chiều lộng gió hay bóng những ngôi chùa soi xuống hồ, lòng người đã thấy bình yên hơn. Có lẽ vì thế, chúng tôi không chỉ yêu mến, tự hào mà còn có phần nương tựa vào Hồ Tây như một chỗ dựa tinh thần.

Quá trình viết sách Chuyện quanh quanh Dâm Đàm, vì thế, không đơn thuần là hành trình tìm kiếm và sắp xếp tư liệu. Đó còn là hành trình tôi tìm lại ký ức của chính mình, đồng thời nhặt nhạnh những mảnh ký ức đã được nhiều thế hệ người Hà Nội gửi lại quanh hồ. Có lúc tôi nghĩ mình đang viết về Hồ Tây, nhưng rồi lại cảm thấy chính Hồ Tây đã dẫn mình đi qua những tầng sâu của văn hóa Hà Nội, giúp tôi hiểu hơn mảnh đất nơi mình sinh ra và đã gắn bó gần như suốt cuộc đời.

Trong những trang sách cũng như trong quá trình làm công tác văn hóa, Hồ Tây luôn hiện hữu với tôi một cách gần gũi và đặc biệt như thế. Tôi viết không chỉ để lưu lại những điều đã biết, mà còn mong trao chúng cho người đọc, nhất là những người trẻ. Bởi chỉ khi các thế hệ sau hiểu được dưới mặt hồ ấy đang lắng đọng những gì, họ mới thêm yêu, thêm tự hào và ý thức hơn về trách nhiệm gìn giữ.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 2.

- Ngày 15/6/2026, HĐND thành phố Hà Nội đã thông qua Nghị quyết số 32 phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án đầu tư, cải tạo, phát huy giá trị khu vực Hồ Tây và tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ. Là người đã dành nhiều năm khảo cứu và chứng kiến những đổi thay của Hồ Tây, ông đón nhận dấu mốc này với tâm thế ra sao?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến: Thực lòng, tôi cho rằng việc cải tạo và phát huy giá trị Hồ Tây đáng lẽ phải được tiến hành từ lâu. Đến nay mới triển khai có thể xem là muộn, nhưng thà muộn còn hơn không làm. Vì vậy, tôi rất đồng tình và ủng hộ chủ trương này.

Điều đáng mừng là chúng ta đang nhìn nhận và giải quyết những vấn đề của vùng hồ trong một tổng thể. Hồ Tây là hồ nước tự nhiên lớn nhất khu vực nội thành Hà Nội, đồng thời là một thắng cảnh nổi tiếng và một không gian sinh thái đặc biệt của Thủ đô. Đây là không gian có sự gắn bó chặt chẽ giữa môi trường, cảnh quan, văn hóa và đời sống cộng đồng. Chỉ khi các yếu tố ấy được đặt trong cùng một chỉnh thể, những giá trị của Hồ Tây mới có thể được bảo vệ và phát huy đầy đủ.

Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, sự gia tăng dân số và số lượng phương tiện cá nhân đang tạo áp lực ngày càng lớn lên khu vực ven hồ. Hạ tầng giao thông chưa theo kịp nhu cầu thực tế khiến nhiều điểm thường xuyên xảy ra ùn ứ, nhiều khu vực ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. Cảnh quan và các không gian công cộng cũng chưa được tổ chức thành một hệ thống liên tục, thuận tiện để người dân tiếp cận và thụ hưởng.

Tôi kỳ vọng dự án sẽ đồng thời đáp ứng ba yêu cầu quan trọng. Trước hết là hoàn thiện hạ tầng, cải thiện kết nối và giảm áp lực giao thông quanh hồ. Tiếp đó là chỉnh trang cảnh quan, nâng cao chất lượng môi trường và bảo vệ hệ sinh thái. Trên nền tảng ấy, thành phố mới có thể kết nối các giá trị lịch sử, văn hóa và cảnh quan để hình thành những sản phẩm du lịch có chiều sâu, tạo thêm không gian vui chơi, nghỉ ngơi và sinh hoạt văn hóa cho cộng đồng. Đây là việc rất cần thiết và nên được triển khai sớm, triển khai đồng bộ.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 3.

Hồ Tây là hồ nước tự nhiên lớn nhất khu vực nội thành Hà Nội, đồng thời là một thắng cảnh nổi tiếng và một không gian sinh thái đặc biệt của Thủ đô. (Ảnh: iStock)

- Như ông vừa phân tích, sự cần thiết của dự án không chỉ xuất phát từ những sức ép đang đặt ra đối với khu vực ven hồ, mà trước hết bắt nguồn từ chính tầm vóc và những giá trị đặc biệt của Hồ Tây. Qua nhiều năm khảo cứu, theo ông, điều gì đã làm nên vị trí không thể thay thế của Hồ Tây trong lịch sử, văn hóa, môi trường và đời sống người Hà Nội?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến: Đó là những lớp giá trị đã bồi đắp qua hàng nghìn năm.

Trước hết, Hồ Tây là một không gian chứa đựng hàm lượng văn hóa dân gian đặc biệt phong phú. Trong tâm thức người Hà Nội, Hồ Tây gắn với huyền tích Long Vương giao chiến với Hồ Tinh - con cáo chín đuôi, giải cứu người dân và tạo nên Đầm Xác Cáo. Trong cách lý giải dân gian, lớp huyền tích ấy còn thường được liên hệ với những địa danh cổ như làng Cáo, còn gọi là Cáo Đỉnh. Đằng sau câu chuyện ấy là khát vọng chinh phục và thích ứng với tự nhiên của người xưa để kiến tạo một cuộc sống ổn định, bền vững của người xưa.

Kho tàng truyền thuyết quanh hồ còn có câu chuyện Thánh Gióng dừng chân xuống tắm ở bến nước Hồ Tây trước khi tiếp tục hành trình; quanh hồ cũng lưu truyền những huyền tích về Cao Biền trấn yểm các vùng đất linh thiêng; hay hình tượng trâu vàng, trong đó có dị bản kể rằng sơn thần núi Long Đọi hóa thành trâu vàng rồi chạy về ẩn mình dưới hồ. Dù được sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, những câu chuyện ấy cho thấy trí tưởng tượng phong phú của người xưa, đồng thời tạo nên chiều sâu văn hóa và vẻ huyền bí rất riêng cho Hồ Tây.

Từ lớp văn hóa dân gian ấy, Hồ Tây còn lưu giữ một hệ thống di sản vật thể phong phú. Chỉ riêng đền Quán Thánh và chùa Trấn Quốc đã chứa đựng biết bao câu chuyện lịch sử. Chùa Trấn Quốc, ban đầu có tên là chùa Khai Quốc, được dựng từ thời Lý Nam Đế tại vùng Yên Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến năm 1615, do bãi sông sạt lở, chùa được dời vào vị trí hiện nay ở Hồ Tây. Quanh hồ còn có nhiều đình, đền, chùa phản ánh lịch sử tín ngưỡng, tôn giáo của Thăng Long - Hà Nội, cùng những danh thắng từng được nhắc đến trong “Tây Hồ bát cảnh”. Vì thế, Hồ Tây không chỉ có cảnh quan đẹp mà còn là một không gian di sản có mật độ và chiều sâu hiếm nơi nào có được.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 4.

Chùa Trấn Quốc nằm ở phía Đông Hồ Tây. Đây là ngôi chùa có lịch sử hơn 1.500 năm, với kiến trúc độc đáo và không gian thanh tịnh bậc nhất. (Ảnh: Bùi Văn Doạnh)

Từ xa xưa, Hồ Tây đã là nơi thưởng ngoạn, nghỉ ngơi và vui chơi. Dưới thời Lê - Trịnh, vua chúa từng đến đây du ngoạn, cho kết đèn, tấu nhạc và tổ chức các hoạt động trên hồ. Đến thời Pháp thuộc, giá trị nghỉ dưỡng và giải trí của Hồ Tây tiếp tục được khai thác. Đầu thế kỷ 20, chính quyền Pháp cho xây dựng một bến tắm gần khu vực Vệ Hồ, bên cạnh có nơi nghỉ chân dưới bóng cây dành cho quan chức đến bơi lội, thư giãn, người dân gọi là nhà tắm ông Bảy. Đây cũng là một trong những nơi được xem là bể bơi thiên nhiên đầu tiên ở Hà Nội. Sau này, khi ông Pierre Pasquier - Toàn quyền Đông Dương lúc bấy giờ không còn là toàn quyền Đông Dương nữa thì khu nhà này được ông tổng đốc Hà Đông là Hoàng Trọng Phu mua lại và cho thuê làm nơi nghỉ ngơi cho quan chức nhà Nguyễn.

Những dấu tích ấy cho thấy, từ thời phong kiến đến thời Pháp thuộc, Hồ Tây đã được nhìn nhận như một không gian văn hóa, du lịch và giải trí quan trọng. Tuy nhiên, trong một thời gian dài từ sau năm 1954 đến đầu thế kỷ XXI, khu vực này gần như chưa hình thành thêm những sản phẩm tương xứng với tiềm năng. Những năm gần đây đã có một số dự án và hoạt động mới, nhưng còn phân tán, chưa kết nối thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh.

Giá trị của Hồ Tây còn hiện hữu trong những sản vật gắn bó với đời sống người Hà Nội. Cá trắm đen Hồ Tây từng nổi tiếng bởi chất lượng đặc biệt; tôm Hồ Tây có thịt thơm, giòn và dai, góp phần tạo nên món bánh tôm đã trở thành một nét ẩm thực đặc trưng. Trong mâm cỗ Tết của nhiều gia đình Hà Nội xưa, cá trắm đen Hồ Tây kho với mía còn được coi là một món đầu vị. Bên cạnh đó là những đầm sen rộng lớn, vừa tạo nên cảnh sắc, hương vị, vừa in sâu trong ký ức của bao thế hệ.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 5.
Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 6.

Sen Tây Hồ (đặc biệt là sen Bách Diệp) có đặc trưng cánh hoa kép, màu hồng thắm, hương thơm lâu, gạo sen to và căng mọng. Đây là loại sen đặc biệt, không nơi nào có được. (Ảnh: Tài liệu Hội thảo bảo tồn và phát triển hoa sen Việt Nam)

Sen Hồ Tây đồng thời cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa văn hóa và hệ sinh thái. Có thời điểm, nhiều diện tích sen bị phá bỏ vì người ta cho rằng gai sen làm cá mè chết. Nhưng khi những đầm sen mất đi, lớp thực vật ven bờ có tác dụng cản sóng cũng không còn; mỗi khi gió lớn, sóng đánh mạnh hơn vào bờ và góp phần gây sạt lở. Điều này cũng cho thấy từng yếu tố tự nhiên quanh Hồ Tây đều giữ một vai trò nhất định và cần được nhìn nhận trong một chỉnh thể.

Không chỉ có giá trị văn hóa và cảnh quan, Hồ Tây còn là một không gian sinh thái không thể thay thế. Mặt hồ rộng lớn góp phần điều hòa không khí, làm dịu cái nóng mùa hè; đồng thời tích trữ và điều tiết nước vào mùa mưa. Trong cấu trúc thủy hệ xưa, Hồ Tây có mối liên hệ với sông Hồng, sông Tô Lịch, góp phần cung cấp nước cho mạng lưới sông ngòi và phục vụ giao thông thủy của Hà Nội. Hồ Tây cũng từng có nguồn lợi thủy sản phong phú và là môi trường sống của nhiều loài thủy sinh.

Đến nay, những giá trị cốt lõi ấy về cơ bản vẫn còn nguyên ý nghĩa. Với người Hà Nội, đặc biệt trong những ngày hè, Hồ Tây vẫn là nơi hóng gió, nghỉ ngơi và tìm kiếm sự thư thái. Nếu không có Hồ Tây, Hà Nội không chỉ mất đi một thắng cảnh nổi tiếng mà còn mất đi một kho tàng văn hóa dân gian, một không gian di sản, một phần ký ức đô thị và một vùng sinh thái đặc biệt quan trọng. Chính sự hội tụ ấy đã làm nên vị trí không thể thay thế của Hồ Tây trong lịch sử, văn hóa và đời sống Thủ đô.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 7.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 8.

- Thưa nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến, những giá trị đặc biệt của Hồ Tây đã được nhận diện từ lâu, nhưng có lẽ cách bảo vệ, tổ chức không gian và khai thác nguồn lực quanh hồ vẫn chưa tạo ra sự chuyển biến tương xứng. Từ những gì đã chứng kiến và khảo cứu, ông nhìn nhận như thế nào về khoảng cách giữa giá trị vốn có của Hồ Tây và cách chúng ta ứng xử với di sản này thời gian qua?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến: Muốn thấy hết ý nghĩa của cơ hội lần này, trước hết cần nhìn lại vị trí của Hồ Tây trong cấu trúc tự nhiên và đời sống Hà Nội xưa.

Trước đây, Hồ Tây không tồn tại như một mặt nước biệt lập mà là một bộ phận trong mạng lưới sông, ao, hồ có sự liên thông của Hà Nội. Với đặc điểm địa hình cao dần về phía Bắc và thấp dần về phía Nam nên nước tự chảy từ nơi cao xuống nơi thấp: Từ Hồ Tây qua Trúc Bạch, hồ Cổ Ngựa, các hồ Hàng Đậu, Hàng Khoai, Hàng Đào, đến Hồ Hoàn Kiếm, rồi tiếp tục xuống hồ Bảy Mẫu và khu vực phía Nam thành phố. Vì vậy, Hà Nội khi ấy không cần nhiều cống thoát nước như hiện nay. Hồ Tây, hồ Trúc Bạch cùng các sông, hồ nội đô vừa đảm nhận chức năng thủy văn, vừa nuôi dưỡng hệ sinh thái và tạo nên diện mạo đặc trưng của một đô thị gắn bó mật thiết với sông nước.

Cùng với quá trình đô thị hóa và sự can thiệp của con người, nhiều dòng chảy tự nhiên dần bị thu hẹp hoặc chia cắt. Hồ Tây từ một mắt xích trong mạng lưới mặt nước của thành phố trở thành một vùng nước ngày càng khép kín. Trong một thời gian dài, hồ còn phải tiếp nhận nước thải từ khu vực xung quanh, khiến chất lượng nước và hệ sinh thái bị ảnh hưởng.

Những bất cập không chỉ nằm dưới mặt nước. Trên bờ, một số đoạn đường có mặt cắt hẹp, thường xuyên ùn ứ; hạ tầng, đường dạo và không gian công cộng chưa được kết nối thành một chỉnh thể. Điều đó phần nào hạn chế khả năng tiếp cận mặt nước cũng như việc tổ chức các hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí và du lịch quanh hồ.

Hơn mười năm qua, thành phố đã triển khai nhiều biện pháp cải thiện môi trường, thu gom và xử lý nước thải quanh hồ. Những nỗ lực ấy rất cần thiết, nhưng Hồ Tây là một không gian có quy mô lớn và chứa đựng nhiều lớp giá trị đan xen, nên nếu chỉ giải quyết từng vấn đề riêng lẻ thì khó tạo ra sự thay đổi căn bản.

Điều đáng suy nghĩ không phải là phải thương mại hóa Hồ Tây bằng mọi giá, mà là chúng ta chưa chuyển hóa đầy đủ tài sản thiên nhiên, văn hóa và cảnh quan đang có thành những giá trị thiết thực cho cộng đồng.

Một điều nữa khiến tôi đặc biệt nuối tiếc là sự mai một của cả một vành đai làng nghề từng tồn tại quanh Hồ Tây. Trước đây, mỗi ngôi làng ven hồ gần như đều có một nghề riêng, vừa tạo sinh kế, vừa góp phần làm nên bản sắc của vùng đất.

Nghi Tàm từng gắn với nghề trồng dâu, nuôi tằm và chuội tơ. Hoạt động ấy còn được ghi lại trong bài thơ Dâm Đàm cán ty của Đoàn Nguyễn Tuấn, miêu tả cảnh chuội tơ bên Hồ Tây. Vùng Kẻ Bưởi, với các làng Yên Thái, Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thọ, từng là một trung tâm sản xuất giấy thủ công nổi tiếng của Thăng Long. Tiếng chày giã dó đã đi vào câu ca:

“Mịt mù khói tỏa ngàn sương,

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”.

Thụy Khuê từng nổi tiếng với nghề nấu rượu, đặc biệt là rượu nhụy sen. Võng Thị vào khoảng thế kỷ XVII lại có những quán rượu gắn với hát ca trù, tạo nên một không gian vui chơi và thưởng thức nghệ thuật rất riêng của người Thăng Long.

Trích Sài, Bái Ân cùng một số làng thuộc vùng Bưởi nổi tiếng với nghề dệt lĩnh. Lĩnh Bưởi từng là một sản phẩm rất quý, đòi hỏi kỹ thuật chọn tơ và dệt vô cùng công phu. Yên Phụ có nghề nuôi cá cảnh; Nhật Tân, tên cũ là Nhật Chiêu, nổi danh với nghề trồng đào. Quất cảnh trước đây từng được trồng ở vùng Nghi Tàm, nay thuộc khu vực Quảng An; khoảng những năm 1970, một số người dân đưa cây quất ra vùng bãi Tứ Liên và dần tạo nên thương hiệu quất cảnh Tứ Liên như ngày nay.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 9.

Từ Bắc vào Trung có rất nhiều làng dệt lụa, tuy nhiên dệt lĩnh thì chỉ có ở Kẻ Bưởi. (Ảnh tư liệu: Hocquard chụp vào những năm 1884 - 1885)

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 10.
Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 11.

Làng Yên Thái xưa là một phần của vùng Kẻ Bưởi trù phú, từng được xem là “cái nôi” của nghề làm giấy dó đất Thăng Long. (Ảnh: Tư liệu/Báo ảnh Việt Nam)

Có thể nói, Hồ Tây xưa được bao quanh bởi một vành đai nghề nghiệp rất phong phú. Mỗi nghề không tồn tại riêng lẻ mà gắn với điều kiện tự nhiên và đời sống của vùng hồ. Tuy nhiên, cho đến nay, nhiều nghề truyền thống xưa đã dần mai một và biến mất khỏi đời sống thường nhật. Một số nghề khác vẫn tồn tại nhưng cũng đã có nhiều sự biến đổi. Yên Phụ vẫn còn những hộ gia đình gắn bó với cá cảnh, làng đào Nhật Tân và quất Tứ Liên vẫn có sức sống, biết thích nghi với thị trường; riêng nghề trồng đào Nhật Tân đã được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Ngay từ Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô năm 1998, nguyên tắc bảo tồn, cải tạo các làng xóm xen kẽ trong quá trình phát triển đô thị đã được đặt ra. Tuy nhiên, đô thị hóa nhanh chỉ là một trong những nguyên nhân khiến các làng nghề thay đổi. Sự thu hẹp không gian sản xuất, sản phẩm công nghiệp thay thế hàng thủ công, thị trường tiêu thụ biến đổi và việc thiếu người kế nghiệp đã khiến nhiều nghề không còn điều kiện tồn tại như trước.

Điều chúng ta mất đi không chỉ là một vài sản phẩm. Khi một nghề biến mất, những tri thức, kỹ năng, tập quán, cảnh quan sản xuất và ký ức cộng đồng gắn với nghề cũng dần mất theo. Vì vậy, phát huy giá trị Hồ Tây không chỉ là bảo vệ mặt nước và chỉnh trang cảnh quan. Để Hồ Tây thực sự “sống”, cần đánh thức ký ức làng nghề bằng những không gian trình diễn, trải nghiệm, sản phẩm lưu niệm, lễ hội và hành trình du lịch có chiều sâu, mang bản sắc riêng của vùng hồ.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 12.

Một góc làng Yên Phụ bên bờ Hồ Tây xưa, phía Bắc đường Cổ Ngư. (Ảnh tư liệu: Tạp chí điện tử Người đô thị) 

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 13.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 14.

- Thưa ông Phạm Hải Quỳnh, dù sở hữu cảnh quan đặc sắc cùng nguồn tài nguyên văn hóa, lịch sử phong phú, Hồ Tây hiện vẫn chủ yếu được tiếp cận như một không gian dạo chơi, ngắm cảnh và thư giãn, chưa hình thành được hành trình trải nghiệm đủ chiều sâu để giữ chân du khách. Dưới góc độ phát triển điểm đến, theo ông, Hồ Tây đang thiếu những mắt xích nào để kết nối các nguồn lực sẵn có thành những sản phẩm du lịch đặc trưng? Trong bối cảnh hiện nay, vì sao việc triển khai một dự án cải tạo và phát huy giá trị vùng hồ theo hướng đồng bộ lại trở nên đặc biệt cần thiết?

Ông Phạm Hải Quỳnh: Trong 7 tháng đầu năm 2026, Hà Nội ước đón 21,16 triệu lượt khách, trong đó có 5,31 triệu lượt khách quốc tế và khoảng 3,75 triệu lượt khách quốc tế có lưu trú. Tổng thu từ khách du lịch ước đạt 86.470 tỷ đồng. Những con số ấy cho thấy quy mô thị trường và nhu cầu trải nghiệm tại Thủ đô đang tiếp tục tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, Hồ Tây có đủ điều kiện để trở thành một điểm đến quan trọng, nhưng tôi cho rằng những giá trị hiện có vẫn chưa được chuyển hóa tương xứng thành sản phẩm du lịch.

Hiện nay, du khách đến Hồ Tây chủ yếu vẫn trải nghiệm theo cách khá thụ động như uống cà phê, dùng bữa, đi dạo hoặc ngắm cảnh, trong khi nơi đây hoàn toàn có thể trở thành một hệ sinh thái trải nghiệm văn hóa - sinh thái sống động. Khu vực này có hơn 500ha mặt nước và có thể được xem như một “bảo tàng sống” về văn hóa - tâm linh, với hàng chục đình, đền, chùa cổ; cùng nhiều làng nghề truyền thống. Hồ Tây đã có không gian văn hóa sáng tạo Trịnh Công Sơn, Lễ hội Sen Hà Nội và một số hoạt động văn hóa, nghệ thuật khác. Đáng chú ý, Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026 đã thu hút gần 300.000 lượt khách chỉ trong ba ngày. Điều đó cho thấy sức hấp dẫn rất lớn khi những giá trị bản địa được tổ chức thành sự kiện và trải nghiệm cụ thể. Tuy nhiên, các hoạt động hiện nay vẫn mang tính thời điểm hoặc khu biệt, chưa hình thành một chuỗi liên kết đủ chặt chẽ để thu hút nhiều du khách khám phá, lưu lại lâu hơn và quay trở lại nhiều lần hơn.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 15.
Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 16.
Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 17.

Lễ hội Sen Hà Nội 2026 hướng tới quảng bá những nét đẹp, giá trị văn hóa, du lịch của Thăng Long - Hà Nội, vùng đất Tây Hồ và đặc biệt là hình ảnh hoa sen với nhiều hoạt động trải nghiệm đặc sắc. (Ảnh: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)

Các dịch vụ trên mặt nước dù đã có cơ sở pháp lý để nghiên cứu tổ chức nhưng chưa trở thành sản phẩm du lịch ổn định, chất lượng cao. Hồ Tây vẫn đang thiếu các dịch vụ du lịch đường thủy chất lượng cao, những không gian nghệ thuật ngoài trời mang tính biểu tượng, cũng như các tuyến phố đi bộ gắn với kinh tế đêm được quy hoạch bài bản. Nói cách khác, chúng ta đang sở hữu một “mỏ vàng” về văn hóa và cảnh quan nhưng lại chưa chuyển hóa được thành những sản phẩm du lịch có giá trị gia tăng cao.

Chính vì thế, Hà Nội không nên chậm trễ hơn trong việc triển khai dự án cải tạo, phát huy giá trị Hồ Tây. Theo tôi, có ba yếu tố cho thấy thời điểm hiện nay đặc biệt thuận lợi và cấp thiết.

Trước hết là cơ hội về thể chế và quy hoạch. Hà Nội đang có một nền tảng chính sách và quy hoạch ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi để định hình lại không gian Hồ Tây theo hướng vừa bảo tồn các giá trị lịch sử, văn hóa, cảnh quan, vừa phát huy hiệu quả các giá trị đó trong phát triển kinh tế - xã hội. Việc tập trung công tác quản lý Hồ Tây về một đầu mối sẽ là “chìa khóa” để khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán trách nhiệm từng tồn tại trước đây. Đây là điều kiện quan trọng để thành phố có thể thực hiện một dự án tổng thể và đồng bộ.

Thứ hai, nhu cầu của thị trường du lịch đã thay đổi. Du khách trong nước và quốc tế không còn thỏa mãn với việc chỉ “check-in” hay uống cà phê; họ ngày càng quan tâm đến du lịch trải nghiệm, du lịch văn hóa - di sản và các hoạt động kinh tế đêm. Nếu Hồ Tây không chuyển mình kịp thời, Hà Nội có thể bỏ lỡ nguồn thu đáng kể từ dòng khách chất lượng cao, đồng thời suy giảm sức cạnh tranh so với những điểm đến khác trong khu vực.

Thứ ba là áp lực bảo tồn và những cảnh báo về sinh thái. Quá trình đô thị hóa nhanh đang tạo sức ép ngày càng lớn lên môi trường nước, cảnh quan và không gian sống quanh hồ. Nếu không sớm có một dự án tổng thể, vừa chỉnh trang hạ tầng, xử lý môi trường, vừa bảo tồn di sản, Hồ Tây có nguy cơ trở thành một hồ sinh hoạt đô thị thông thường và dần đánh mất bản sắc riêng.

Vì vậy, cải tạo và phát huy giá trị Hồ Tây lúc này không chỉ là làm đẹp một hồ nước hay xây dựng một vài tuyến đường. Đây phải là dự án định hình lại tâm điểm văn hóa - sinh thái của Hà Nội, đưa Hồ Tây trở thành một điểm đến có tầm vóc, nơi di sản nghìn năm có thể “trò chuyện” với nhịp sống hiện đại.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 18.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 19.

- Theo nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến, Hồ Tây hiện đang đứng trước những cơ hội chuyển mình như thế nào?

TS. Nguyễn Ngọc Tiến: Theo tôi, Hồ Tây đang đứng trước một thời điểm đặc biệt thuận lợi. Trước hết, chủ trương đầu tư đã được HĐND thành phố thông qua, nghĩa là việc cải tạo, bảo tồn và phát huy giá trị Hồ Tây không còn chỉ dừng ở mong muốn hay những đề xuất riêng lẻ, mà đã trở thành một quyết định có cơ sở chính trị và pháp lý rõ ràng.

Thứ hai, dự án đã có nhà đầu tư quan tâm, đề xuất thực hiện. Đây là điều kiện quan trọng để huy động nguồn lực xã hội tham gia cùng Nhà nước, nhất là với một dự án có quy mô lớn, bao gồm nhiều hợp phần từ môi trường, hạ tầng, giao thông đến cảnh quan, văn hóa và du lịch. Khi chủ trương và nguồn lực có khả năng gặp nhau, cơ hội biến những định hướng lâu nay thành hành động cụ thể sẽ rõ ràng hơn.

Thứ ba, người dân cũng đang mong muốn Hồ Tây được sạch hơn, đẹp hơn và có thêm những không gian công cộng xứng đáng với giá trị của vùng hồ. Đây là nền tảng đồng thuận xã hội rất quan trọng. Bởi suy cho cùng, việc cải tạo Hồ Tây không chỉ nhằm tạo ra một diện mạo mới, mà trước hết phải nâng cao chất lượng sống và mở rộng quyền thụ hưởng của cộng đồng.

Như vậy, có thể nói những điều kiện cần thiết để triển khai dự án đang hội tụ tương đối đầy đủ. Vì thế, theo tôi, cần bắt tay thực hiện ngay, không nên tiếp tục trì hoãn. Tuy nhiên, làm ngay không có nghĩa là làm vội hoặc triển khai đồng loạt mọi ý tưởng khi chưa được đánh giá đầy đủ. Hồ Tây là một không gian đặc biệt nhạy cảm, nơi các yếu tố tự nhiên, sinh thái, lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và đời sống dân cư đan xen chặt chẽ. Một quyết định thiếu cân nhắc có thể để lại hậu quả lâu dài và rất khó khắc phục.

- Thưa ông Phạm Hải Quỳnh, như ông đã phân tích, Hồ Tây không thiếu tài nguyên mà thiếu một cấu trúc đủ sức kết nối những giá trị riêng lẻ thành hành trình trải nghiệm hoàn chỉnh. Vậy nếu dự án cải tạo, phát huy giá trị Hồ Tây được triển khai đồng bộ, theo ông, dự án có thể tạo nên bước chuyển như thế nào trong việc hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng; qua đó nâng cao sức cạnh tranh và vị thế của Hà Nội trên bản đồ du lịch trong nước, quốc tế?

Ông Phạm Hải Quỳnh: Nếu được triển khai bài bản, đồng bộ và có tầm nhìn dài hạn, tôi tin dự án sẽ vượt ra ngoài phạm vi của một công trình chỉnh trang đô thị. Đây có thể trở thành một “cú hích” mang tính bước ngoặt, tạo ra ba đóng góp chiến lược cho du lịch và hình ảnh thương hiệu của Thủ đô.

Trước hết, dự án có thể thúc đẩy sự chuyển dịch từ “du lịch ngắm cảnh” sang kinh tế trải nghiệm có giá trị cao. Đây là đóng góp trực tiếp và rõ nét nhất, bởi Hà Nội đang rất cần những sản phẩm du lịch chất lượng cao. Khi Hồ Tây được quy hoạch đồng bộ với các tuyến du thuyền đạt tiêu chuẩn quốc tế, chuỗi không gian văn hóa - nghệ thuật ngoài trời và những tuyến phố đi bộ gắn với ẩm thực, giải trí, mua sắm, du khách sẽ có thêm lý do để ở lại Hà Nội một đến hai ngày, thay vì chỉ ghé qua trong vài giờ.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 20.

Không gian Hồ Tây cũng có thể được kết nối với chuỗi di sản phụ cận như Hoàng thành Thăng Long, khu phố cổ và sông Hồng, qua đó hình thành một vùng du lịch trọng điểm đủ sức thu hút và giữ chân khách MICE, khách quốc tế có mức chi tiêu cao và các phân khúc khách hàng cao cấp.

Đóng góp thứ hai là đưa Hồ Tây trở thành một biểu tượng nhận diện nổi bật hơn nữa của Hà Nội với du khách trong nước và quốc tế. Nhiều thành phố du lịch lớn trên thế giới đều có một “trái tim mặt nước” góp phần định danh thương hiệu. Nếu được đầu tư đồng bộ, Hồ Tây có thể trở thành biểu tượng của một Hà Nội xanh, sáng tạo và giàu di sản; đồng thời là minh chứng sinh động cho định hướng xây dựng Thành phố Sáng tạo UNESCO mà Hà Nội hướng đến.

Đóng góp thứ ba, đồng thời cũng là giá trị nhân văn và bền vững nhất, là hồi sinh các di sản sống và tạo sinh kế lâu dài cho cộng đồng. Một dự án du lịch thành công không thể tách rời người dân địa phương. Những làng nghề quanh hồ như trà sen Quảng An, quất cảnh Tứ Liên, đúc đồng Ngũ Xã... có thể được tổ chức thành các “bảo tàng sống”, nơi du khách trực tiếp trải nghiệm và nghệ nhân có thể sống được bằng nghề.

Khi đó, người dân Thủ đô không chỉ được thụ hưởng một không gian sống xanh, sạch và hiện đại hơn, mà còn trở thành chủ thể tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch, từ đó tạo ra nguồn sinh kế lâu dài, văn minh và bền vững.

Nhìn ở góc độ này, đầu tư đồng bộ cho Hồ Tây không đơn thuần là một khoản chi phí, mà là khoản đầu tư chiến lược cho tương lai. Giá trị thu về không chỉ nằm ở doanh thu du lịch, mà còn ở sức hút thương hiệu mới, giúp Hà Nội tự tin sánh cùng các đô thị du lịch di sản - sinh thái hàng đầu châu Á.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 21.

- Dự án cải tạo, phát huy giá trị Hồ Tây có thể tác động như thế nào đến việc kéo dài thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu của du khách, hình thành các sản phẩm du lịch mới và tạo động lực phát triển cho khu vực Tây Hồ Tây cũng như du lịch Hà Nội trong tương lai, thưa ông?

Ông Phạm Hải Quỳnh: Đối với một điểm đến, thước đo thành công không chỉ nằm ở số lượt khách mà quan trọng hơn là du khách ở lại bao lâu, chi tiêu bao nhiêu, mức độ hài lòng như thế nào và có mong muốn quay trở lại hay không. Nhìn từ góc độ ấy, dự án có thể tạo ra bước chuyển quan trọng nếu những cải thiện về hạ tầng, cảnh quan và môi trường được chuyển hóa thành một hệ sinh thái sản phẩm du lịch hoàn chỉnh.

Từ góc nhìn đó, dự án có thể tạo ra 4 tác động nổi bật. Trước hết, dự án góp phần kéo dài thời gian lưu trú và kích thích chi tiêu. Du lịch Hà Nội lâu nay vẫn phải giải bài toán thời gian lưu trú của du khách còn ngắn, trung bình khoảng 1,5 - 2 ngày, trong khi tỷ trọng chi tiêu cho mua sắm và giải trí ban đêm vẫn khá khiêm tốn. Khi Hồ Tây trở thành một tổ hợp trải nghiệm “all-in-one”, kết nối văn hóa, ẩm thực, mua sắm và giải trí mặt nước, du khách sẽ có thêm lý do để ở lại Hà Nội lâu hơn.

Nếu đồng thời hình thành các phân khúc dịch vụ cao cấp như du thuyền năm sao, nhà hàng fine dining ven hồ, thương hiệu boutique và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dự án có thể thu hút dòng khách có mức chi tiêu cao gấp hai đến ba lần so với khách phổ thông.

Tác động thứ hai là hình thành những chuỗi sản phẩm du lịch mới, khác biệt với phần còn lại của Thủ đô. Hồ Tây có thể phát triển hệ thống buýt đường thủy sinh thái, du thuyền thưởng trà hoặc thưởng thức âm nhạc vào buổi tối, kết nối các điểm di sản ven hồ bằng đường thủy thay vì chỉ bằng đường bộ.

Bên cạnh đó, các không gian đi bộ sáng tạo có thể kết hợp với những chương trình nghệ thuật thực cảnh trên mặt nước, ứng dụng công nghệ trình chiếu 3D mapping, nhạc nước và ánh sáng để kể lại các huyền thoại Hồ Tây cũng như câu chuyện Thăng Long - Hà Nội. Không gian mặt nước rộng lớn còn có thể kết hợp với văn hóa trà sen, thiền và yoga ven hồ, từng bước đưa Hồ Tây trở thành một trung tâm nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe ngay giữa lòng đô thị.

Tác động thứ ba là tạo động lực phát triển cho khu vực Tây Hồ Tây. Đây là khu vực đang phát triển nhanh về hạ tầng đô thị, trung tâm hành chính và thương mại. Dự án cải tạo Hồ Tây có thể trở thành “cầu nối” giữa một vùng Tây Hồ giàu di sản, cổ kính ở phía Đông với khu Tây Hồ Tây hiện đại, năng động và có tính quốc tế ở phía Tây.

Sự cộng hưởng từ cảnh quan, hạ tầng và môi trường được cải thiện sẽ tăng sức hút đối với các tập đoàn khách sạn quốc tế, trung tâm thương mại cao cấp, qua đó góp phần hình thành một không gian đô thị du lịch - tài chính - giải trí có tầm vóc khu vực.

Cuối cùng, dự án có thể tạo ra một trục động lực lan tỏa cho toàn bộ du lịch Hà Nội. Trong bối cảnh khu phố cổ đang chịu nhiều áp lực về hạ tầng và không gian, Hồ Tây có khả năng chia sẻ dòng khách, trở thành một cực tăng trưởng du lịch thứ hai rộng rãi và thông thoáng hơn.

Khi được kết nối với trục du lịch sông Hồng, Hồ Tây có thể góp phần hình thành hành lang du lịch sinh thái - di sản: Phố cổ - Hồ Tây - sông Hồng - Cổ Loa/Sơn Tây. Như vậy, dự án không chỉ giúp gia tăng số lượng khách, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng của kinh tế du lịch Hà Nội, chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên giá trị gia tăng, thời gian lưu trú và mức độ hài lòng của du khách.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 22.

Hồ Tây là một trong những không gian thơ mộng nhất Hà Nội, luôn thu hút đông đảo người dân và du khách đến ngắm cảnh. Khi được kết nối với trục du lịch sông Hồng, Hồ Tây có thể góp phần hình thành hành lang du lịch sinh thái - di sản: Phố cổ - Hồ Tây - sông Hồng - Cổ Loa/Sơn Tây. (Ảnh: Phan Lâm)

- Ngoài lĩnh vực du lịch, theo ông, dự án có thể tạo ra những tác động tích cực như thế nào đối với các lĩnh vực khác?

Ông Phạm Hải Quỳnh: Nếu chỉ nhìn Hồ Tây fdưới góc độ du lịch, chúng ta mới thấy được một phần của bức tranh. Trong lý thuyết phát triển đô thị hiện đại, Hồ Tây có thể đóng vai trò như một “động lực kích hoạt”. Khi dự án được triển khai đồng bộ, hiệu ứng lan tỏa có thể xuất hiện ở ít nhất năm nhóm ngành kinh tế đô thị cốt lõi.

Trước hết là kinh tế đêm, ẩm thực và bán lẻ trải nghiệm. Hồ Tây có những điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tế đêm, nhưng hoạt động hiện nay còn mang tính tự phát. Dự án có thể thúc đẩy quá trình tái định vị ẩm thực và bán lẻ, chuyển từ các mô hình cà phê, quán ăn nhỏ lẻ sang chuỗi nhà hàng fine dining ven hồ, không gian thưởng trà sen gắn với di sản và những điểm bán lẻ sáng tạo.

Song song với đó, các tổ hợp giải trí đêm được tổ chức bài bản, có kiểm soát về tiếng ồn, an ninh và vệ sinh môi trường. Khi thời gian lưu lại của người dân và du khách được kéo dài, doanh thu dịch vụ ban đêm có thể tăng gấp ba đến bốn lần.

Nhóm thứ hai là công nghiệp văn hóa - sáng tạo, thể thao và giải trí. Hà Nội đang cần thêm những “khoảng thở” sáng tạo và không gian tổ chức sự kiện quy mô lớn. Với lợi thế cảnh quan mặt nước, Hồ Tây có thể trở thành sân khấu ngoài trời cho các tuần lễ thời trang, triển lãm nghệ thuật công cộng, lễ hội âm nhạc quốc tế, đồng thời hình thành những không gian làm việc sáng tạo dành cho nghệ sĩ và các doanh nghiệp khởi nghiệp.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 23.

Hạ tầng quanh hồ cũng có thể được chuẩn hóa để phục vụ các môn thể thao mặt nước như đua thuyền truyền thống, SUP, kayak, sailing và các hoạt động ven hồ như chạy bộ, đạp xe. Qua đó, Hồ Tây có khả năng trở thành địa điểm tổ chức những giải đấu phong trào và chuyên nghiệp mang tầm khu vực.

Nhóm thứ ba là bất động sản và hạ tầng thương mại đô thị. Cảnh quan và chất lượng sống luôn là những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị bất động sản. Khu vực quanh Hồ Tây vốn đã có giá trị cao; khi hạ tầng và môi trường tiếp tục được nâng cấp, nơi đây có thể trở thành một trong những khu vực có chất lượng sống hàng đầu Thủ đô, thu hút chuyên gia quốc tế, cộng đồng ngoại giao và các nhóm cư dân có nhu cầu cao về môi trường sống.

Sự thay đổi ấy cũng sẽ gia tăng sức hút đầu tư đối với các thương hiệu khách sạn, mô hình nghỉ dưỡng đô thị và trung tâm hội nghị quốc tế ở khu vực phụ cận.

Nhóm thứ tư là giao thông xanh và dịch vụ đô thị. Dự án sẽ bố trí bãi đỗ xe ngầm kết hợp dịch vụ, công trình bảo vệ môi trường, ngoài ra, có thể thúc đẩy phát triển hệ thống xe buýt điện, xe đạp công cộng, buýt đường thủy sinh thái và các tuyến đường ưu tiên cho người đi bộ. Đây không chỉ là hạ tầng phục vụ du lịch, mà còn là nền tảng nâng cao chất lượng sống của cư dân.

Cuối cùng là môi trường và hạ tầng kỹ thuật. Việc cải tạo Hồ Tây cần đi cùng quá trình nâng cấp hệ thống thu gom, xử lý nước thải, quản lý năng lượng thông minh và chiếu sáng nghệ thuật đô thị. Những hạng mục này sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng môi trường và không gian sống quanh hồ.

Như vậy, dự án Hồ Tây không chỉ là câu chuyện “chi tiền” để nâng cấp cảnh quan, mà còn là một khoản đầu tư có khả năng tạo dòng tiền cho toàn bộ nền kinh tế Hà Nội. Theo cách tính về tác động lan tỏa, mỗi đồng đầu tư vào Hồ Tây có thể tạo ra từ năm đến bảy đồng doanh thu cho các ngành dịch vụ, thương mại và hạ tầng đô thị phụ cận.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 24.

- Khi Hồ Tây bước vào một giai đoạn đầu tư và phát triển mới, vấn đề đặt ra không chỉ là thay đổi diện mạo mà còn là xác định giới hạn và cách thức của sự thay đổi. Theo ông, cần giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển như thế nào để những can thiệp mới vừa đáp ứng nhu cầu của đời sống đương đại, vừa không làm đứt gãy các giá trị lịch sử, văn hóa, cảnh quan và sinh thái đã tạo nên bản sắc Hồ Tây?

Ông Phạm Hải Quỳnh: Đây là câu hỏi mang tính “xương sống” đối với tương lai của Hồ Tây. Chúng ta không thể “đóng băng” di sản theo tư duy bảo tồn cũ, song càng không nên khai thác vô độ làm đánh mất cái “hồn” làm nên giá trị của Hồ Tây.

Để xác lập ranh giới này một cách khoa học, theo tôi, Hà Nội cần dựa trên ba trụ cột.

Trụ cột thứ nhất là ranh giới không gian, được xác lập thông qua phân vùng chức năng nghiêm ngặt. Không thể ứng xử với toàn bộ tuyến đường dạo và hơn 500 ha mặt nước Hồ Tây theo cùng một cách. Mỗi khu vực cần được giao một chức năng và sứ mệnh rõ ràng.

Vùng bảo tồn sinh thái và tâm linh, có thể coi là “vùng đỏ”, bao gồm khu vực xung quanh các đền, chùa cổ như phủ Tây Hồ, chùa Trấn Quốc, đền Quán Thánh và những vùng mặt nước nhạy cảm về sinh thái. Tại đây cần hạn chế tối đa xây dựng, không thương mại hóa xô bồ, ưu tiên sự tĩnh lặng và bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái.

Vùng chuyển tiếp văn hóa và làng nghề, hay “vùng vàng”, có thể bao gồm Quảng An, Nhật Tân, Tứ Liên, Ngũ Xã. Khu vực này nên phát triển với mật độ thấp, tập trung vào các mô hình trải nghiệm di sản, làng nghề, không gian đi bộ và sáng tạo.

Vùng phát triển năng động và hiện đại, hay “vùng xanh”, có thể bố trí tại khu vực phía Tây Hồ Tây và những điểm có khả năng mở rộng hạ tầng. Đây là nơi tiếp nhận các công trình dịch vụ, thương mại và vui chơi giải trí hiện đại, qua đó chia sẻ sức ép cho toàn khu vực.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 25.
Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 26.
Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 27.

Phương án đề xuất cải tạo, mở rộng tuyến đường Nguyễn Đình Thi, Quảng An, Trích Sài trong Dự án đầu tư, cải tạo phát huy giá trị khu vực hồ Tây và tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ theo phương thức đối tác công tư PPP - hợp đồng xây dựng chuyển giao (BT).

Trụ cột thứ hai là ranh giới kỹ thuật, được xác định bằng giới hạn sức chứa và sức chịu tải môi trường. Ranh giới khai thác phải được lượng hóa bằng các chỉ số khoa học, thay vì chỉ dựa trên cảm tính. Thành phố cần xác định tại mỗi thời điểm Hồ Tây có thể tiếp nhận tối đa bao nhiêu lượt khách mà không gây quá tải giao thông, hạ tầng hoặc ô nhiễm tiếng ồn.

Tương tự, mọi hoạt động trên mặt nước như du thuyền hay thể thao nước đều phải nằm trong giới hạn tự làm sạch và khả năng kiểm soát chất lượng nước của hồ. Môi trường nước phải được coi là “lằn ranh đỏ” không được phép vượt qua.

Trụ cột thứ ba là ranh giới pháp lý và xã hội, với yêu cầu cốt lõi là bảo đảm tính công cộng của di sản. Không gian ven hồ và mặt nước phải được xác định là tài sản chung của cộng đồng. Nguyên tắc này nhằm ngăn chặn nguy cơ các dự án bất động sản hoặc doanh nghiệp dịch vụ chiếm dụng không gian Hồ Tây làm lợi ích riêng.

Trên nền tảng đó, chúng ta cần chuyển từ “bảo tồn tĩnh” sang “bảo tồn động”: Sử dụng nguồn thu từ hoạt động du lịch hợp lý để tái đầu tư trực tiếp vào xử lý nước hồ, phục hồi hệ sinh thái thủy sinh, trùng tu di sản và nâng cấp hạ tầng dân sinh.

Nói một cách ngắn gọn, bảo tồn tạo nền tảng giá trị cho khai thác, còn khai thác hợp lý tạo nguồn lực quay trở lại phục vụ bảo tồn. Nếu giữ vững các “ranh giới đỏ” về sinh thái và tính công cộng, dự án cải tạo Hồ Tây không làm mất đi vẻ đẹp thơ mộng vốn có, mà ngược lại, có thể nâng tầm nơi đây thành một “di sản sống”, nơi chiều sâu nghìn năm văn hiến hòa quyện với nhịp thở của một Thủ đô hiện đại và hội nhập.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 28.

PV: Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trên nền tảng bản sắc dân tộc, hình thành những sản phẩm, dịch vụ văn hóa độc đáo, giàu trải nghiệm và gắn với du lịch. Cùng với đó, Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 tạo thêm hành lang pháp lý và những cơ chế đặc thù để Hà Nội huy động nguồn lực, phát triển các không gian và thiết chế văn hóa - sáng tạo, đưa phát triển công nghiệp văn hóa Hà Nội thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Đặt trong những định hướng ấy, dự án cải tạo, phát huy giá trị khu vực Hồ Tây có thể tạo điều kiện khơi dậy những chất liệu lịch sử, văn hóa nào? Theo ông, cần chuyển hóa và kết nối các chất liệu ấy ra sao để hình thành chuỗi sản phẩm mang bản sắc riêng, tạo nên hành trình trải nghiệm có chiều sâu, đủ sức gia tăng sức hấp dẫn và giữ chân du khách?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến: Trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI, Hồ Tây vẫn chủ yếu được nhìn nhận như một hồ nước và thắng cảnh. Chưa có một dự án tổng thể để khai thác du lịch quanh hồ. Nguyên nhân trước hết là thiếu hạ tầng; thứ hai là chưa xác định được phải xây dựng những sản phẩm du lịch gì. Khoảng 7-10 năm trở lại đây, khi du lịch phát triển mạnh hơn, người ta mới nhận thấy cần khai thác các giá trị di sản của Hồ Tây. Tuy nhiên, khai thác những gì và khai thác như thế nào thì đến nay vẫn chưa có nhiều dự án cụ thể.

Trong khi đó, Hồ Tây có rất nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có thể phát triển thành sản phẩm du lịch. Chẳng hạn, từ khoảng thế kỷ XVII, nơi đây từng nổi tiếng với những quán rượu có hát ca trù. Rượu được sử dụng tại các quán có loại rượu sen do làng Thụy Chương, tức Thụy Khuê ngày nay, nấu. Nếu được nghiên cứu và tái hiện trong một không gian phù hợp, sự kết hợp giữa ca trù, tiếng phách, trống chầu, rượu sen và ẩm thực truyền thống có thể giúp du khách hình dung rõ hơn về đời sống văn hóa Thăng Long xưa.

Bên cạnh đó, kho tàng truyền thuyết và tích cổ gắn với Hồ Tây cũng có thể được chuyển tải thông qua hoạt cảnh, sân khấu thực cảnh, nghệ thuật trình chiếu hoặc những hình thức kể chuyện đương đại. Tuy nhiên, nội dung phải dựa trên nghiên cứu nghiêm túc.

Ngoài ra, có thể phục dựng không gian Bến Trúc Nghi Tàm xưa. Vào khoảng thế kỷ XVII - XVIII, các chúa Trịnh từng đến đây nghỉ ngơi, tắm mát và cho người chèo thuyền ra hồ hái sen. Đây từng là một không gian có những rặng trúc rất đẹp. Việc trồng lại một rặng trúc, phục dựng bến trúc và tổ chức những hoạt cảnh phù hợp không quá khó, nhưng đến nay chưa có ai thực hiện.

Tiếp đó, có thể tái hiện chợ đêm Khán Xuân tại khu vực gần tượng đài Lý Tự Trọng. Xưa kia, chúa Trịnh cho mở chợ đêm Khán Xuân làm nơi vui chơi của quan lại và hoàng thân quốc thích. Đây là một di sản có thể nghiên cứu, phục dựng thành sản phẩm văn hóa - du lịch phù hợp.

Tôi mới chỉ nói riêng đến 4 yếu tố gồm ca trù Võng Thị, những tích cổ Hồ Tây, Bến Trúc Nghi Tàm và chợ đêm Khán Xuân, nếu được khai thác bài bản, đã có thể hình thành một chuỗi sản phẩm du lịch khá hấp dẫn.

Đặc biệt, xung quanh Hồ Tây có rất nhiều đình, đền, chùa, nhưng dường như vẫn chưa có tour đường thủy đưa khách đi bằng ca nô hoặc thuyền, dừng tại các bến để tham quan, vãn cảnh các di tích. Ngay cả một hành trình chỉ đi vòng quanh hồ, không cần lên bờ, để du khách ngắm cảnh từ mặt nước vào đất liền cũng rất thú vị.

Muốn phát triển du lịch Hồ Tây, tôi cho rằng cần khai thác lại những di sản đã có trong lịch sử, đồng thời kết hợp hài hòa giữa di sản văn hóa vật thể và phi vật thể để tạo thành các sản phẩm đặc trưng. Khi hình thành được những sản phẩm có nội dung, có câu chuyện và mang bản sắc riêng, Hồ Tây mới có thể giữ chân du khách lâu hơn, gia tăng mức chi tiêu và tạo động lực để họ quay trở lại.

- Nhiều thành phố trên thế giới đã phát triển những hồ cảnh quan nằm giữa trung tâm thành các không gian công cộng và điểm đến giàu sức sống, trong khi vẫn gìn giữ được giá trị sinh thái, văn hóa. Từ kinh nghiệm quốc tế, theo ông, đâu là những bài học phù hợp mà Hà Nội có thể tham khảo cho Hồ Tây? Việc vận dụng những kinh nghiệm đó cần lưu ý điều gì để phù hợp với đặc điểm riêng của khu vực?

Ông Phạm Hải Quỳnh: Câu hỏi này mở ra một tầm nhìn rất lớn. Nhìn ra thế giới, có thể thấy nhiều đô thị di sản và đô thị hiện đại hàng đầu sở hữu những hồ nước lớn góp phần định danh thương hiệu điểm đến. Hồ Tây của Hà Nội có đầy đủ các yếu tố để đảm nhận vai trò tương tự, thậm chí còn sở hữu những lợi thế cạnh tranh riêng có.

Hà Nội có thể đúc kết và vận dụng linh hoạt kinh nghiệm từ một số mô hình nổi bật. Tây Hồ ở Hàng Châu, Trung Quốc không tư nhân hóa bờ hồ mà mở cửa miễn phí toàn bộ công viên ven hồ và tạo nguồn thu lớn từ các dịch vụ giá trị gia tăng ở khu vực xung quanh, nổi bật là chương trình nghệ thuật thực cảnh “Ấn tượng Tây Hồ”.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 29.
Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 30.

Nhìn ra thế giới, có thể thấy nhiều đô thị di sản và đô thị hiện đại hàng đầu sở hữu những hồ nước lớn góp phần định danh thương hiệu điểm đến. Hồ Tây của Hà Nội có đầy đủ các yếu tố để đảm nhận vai trò tương tự, thậm chí còn sở hữu những lợi thế cạnh tranh riêng có. (Ảnh: Tùng Dương)

Marina Bay của Singapore là điển hình thành công về tích hợp giữa kinh tế đêm và công nghệ xanh. Singapore đã biến một vùng hồ nhân tạo thành biểu tượng du lịch thông qua quy hoạch kiến trúc điểm nhấn, tổ chức các chuỗi sự kiện quốc tế và quản lý chất lượng nước bằng công nghệ hiện đại. Hồ Tây tại Hà Nội cũng có thể tham khảo cách tổ chức không gian chiếu sáng nghệ thuật, chuỗi sự kiện MICE, lễ hội ngoài trời, đồng thời kiểm soát môi trường nước bằng hệ thống cảm biến thông minh.

Trong khi đó, hồ Zurich và hồ Geneva của Thụy Sĩ gợi mở kinh nghiệm phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe và giao thông xanh. Các đô thị này tận dụng mặt nước cho phương tiện không phát thải, hoạt động thể thao nước sinh thái và những không gian nghỉ dưỡng tĩnh lặng ngay giữa thành phố. Hồ Tây của Hà Nội cũng có thể hướng tới vai trò một trung tâm tái tạo năng lượng cho người dân và du khách, với tuyến chạy bộ, xe đạp xanh và hệ thống buýt đường thủy không phát thải.

Nếu dự án được triển khai đúng hướng, tôi kỳ vọng trong 5 - 10 năm tới, Hồ Tây không chỉ là một điểm đến đơn lẻ mà sẽ trở thành một hệ sinh thái trải nghiệm hoàn chỉnh, dựa trên ba giá trị: Xanh, sáng tạo và giàu bản sắc.

Tôi cũng tin rằng, khi dự án đầu tư, cải tạo phát huy giá trị khu vực Hồ Tây và tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ hoàn thành sẽ giúp Hồ Tây tăng khả năng cạnh tranh quốc tế, điều đó hoàn toàn có cơ sở. Hồ Tây sở hữu một lợi thế đặc biệt mà hiếm hồ đô thị nào có được đó là hơn 500ha mặt nước nằm ngay trong lõi của một Thủ đô hơn 1.000 năm lịch sử, được bao quanh bởi hàng chục di tích và làng nghề truyền thống.

Nếu biết kết nối “vốn cổ” của di sản với công nghệ và tư duy quản trị mới, Hồ Tây hoàn toàn có thể trở thành điểm đến du lịch văn hóa - sinh thái hàng đầu Đông Nam Á, đủ sức cạnh tranh với các hồ đô thị nổi tiếng trong khu vực và trên thế giới.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 31.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 32.

- Với tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 30.000 tỷ đồng, dự án đầu tư, cải tạo phát huy giá trị khu vực Hồ Tây và tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ đòi hỏi nguồn lực lớn cùng năng lực tổ chức và triển khai đồng bộ. Công ty TNHH Thành phố Mặt Trời, thành viên Sun Group, là đơn vị tham gia nghiên cứu và đề xuất dự án. Các chuyên gia đánh giá sự đồng hành của khu vực tư nhân có ý nghĩa như thế nào đối với một dự án văn hóa - cảnh quan có quy mô và tầm vóc như vậy tại Hồ Tây?

Sun Group sẽ phát huy những thế mạnh và thể hiện trách nhiệm ra sao để những giá trị được tạo dựng không chỉ nằm ở công trình, mà còn đóng góp lâu dài cho cộng đồng, du lịch và diện mạo Thủ đô?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến: Qua quan sát những dự án Sun Group đã triển khai tại nhiều địa phương, tôi cho rằng doanh nghiệp có kinh nghiệm huy động nguồn lực, tổ chức thực hiện các dự án quy mô lớn và hình thành những điểm đến có sức nhận diện. Họ không chỉ tham gia xây dựng hạ tầng mà còn chú ý đến việc tạo lập không gian văn hóa, cảnh quan và các sản phẩm có khả năng thu hút du khách.

Tuy nhiên, phải thừa nhận triển khai các công trình, dự án tại Hồ Tây là điều không hề dễ. Ở một số vùng đất còn hoang sơ, việc đầu tư hạ tầng bài bản có thể nhanh chóng tạo ra một diện mạo mới. Hồ Tây thì khác, bởi nơi đây vốn đã đẹp, đã có lịch sử, có ký ức và đã chiếm một vị trí sâu đậm trong tâm thức người Hà Nội. Đây không phải một khoảng trống để chúng ta tùy ý tạo dựng từ đầu, mà là một không gian đã được thiên nhiên, lịch sử và con người bồi đắp qua nhiều thế hệ. Vì vậy, câu hỏi khó nhất là làm thế nào để Hồ Tây đẹp hơn mà không làm tổn thương vẻ đẹp sẵn có. Nếu thực hiện không khéo, mong muốn làm đẹp có thể dẫn đến kết quả ngược lại.

Đối với một dự án có tổng mức đầu tư lớn và phạm vi tác động rộng như Hồ Tây, sự tham gia của khu vực tư nhân có thể giúp chia sẻ gánh nặng nguồn lực với Nhà nước, đồng thời đưa vào quá trình triển khai những kinh nghiệm về quản trị, công nghệ, thiết kế, tổ chức dịch vụ và vận hành điểm đến.

Với Hồ Tây, điều được kỳ vọng không đơn thuần là một diện mạo mới, mà là sự chuyển mình tương xứng với chiều sâu lịch sử, văn hóa và vị trí đặc biệt của vùng hồ trong lòng Hà Nội. Tôi tin rằng, bằng tầm nhìn dài hạn, quyết tâm thực hiện cùng sự trân trọng đối với di sản và văn hóa dân tộc, Sun Group có thể góp phần kiến tạo Hồ Tây thành một không gian văn hóa - sinh thái giàu sức sống, một điểm đến đặc trưng của Thủ đô, nơi những giá trị truyền thống được tiếp nối trong nhịp sống hiện đại và cộng đồng được thụ hưởng những thành quả phát triển.

Đánh thức du lịch Hồ Tây: Phát huy “mạch di sản”, kiến tạo “điểm đến biểu tượng” của Thủ đô- Ảnh 33.

- Những chia sẻ của các chuyên gia, dù xuất phát từ những góc nhìn khác nhau, đều gặp nhau ở sự trân trọng dành cho Hồ Tây và kỳ vọng Hồ Tây sẽ được phát triển toàn diện, hài hòa, xứng đáng với vị trí đặc biệt trong lòng Hà Nội. “Đánh thức” Hồ Tây, vì thế, không phải là khoác lên nơi đây một diện mạo xa lạ hoàn toàn. Đó là hành trình tìm lại, kết nối và mở rộng sức sống cho những giá trị đã hiện hữu trong mặt nước, di sản và đời sống cộng đồng; để Hồ Tây không chỉ đẹp trong ký ức, mà còn có khả năng đồng hành với nhịp phát triển mới của Thủ đô.

Xin trân trọng cảm ơn nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến và ông Phạm Hải Quỳnh về những chia sẻ đầy tâm huyết và giàu tính gợi mở! Kỳ vọng rằng, khi dự án đầu tư, cải tạo phát huy giá trị khu vực Hồ Tây và tuyến đường giao thông cảnh quan ven hồ hoàn thành, những giá trị vốn có của Hồ Tây sẽ được kết nối và phát huy mạnh mẽ hơn, để nơi đây thực sự trở thành một không gian biểu tượng của Hà Nội - vừa lưu giữ ký ức, vừa mở ra những giá trị mới cho tương lai./.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top