Loạt dự án khởi công dịp 2/9: Mở đường cho tăng trưởng, kiến tạo dư địa phát triển mới
Loạt công trình, dự án quy mô lớn đồng loạt được khởi công trên cả nước nhân dịp kỷ niệm 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026) đã ghi dấu một bước tiến về quy mô đầu tư hạ tầng, đồng thời mở ra những không gian phát triển mới, khơi thông nguồn lực và tạo thêm động lực cho nền kinh tế bước vào một giai đoạn tăng trưởng mới.
❃ ❃ ❃
Kỷ niệm 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), không khí đầu tư, xây dựng hạ tầng trên cả nước trở nên sôi động khi hàng loạt công trình, dự án quy mô lớn được khởi công. Từ đường cao tốc, đường sắt đô thị, cảng biển, sân bay đến các tuyến giao thông kết nối liên vùng, một mạng lưới hạ tầng mới đang từng bước được hình thành, mở thêm những hướng kết nối, không gian phát triển và kỳ vọng về những động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Tại Hà Nội, thành phố tổ chức khởi công, khánh thành 54 dự án, công trình với tổng mức đầu tư 401.234 tỷ đồng. Trong đó, thành phố lựa chọn 17 dự án, công trình tiêu biểu, với tổng mức đầu tư khoảng 397.018 tỷ đồng, gồm 11 công trình khánh thành, thông xe kỹ thuật và 6 dự án, công trình khởi công. Đây là những công trình có quy mô lớn, có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hạ tầng khung, nâng cao năng lực chống ngập, tăng cường kết nối và mở rộng dư địa phát triển của Thủ đô.
Việc khởi công, khánh thành 17 công trình tiêu biểu dịp Quốc khánh cũng nằm trong tổng thể chương trình đầu tư hạ tầng quy mô lớn của Hà Nội trong năm 2026. Theo số liệu tổng hợp, tính đến ngày 27/8, thành phố có khoảng 341 công trình, dự án đăng ký khởi công và hoàn thành trong năm, với tổng mức đầu tư 649.403 tỷ đồng.




Từ đường cao tốc, đường sắt đô thị, cảng biển, sân bay đến các tuyến giao thông kết nối liên vùng, một mạng lưới hạ tầng mới đang từng bước được hình thành, mở thêm những hướng kết nối, không gian phát triển và kỳ vọng về những động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Cùng với Hà Nội, không khí khởi công, khánh thành các công trình trọng điểm cũng diễn ra sôi động tại khu vực phía Nam. UBND TP. HCM cũng đã tổ chức khánh thành, khởi công 11 công trình, dự án với tổng vốn hơn 181.412 tỷ đồng, tập trung vào các lĩnh vực giao thông, môi trường, giáo dục, nhà ở xã hội và chỉnh trang đô thị. Trong đó, 3 công trình được khánh thành và 8 dự án khởi công.
Đáng chú ý, trong nhóm dự án giao thông có dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 13 với tổng vốn khoảng 20.678 tỷ đồng, chiều dài 5,9km; dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1 đoạn từ Kinh Dương Vương đến ranh tỉnh Tây Ninh, tổng vốn khoảng 16.285 tỷ đồng. Hai dự án cao tốc thành phần 2-1 và 2-3 có tổng vốn lần lượt khoảng 5.247 tỷ đồng và 8.761 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành, đưa vào khai thác năm 2029.
Không chỉ tập trung cho giao thông, nguồn lực đầu tư còn được phân bổ cho các lĩnh vực thiết yếu như môi trường, nhà ở xã hội và chỉnh trang đô thị. Dự án cải thiện môi trường nước tỉnh Bình Dương (cũ) có vốn khoảng 7.211 tỷ đồng; hai dự án nhà ở xã hội tại Nam TP.HCM và Lê Thành Tân Tạo 2 cung cấp khoảng 774 căn hộ, với tổng vốn 856 tỷ đồng. Đáng chú ý, Dự án Chỉnh trang đô thị khu Mả Lạng và Chợ Gà - Gạo có tổng vốn khoảng 15.674 tỷ đồng, triển khai theo phương thức BT, tập trung hoàn thiện hạ tầng, trường học và nhà ở tái định cư, dự kiến hoàn thành năm 2029.
Bên cạnh hai đầu tàu kinh tế, làn sóng khởi công, triển khai các dự án quy mô lớn cũng lan rộng tới nhiều địa phương, góp phần mở rộng không gian phát triển và nâng cao năng lực kết nối vùng.
Trong chuỗi hoạt động chào mừng Quốc khánh 2/9, TP. Cần Thơ có 26 công trình, dự án với tổng vốn đầu tư 16.759 tỷ đồng, gồm 6 công trình khánh thành và 20 công trình khởi công. Việc đồng loạt triển khai các dự án được kỳ vọng tạo thêm động lực hoàn thiện hạ tầng, đồng thời thể hiện quyết tâm của chính quyền cùng sự đồng hành của người dân và cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình xây dựng, phát triển thành phố.
Tại cực Nam Tổ quốc, Cà Mau cũng khởi công 3 dự án dịp Quốc khánh. Đáng chú ý, dự án kè bờ sông Gành Hào đoạn G6 dài khoảng 2,5km, tổng mức đầu tư 480 tỷ đồng, nhằm phòng chống sạt lở, bảo vệ khu dân cư và chỉnh trang không gian ven sông. Cùng với đó, địa phương đặt mục tiêu hoàn thành 1.069 căn nhà hỗ trợ người có hoàn cảnh khó khăn trước dịp Quốc khánh, góp phần bảo đảm an sinh xã hội.
Tại Nghệ An, 3 dự án quy mô lớn trong các lĩnh vực du lịch, môi trường và đô thị cũng được triển khai, gồm Khu nghỉ dưỡng La Brise, Tổ hợp nhà ở, thương mại, dịch vụ Trường Vinh và Nhà máy điện rác Nghệ An. Với định hướng đầu tư đa lĩnh vực, các dự án được kỳ vọng không chỉ bổ sung hạ tầng, dịch vụ mà còn tạo thêm động lực tăng trưởng, nâng cao năng lực kết nối và thúc đẩy Nghệ An phát huy vai trò trung tâm của vùng Bắc Trung Bộ.
Trao đổi với Reatimes, TS. Huỳnh Thanh Điền, Giảng viên Đại học Nguyễn Tất Thành (TP.HCM) nhận định, việc đồng loạt khởi công, khánh thành các công trình, dự án quy mô lớn dịp Quốc khánh 2/9 năm nay tiếp tục cho thấy vai trò của đầu tư hạ tầng trong thúc đẩy tăng trưởng và mở rộng dư địa phát triển của nền kinh tế. Theo ông, đây là năm thứ hai việc triển khai các công trình quy mô lớn được tổ chức đồng loạt vào những dịp có ý nghĩa đặc biệt, qua đó cho thấy đầu tư hạ tầng ngày càng được nhìn nhận như một trong những nền tảng để củng cố năng lực tăng trưởng và mở rộng dư địa phát triển.
TS. Huỳnh Thanh Điền, Giảng viên Đại học Nguyễn Tất Thành (TP.HCM).
Nhìn từ diễn biến kinh tế thời gian qua, TS. Huỳnh Thanh Điền cho rằng hiệu ứng lan tỏa của đầu tư hạ tầng đã thể hiện qua việc kích thích nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh và gia tăng nhu cầu trong nền kinh tế. Năm 2025, GDP Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tích cực, đưa quy mô nền kinh tế vượt mốc 514 tỷ USD. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục thúc đẩy các dự án hạ tầng quy mô lớn không chỉ tạo thêm dư địa cho tăng trưởng trước mắt, mà quan trọng hơn còn đặt nền móng cho năng lực phát triển trong những năm tiếp theo.
Theo ông, việc khởi công các dự án chào mừng kỷ niệm 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026) trước mắt sẽ tạo thêm sức cầu cho loạt doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực như xây dựng, sản xuất vật liệu, máy móc, vận tải, logistics và các dịch vụ hỗ trợ. Khi dòng vốn đầu tư được đưa vào nền kinh tế, nhu cầu về nguyên vật liệu, thiết bị, nhân công và dịch vụ cũng gia tăng tương ứng, qua đó tạo thêm đơn hàng, việc làm và thu nhập, thúc đẩy vòng quay sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Đáng chú ý, tác động này không chỉ dừng ở những doanh nghiệp trực tiếp tham gia các dự án. Với quy mô đầu tư lớn và được triển khai đồng thời tại nhiều địa phương, dòng vốn có thể lan tỏa theo chiều sâu thông qua mạng lưới nhà cung cấp, nhà thầu phụ và các ngành công nghiệp hỗ trợ. Một dự án hạ tầng được triển khai có thể tạo thêm đầu việc cho doanh nghiệp xây dựng, nhưng phía sau đó còn là nhu cầu về thép, xi măng, thiết bị cơ khí, vận tải, kho bãi, tài chính, công nghệ và nhiều loại hình dịch vụ khác. Khi nhiều dự án cùng được triển khai, hiệu ứng cộng hưởng sẽ tạo ra một mặt bằng nhu cầu mới, giúp doanh nghiệp có thêm cơ hội mở rộng thị trường và nâng công suất.
Ở góc độ doanh nghiệp, đây còn là cơ hội để chuyển hóa sự gia tăng về nhu cầu thành động lực đầu tư dài hạn. Khi có thêm đơn hàng và thị trường đầu ra ổn định hơn, doanh nghiệp có cơ sở mạnh hơn để đầu tư máy móc, mở rộng nhà xưởng, đổi mới công nghệ, chuẩn hóa quy trình và nâng cao năng lực quản trị. Đặc biệt, những doanh nghiệp tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng lớn sẽ có thêm động lực đáp ứng các yêu cầu cao hơn về chất lượng, tiến độ, tiêu chuẩn kỹ thuật và năng lực cung ứng. Đây là quá trình có thể giúp doanh nghiệp từng bước dịch chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng năng suất, chất lượng và khả năng đáp ứng.
Bên cạnh đó, khi hệ thống giao thông, logistics và hạ tầng đô thị được cải thiện, chi phí tiếp cận thị trường và chi phí lưu thông hàng hóa của doanh nghiệp cũng có điều kiện giảm xuống. Thời gian vận chuyển được rút ngắn, khả năng kết nối giữa các vùng sản xuất với trung tâm tiêu dùng, cảng biển, sân bay và khu công nghiệp được nâng lên sẽ mở rộng không gian thị trường cho doanh nghiệp. Một doanh nghiệp trước đây chỉ có thể phục vụ thị trường trong phạm vi nhất định có thể từng bước mở rộng mạng lưới khách hàng, tổ chức lại chuỗi cung ứng và tiếp cận những thị trường lớn hơn.
"Đầu tư hạ tầng không chỉ tạo tăng trưởng thông qua chính khoản đầu tư đó, mà còn tạo cơ hội để doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tích lũy năng lực và chuẩn bị nền tảng công nghiệp cho tương lai", TS. Huỳnh Thanh Điền phân tích.
Vì vậy, tác động đáng kể nhất của làn sóng đầu tư hạ tầng, theo ông, không chỉ nằm ở mức tăng trưởng trong một vài quý, mà ở khả năng tạo ra một chu kỳ đầu tư và mở rộng năng lực mới của khu vực doanh nghiệp. Nếu được triển khai đồng bộ với quy hoạch sản xuất, phát triển công nghiệp hỗ trợ và mở rộng thị trường, nguồn vốn đầu tư công vào hạ tầng có thể trở thành "bệ phóng" để doanh nghiệp Việt nâng công suất, tích lũy vốn, cải thiện năng suất và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị trong nước cũng như quốc tế.
Ở tầm dài hạn, TS. Huỳnh Thanh Điền cho rằng giá trị lớn hơn của những công trình được khởi công, khánh thành dịp này nằm ở khả năng mở ra những không gian phát triển mới. Khi các tuyến đường bộ, đường sắt, sân bay, cùng với hệ thống hạ tầng công nghệ được đầu tư và kết nối hợp lý, khoảng cách giữa các trung tâm kinh tế được rút ngắn, khả năng tiếp cận thị trường được cải thiện, đồng thời tạo điều kiện hình thành các trung tâm sản xuất, logistics, thương mại, dịch vụ và đô thị mới.
Theo ông, đây cũng là lý do hạ tầng cần được nhìn nhận không chỉ như những công trình vật chất đơn thuần, mà là nền tảng để tổ chức lại các hoạt động kinh tế - xã hội. Một tuyến đường mới có thể mở thêm hướng kết nối cho sản xuất và lưu thông hàng hóa; một cảng biển hay sân bay được kết nối tốt có thể nâng cao khả năng giao thương; trong khi hệ thống giao thông đô thị hiện đại có thể tạo ra những cực phát triển mới trong lòng các đô thị.
Một dự án hạ tầng được triển khai có thể tạo thêm đầu việc cho doanh nghiệp xây dựng, nhưng phía sau đó còn là nhu cầu về thép, xi măng, thiết bị cơ khí, vận tải, kho bãi, tài chính, công nghệ và nhiều loại hình dịch vụ khác. (Ảnh minh hoạ: Trọng Hiếu)
Đặc biệt, TS. Huỳnh Thanh Điền đánh giá việc đẩy mạnh phát triển hạ tầng đường sắt đô thị đang mở ra cơ hội để Việt Nam từng bước triển khai mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD). Khi các tuyến đường sắt và nhà ga được đặt trong mối liên kết với quy hoạch sử dụng đất, khu dân cư, thương mại và dịch vụ, khu vực xung quanh các đầu mối giao thông có thể trở thành những hạt nhân phát triển mới, thay vì chỉ là điểm trung chuyển hành khách.
"Nếu hạ tầng giao thông được đầu tư đồng bộ và gắn với quy hoạch đô thị, chúng ta không chỉ giải quyết bài toán đi lại, mà còn có thể định hình cách thức phát triển đô thị trong tương lai", ông nhấn mạnh.
Ở góc nhìn quốc tế, PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân chia sẻ với Reatimes rằng, ý nghĩa của làn sóng đầu tư lần này nằm ở khả năng nâng cấp cấu trúc và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Theo ông, trong một nền kinh tế đang chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác nguồn lực sang mô hình coi trọng năng suất, công nghệ và hiệu quả, hạ tầng cần được nhìn như một hạ tầng của năng lực cạnh tranh. Không chỉ giao thông, những lĩnh vực như hạ tầng đô thị, hạ tầng số, khoa học - công nghệ, năng lượng, logistics... ngày càng có vai trò quyết định trong việc doanh nghiệp có thể hoạt động với chi phí thấp hơn, tiếp cận thị trường nhanh hơn và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị hay không.
PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân.
Từ góc độ này, ông cho rằng điểm đáng chú ý của các dự án được triển khai hiện nay là khả năng tạo lập các mạng lưới liên kết thay vì chỉ hình thành những công trình đơn lẻ. Khi cao tốc kết nối với cảng biển, sân bay, đường sắt và các trung tâm logistics; khi hạ tầng đô thị được gắn với giao thông công cộng; hay khi hạ tầng số song hành cùng quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp, hiệu quả của từng khoản đầu tư sẽ được cộng hưởng và tạo ra giá trị lớn hơn.
Đây cũng là cơ sở để tổ chức lại không gian kinh tế theo hướng liên kết vùng. Theo PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng, khi khoảng cách về thời gian và chi phí giữa các địa phương được thu hẹp, lợi thế phát triển sẽ không còn tập trung tuyệt đối tại các đô thị trung tâm. Những khu vực có điều kiện về đất đai, lao động, công nghiệp, logistics hoặc dịch vụ có thể được kết nối với các cực tăng trưởng lớn, từ đó hình thành các chuỗi sản xuất và không gian kinh tế mới.
Một tác động khác cần được nhìn nhận ở tầm dài hạn là khả năng nâng cao sức hấp dẫn của Việt Nam trong thu hút đầu tư và hội nhập quốc tế. Theo PGS. TS Nguyễn Thường Lạng, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tái cấu trúc, lợi thế cạnh tranh của một quốc gia không còn chỉ được quyết định bởi chi phí lao động, quỹ đất hay quy mô thị trường, mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống hạ tầng và khả năng kết nối toàn diện với mạng lưới sản xuất, thương mại quốc tế.
Thực tế, với các tập đoàn đa quốc gia, quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư ngày càng gắn với bài toán tổng thể về chi phí và độ tin cậy của chuỗi cung ứng. Một khu công nghiệp có quỹ đất lớn nhưng kết nối giao thông hạn chế, khoảng cách xa cảng biển, sân bay hoặc thiếu dịch vụ logistics đồng bộ sẽ khó tạo ra lợi thế bền vững. Ngược lại, khi hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, khu công nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ được kết nối hiệu quả, doanh nghiệp không chỉ tiết giảm chi phí vận hành mà còn có khả năng tổ chức sản xuất linh hoạt hơn, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường và chủ động ứng phó với những biến động của thương mại toàn cầu.
"Trong cạnh tranh thu hút đầu tư hiện nay, lợi thế không còn đơn thuần là có đất, có lao động hay có thị trường. Doanh nghiệp cần một hệ sinh thái hạ tầng đủ tốt để có thể sản xuất, lưu thông và kết nối với thị trường quốc tế một cách hiệu quả", PGS.TS Nguyễn Thường Lạng phân tích.
Theo đó, đầu tư hạ tầng không chỉ có ý nghĩa "mở cửa" để đón dòng vốn quốc tế, mà còn tạo nền tảng để Việt Nam nâng chất lượng dòng vốn thu hút được. Khi điều kiện kết nối và năng lực cung ứng được cải thiện, Việt Nam sẽ có thêm cơ hội thu hút những dự án có quy mô lớn hơn, yêu cầu công nghệ cao hơn và có mức độ liên kết sâu hơn với hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước. Đây là bước chuyển quan trọng từ lợi thế cạnh tranh dựa trên chi phí sang lợi thế dựa trên năng lực vận hành, khả năng kết nối và chất lượng môi trường đầu tư.
Đặc biệt, trong quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng, hạ tầng đồng bộ có thể giúp Việt Nam không chỉ trở thành điểm đến của các cơ sở sản xuất, mà từng bước hình thành những cụm liên kết sản xuất - logistics - dịch vụ có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Khi khu công nghiệp được kết nối thuận lợi với cảng biển, sân bay, trung tâm logistics và các đô thị dịch vụ, hiệu ứng tạo ra sẽ vượt ra ngoài phạm vi một dự án, qua đó hình thành những không gian kinh tế mới và gia tăng sức cạnh tranh của cả vùng.
Ở góc độ này, hiệu quả của đầu tư hạ tầng cũng cần được nhìn rộng hơn những con số về vốn FDI đăng ký hay số lượng dự án mới. Giá trị quan trọng hơn là khả năng tạo ra một môi trường đủ hấp dẫn để nhà đầu tư không chỉ đến, mà còn mở rộng sản xuất, gia tăng giá trị đầu tư, hình thành chuỗi cung ứng và tạo thêm liên kết với doanh nghiệp Việt Nam. Khi đó, hạ tầng trở thành một trong những nền tảng quan trọng giúp Việt Nam nâng vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu và chuyển hóa lợi thế về vị trí địa kinh tế thành lợi thế cạnh tranh thực chất.
Ở tầng sâu hơn, đây là quá trình chuyển từ tư duy "mở đường để đi lại" sang "mở đường để phát triển". Hạ tầng khi đó trở thành công cụ định hình các cực tăng trưởng, phân bổ lại nguồn lực và tạo ra những không gian kinh tế mới. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, chuyên gia cho rằng việc chủ động nâng cấp nền tảng hạ tầng còn có ý nghĩa đối với sức chống chịu của nền kinh tế. Một hệ thống giao thông, logistics, năng lượng, đô thị và hạ tầng số có tính kết nối cao sẽ giúp nền kinh tế linh hoạt hơn trước các cú sốc từ bên ngoài.
Do đó, theo PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, giá trị của làn sóng khởi công, khánh thành dịp 2/9 cần được đánh giá vượt ra ngoài những con số về vốn đầu tư hay tốc độ giải ngân. Nếu các công trình tạo được mạng lưới liên kết, nâng năng suất, giảm chi phí và mở ra những không gian phát triển mới, thì tác động của chúng sẽ kéo dài nhiều năm sau thời điểm dự án hoàn thành. Đây mới là nền tảng để biến đầu tư hạ tầng thành động lực nâng cấp chất lượng tăng trưởng và củng cố vị thế cạnh tranh của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập sâu rộng.
Có thể thấy, việc đồng loạt khởi công, khánh thành hàng loạt công trình, dự án quy mô lớn đang cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước trong việc kiến tạo một nền tảng hạ tầng mới, đồng bộ và hiện đại hơn cho nền kinh tế. Đây không chỉ là sự gia tăng về quy mô đầu tư, mà còn mở ra dư địa mới để nâng cao năng lực kết nối, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, mở rộng không gian phát triển và tạo thêm động lực cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Giá trị của những công trình này vì thế sẽ tiếp tục được thể hiện rõ nét hơn trong giai đoạn đưa vào vận hành, khi hạ tầng được khai thác hiệu quả và từng bước chuyển hóa thành những giá trị kinh tế - xã hội cụ thể.
Tuy nhiên, theo giới chuyên môn, giá trị thực sự của những công trình này sẽ được kiểm chứng trong giai đoạn sau khi công trình hoàn thành, tức công trình được vận hành ra sao, khai thác như thế nào và có khả năng tạo ra những giá trị kinh tế - xã hội mới đến đâu? Đây cũng là bài toán lớn đặt ra đối với làn sóng đầu tư hạ tầng đang được đẩy mạnh. Bởi một công trình chỉ thực sự trở thành "điểm tựa" cho tăng trưởng khi được khai thác đúng công năng, kết nối với các hoạt động kinh tế và tạo ra hiệu ứng lan tỏa đủ lớn. Ngược lại, nếu thiếu tính toán về nhu cầu, quy hoạch và phương án vận hành, nguồn lực đầu tư lớn có thể không được chuyển hóa thành giá trị tương xứng, thậm chí phát sinh lãng phí trong dài hạn.
Giá trị thực sự của những khoản đầu tư này sẽ được kiểm chứng trong giai đoạn sau khi công trình hoàn thành, tức công trình được vận hành ra sao, khai thác như thế nào và có khả năng tạo ra những giá trị kinh tế - xã hội mới đến đâu. (Ảnh minh hoạ: 1.6 Media)
TS. Huỳnh Thanh Điền cho rằng, với một làn sóng đầu tư diễn ra đồng thời trên nhiều địa phương, yêu cầu đặt ra không chỉ là làm nhanh, bảo đảm tiến độ, mà quan trọng hơn là phải xác định ngay từ đầu công trình sẽ phục vụ nhu cầu nào, kết nối với không gian phát triển nào và tạo ra những hoạt động kinh tế gì sau khi hoàn thành.
Theo chuyên gia, hạ tầng muốn phát huy giá trị trước hết phải xuất phát từ nhu cầu thực tế và được đặt trong một tổng thể phát triển đồng bộ. Một công trình chỉ có thể phát huy hiệu quả khi phía sau nó đã có, hoặc có khả năng hình thành, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dân cư, dịch vụ và nhu cầu sử dụng tương ứng.
"Không thể làm hạ tầng chỉ vì có thể làm, mà phải trả lời được câu hỏi làm để phục vụ ai, phục vụ nhu cầu nào và sau khi hoàn thành thì hoạt động kinh tế nào sẽ được hình thành xung quanh", ông nhấn mạnh.
Từ yêu cầu đó, vị chuyên gia cho rằng tư duy đầu tư hạ tầng cần chuyển từ cách tiếp cận từng công trình riêng lẻ sang tư duy phát triển theo hệ sinh thái. Chẳng hạn, với một khu công nghiệp, hiệu quả không chỉ nằm ở việc có thêm bao nhiêu hecta mặt bằng, mà phải được tính toán cùng nhu cầu của doanh nghiệp, khả năng thu hút đầu tư, nguồn lao động, giao thông kết nối, logistics, nhà ở cho người lao động và hệ thống dịch vụ hỗ trợ. Khi các yếu tố này được chuẩn bị đồng thời, hạ tầng KCN mới có thể nhanh chóng chuyển hóa thành năng lực sản xuất và hoạt động kinh tế thực tế.
Tương tự, với một tuyến đường mới, giá trị không chỉ nằm ở số kilomet được xây dựng hay số phút được rút ngắn trong hành trình. Quan trọng hơn, tuyến đường đó phải kết nối được với đâu, mở ra không gian phát triển nào, hỗ trợ chuỗi cung ứng ra sao và tạo điều kiện cho những hoạt động kinh tế mới nào hình thành. Nếu được kết nối với khu công nghiệp, trung tâm logistics, khu dân cư, thương mại và dịch vụ, một tuyến giao thông có thể tạo ra hiệu ứng kinh tế lớn hơn nhiều so với việc chỉ được nhìn nhận như một công trình giao thông đơn thuần.
"Hạ tầng muốn phát huy hiệu quả thì phải có hệ sinh thái đi cùng. Làm đường phải tính đến nơi nào kết nối, khu vực đó phát triển ngành gì, doanh nghiệp nào có thể tham gia và người dân sẽ sử dụng như thế nào. Khi các yếu tố đó được chuẩn bị đồng bộ thì công trình mới thực sự tạo ra giá trị", TS. Huỳnh Thanh Điền cho biết.
Cách tiếp cận này cũng giúp hạn chế nguy cơ "hạ tầng đi trước, hiệu quả khai thác đi sau". Thay vì chờ công trình hoàn thành rồi mới tìm kiếm các hoạt động kinh tế phù hợp, quy hoạch phát triển, hạ tầng và nhu cầu thị trường cần được tính toán ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án. Khi đó, mỗi công trình không đứng độc lập mà trở thành một mắt xích trong mạng lưới lớn hơn, cùng thúc đẩy sự dịch chuyển của nguồn lực, dân cư, hàng hóa và dòng vốn.
Ở góc độ này, TS. Huỳnh Thanh Điền cho rằng đầu tư hạ tầng cần được nhìn nhận như một quá trình "kích hoạt" phát triển. Một tuyến đường có thể mở ra khả năng tiếp cận những vùng đất trước đây chưa thuận lợi cho đầu tư; một tuyến đường sắt có thể tạo tiền đề hình thành các cực đô thị theo mô hình TOD; trong khi một hệ thống giao thông kết nối tốt có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của khu công nghiệp, trung tâm logistics và toàn bộ chuỗi cung ứng. Khi đó, giá trị của công trình không còn giới hạn trong phạm vi dự án mà được lan tỏa sang các khu vực và lĩnh vực kinh tế xung quanh.
Đặc biệt, với hạ tầng đường sắt đô thị, yêu cầu về tính đồng bộ càng trở nên rõ nét. Theo chuyên gia, nhà ga không nên chỉ được xem là điểm đầu - cuối của một hành trình, mà cần được tính toán như một hạt nhân tổ chức lại không gian đô thị. Khi gắn với quy hoạch sử dụng đất, khu dân cư, thương mại, dịch vụ và tiện ích công cộng, các đầu mối giao thông có thể hình thành những cực phát triển mới, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất và khả năng tiếp cận giao thông công cộng.
Như vậy, bài toán của làn sóng đầu tư hạ tầng hiện nay không chỉ là "xây được bao nhiêu", mà quan trọng hơn là "xây xong sẽ tạo ra được gì". Để trả lời câu hỏi đó, quy hoạch, hạ tầng, nhu cầu thị trường, hoạt động sản xuất - kinh doanh và đời sống người dân cần được đặt trong cùng một bài toán ngay từ đầu. Khi những yếu tố này được chuẩn bị đồng bộ, mỗi công trình sẽ không chỉ là một tài sản hoàn thành mà có thể trở thành điểm khởi đầu cho một chuỗi giá trị mới, mở rộng không gian phát triển và tạo thêm động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.
"Nếu các dự án được lựa chọn đúng nhu cầu, triển khai đồng bộ và có kế hoạch khai thác rõ ràng, hiệu quả của làn sóng đầu tư lần này sẽ không chỉ nằm ở tác động tăng trưởng trước mắt, mà còn có thể mở ra những dư địa phát triển mới, mở rộng không gian kinh tế và tạo nền tảng cho những động lực tăng trưởng dài hạn", TS. Huỳnh Thanh Điền nhận định.
Tuy nhiên, để những giá trị đó thực sự được hiện thực hóa, bài toán cuối cùng vẫn nằm ở năng lực tổ chức và vận hành sau đầu tư. Theo đó, cần có cơ chế vận hành minh bạch, trách nhiệm giải trình rõ ràng và phương thức quản trị chuyên nghiệp. Các dự án hạ tầng quy mô lớn thường liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương và nhiều chủ thể, vì vậy hiệu quả của công trình phụ thuộc không nhỏ vào khả năng phối hợp và kết nối giữa các bên.
Bên cạnh đó, theo chuyên gia, trong một số trường hợp cần mạnh dạn thử nghiệm những cách làm mới, tháo gỡ những rào cản không còn phù hợp để nâng cao hiệu quả đầu tư. Việc trao thêm không gian cho những sáng kiến mới có thể tạo ra đột phá, nhưng cần đi kèm cơ chế kiểm soát rủi ro, trách nhiệm rõ ràng và khuôn khổ pháp luật phù hợp. Khi đó, tinh thần dám nghĩ, dám làm có thể được khuyến khích mà vẫn bảo đảm kỷ luật, minh bạch và hiệu quả trong sử dụng nguồn lực công.
Sau cùng, thước đo của một chu kỳ đầu tư hạ tầng không nên dừng ở số vốn đã giải ngân hay số công trình đã hoàn thành, mà phải được phản ánh qua những giá trị kinh tế - xã hội được tạo ra sau đó, đó là thêm bao nhiêu việc làm, thu hút được bao nhiêu dòng vốn, hình thành những không gian phát triển mới và nâng cao năng suất của nền kinh tế ra sao. Khi những công trình hôm nay thực sự trở thành nền tảng cho các hoạt động kinh tế của ngày mai, làn sóng đầu tư hạ tầng mới có thể chuyển hóa thành một động lực tăng trưởng dài hạn./.



