Du lịch Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Từ chính sách đột phá đến sức bật tăng trưởng
Những yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới đòi hỏi ngành du lịch cần có những bước phát triển tương xứng hơn với tiềm năng và khẳng định vị thế của ngành kinh tế mũi nhọn. Bài toán đặt ra vì thế không còn chỉ là tăng lượng khách mà phải tạo ra nhiều giá trị hơn từ những tiềm năng, lợi thế sẵn có. Tháo gỡ điểm nghẽn, nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến, hình thành những cực tăng trưởng có khả năng dẫn dắt, lan tỏa và phát triển lực lượng doanh nghiệp nòng cốt, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế… là những yêu cầu cấp thiết để ngành du lịch tạo sức bật mới, đóng góp lớn hơn cho nền kinh tế.
Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam (Reatimes) đã có cuộc trao đổi với PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng, Tổng Thư ký Liên chi hội Đào tạo Du lịch Việt Nam, Phó Hiệu trưởng, Trưởng khoa Du lịch, Trường Đại học Công nghệ Đông Á liên quan đến những định hướng lớn của Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới và những động lực, bước chuyển chiến lược cũng như kỳ vọng đặt ra từ Nghị quyết đối với ngành du lịch.
- Thưa PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng, nhìn lại gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW năm 2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, theo ông, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất khiến du lịch Việt Nam chưa phát triển tương xứng với tiềm năng? Nghị quyết số 26-NQ/TW đã tiếp cận những điểm nghẽn đó như thế nào?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: Trước khi nói đến những điểm nghẽn của du lịch Việt Nam sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 08, trước hết chúng ta cần ghi nhận những thành tựu rất đáng kể mà ngành du lịch đã đạt được trong thời gian qua. Trong bất kỳ quá trình phát triển nào, những hạn chế hay điểm nghẽn là điều khó tránh khỏi, nhưng sự phát triển vượt bậc của du lịch Việt Nam trong gần 10 năm qua là điều rất đáng ghi nhận. Đó là kết quả của sự nỗ lực không chỉ của riêng ngành du lịch mà của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Nếu nhìn vào vị thế trong khu vực, trước đây Việt Nam còn đứng sau một số điểm đến lớn như Indonesia, Singapore, Malaysia, Thái Lan... về lượng khách quốc tế, nhưng hiện nay, khoảng cách đã được thu hẹp, thậm chí vượt qua nhiều nước, vị thế của du lịch Việt Nam cũng được cải thiện rõ rệt. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam dẫn số liệu Ban Thư ký ASEAN cho biết, năm 2025 Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng khách quốc tế cao nhất ASEAN. Theo dữ liệu Google Destination Insights được Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam công bố tháng 5/2025, lượng tìm kiếm quốc tế về du lịch Việt Nam tăng 10 - 25%, đưa Việt Nam xếp thứ 7 thế giới về mức tăng trưởng tìm kiếm điểm đến và là điểm đến duy nhất của Đông Nam Á nằm trong top 10 ở thời điểm thống kê.
Khách quốc tế đến Việt Nam qua các năm (triệu lượt). (Nguồn: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam)
Riêng năm 2025, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn và sự phục hồi của du lịch giữa các thị trường chưa đồng đều, du lịch Việt Nam vẫn ghi nhận những kết quả nổi bật. Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 21,2 triệu lượt, tăng 20,4% so với năm 2024, cao nhất từ trước đến nay và vượt mức 18 triệu lượt của năm 2019, thời điểm trước đại dịch Covid-19. Đáng chú ý, lượng khách du lịch nội địa đạt khoảng 137 triệu lượt và tổng thu từ khách du lịch lần đầu vượt mốc 1 triệu tỷ đồng. Năm 2025, khu vực dịch vụ, du lịch tăng 8,62%, đóng góp 51,08% vào tăng trưởng chung của nền kinh tế và chiếm tỷ trọng 42,75% trong cơ cấu kinh tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình phát triển cũng bộc lộ không ít hạn chế. Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất trong thời gian qua là Việt Nam có rất nhiều tiềm năng, tài nguyên và dư địa để phát triển du lịch, nhưng chúng ta chưa chuyển hóa đầy đủ những lợi thế đó thành một chuỗi giá trị hoàn chỉnh, một hệ sinh thái hoàn chỉnh. Quan trọng hơn, chúng ta cũng chưa chuyển hóa được những nguồn lực ấy thành giá trị kinh tế tương xứng với tiềm năng mà du lịch Việt Nam đang sở hữu. Giá trị kinh tế mà ngành du lịch tạo ra, theo tôi, đáng ra có thể còn lớn hơn rất nhiều so với những gì chúng ta đã đạt được.
Chính vì vậy, tôi rất vui mừng khi Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị được ban hành và đã đề cập tới nhiều vấn đề cốt lõi, có tính nội hàm rất sâu. Đây cũng là những vấn đề mà nhiều chuyên gia trong lĩnh vực du lịch, trong đó có chúng tôi, đã trăn trở từ lâu.
Nghị quyết đã tiếp cận nhiều điểm nghẽn của ngành, trong đó có một nội dung mà tôi cho rằng đặc biệt quan trọng: Đổi mới tư duy phát triển du lịch từ diện rộng, dựa vào số lượng, khai thác tài nguyên đơn thuần sang chú trọng mô hình phát triển theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và giá trị gia tăng cao gắn với các sản phẩm giàu sáng tạo, trải nghiệm đặc sắc.
Khi đó, nguồn lực tạo ra sẽ lớn hơn rất nhiều so với cách phát triển riêng lẻ như hiện nay. Có thể hình dung rất đơn giản: Vẫn số lượng doanh nghiệp đó, vẫn nguồn nhân lực đó, vẫn những địa phương đó, nhưng nếu chúng ta biết cách kết nối các chủ thể, sản phẩm và nguồn lực thành một chuỗi giá trị, một hệ sinh thái hoàn chỉnh thì giá trị gia tăng và những lợi ích kinh tế mang lại sẽ cao hơn rất nhiều.
Ở đây, vấn đề phát triển du lịch cũng cần được đặt trong bối cảnh liên kết vùng để các địa phương cùng hợp lực xây dựng một hệ sinh thái du lịch đa dạng và bền vững. Đây cũng là một trong những định hướng được Nghị quyết số 26 nhấn mạnh khi yêu cầu tăng cường liên kết ngành, liên kết vùng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; đồng thời xác định đến năm 2030 hình thành 3 cực tăng trưởng du lịch tại Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng, cùng 10 trung tâm du lịch trọng điểm và 20 khu du lịch quốc gia. Cách tổ chức này cho thấy phát triển du lịch không thể chỉ dựa trên từng điểm đến riêng lẻ, mà cần đặt mỗi địa phương trong một không gian liên kết rộng hơn, nơi các trung tâm lớn vừa có khả năng thu hút khách, vừa tạo dòng khách và sức lan tỏa tới những khu vực xung quanh.
Theo tôi, đây chính là một trong những thay đổi rất quan trọng trong cách Nghị quyết số 26 tiếp cận và hướng tới xử lý những điểm nghẽn của du lịch Việt Nam.
- Nghị quyết số 26 đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP, đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế và đạt tổng thu 80 - 90 tỷ USD; đến năm 2045 đón 70 triệu lượt khách quốc tế. Ông đánh giá như thế nào về những mục tiêu này? Đâu là những điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế là một con số rất lớn.
Nếu nhìn ngay trong khu vực Đông Nam Á, Thái Lan là một trong những quốc gia dẫn đầu về lượng khách quốc tế. Ở thời điểm đỉnh cao trước Covid-19, năm 2019, Thái Lan cũng mới chỉ đón xấp xỉ 40 triệu lượt khách quốc tế.
Sau đại dịch Covid-19, thị trường du lịch khu vực có nhiều biến động. Trong khi một số quốc gia phải mất thời gian để phục hồi, du lịch Việt Nam đã phục hồi khá nhanh, không chỉ bằng mức trước Covid-19 mà thậm chí đã vượt và hiện vẫn tiếp tục tăng trưởng. Chính vì thế, ở thời điểm hiện tại du lịch Việt Nam không còn được nhìn dưới góc độ "phục hồi" nữa mà đang bước vào một giai đoạn tăng trưởng và phát triển mới.
Trở lại với các mục tiêu mà Nghị quyết số 26 đặt ra, tôi cho rằng cần nhìn nhận một cách thẳng thắn về con đường phía trước. Nếu năm 2026 đạt được mục tiêu 25 triệu lượt khách, thì trong 4 năm tiếp theo, để đạt mức thấp nhất là 45 triệu lượt, chúng ta cần tăng thêm khoảng 20 triệu lượt; để đạt 50 triệu lượt thì cần tăng thêm khoảng 25 triệu lượt. Nếu chỉ tính bình quân về số tuyệt đối, quy mô khách quốc tế phải được bổ sung khoảng 5 - 6 triệu lượt khách mỗi năm, mức tăng bình quân cần đạt khoảng 15,8%/năm để chạm mốc 45 triệu lượt khách và khoảng 18,9%/năm để đạt 50 triệu lượt khách. Đây rõ ràng là một yêu cầu tăng trưởng rất lớn.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy Việt Nam không phải chưa từng đạt những mức tăng trưởng cao như vậy. Năm 2016, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng khoảng 26%; năm 2017 tiếp tục tăng 29,1%. Nhưng để liên tục duy trì một tốc độ tăng trưởng cao như vậy trong nhiều năm liền thì theo tôi là một bài toán không dễ.
Tuy vậy, tôi lại rất thích cách Nghị quyết số 26 đặt ra một mục tiêu cao như thế. 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2030 là một đích đến đủ lớn để toàn bộ hệ thống chính trị cùng vào cuộc, từ các cấp, các ngành, địa phương cho đến cộng đồng doanh nghiệp và tất cả những thành phần tham gia vào quá trình phát triển du lịch.
Nếu đạt được mục tiêu đó thì đây sẽ là một thành tựu rất đáng ghi nhận. Và kể cả trong trường hợp chúng ta chưa đạt được hoàn toàn, quá trình nỗ lực để hướng tới mục tiêu ấy cũng sẽ tạo ra một động lực rất lớn cho ngành du lịch.
Bên cạnh đó, còn một mục tiêu nữa mà tôi cho rằng có tính khả thi cao hơn, đó là mục tiêu về đóng góp của du lịch vào GDP và tổng thu từ khách du lịch. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP và tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 80 - 90 tỷ USD. Bởi trước đây, chúng ta tập trung khá nhiều vào số lượng khách quốc tế. Trong giai đoạn tới, chúng ta vẫn tăng về số lượng, song tập trung đẩy mạnh đầu tư cho chất lượng.
Có thể hình dung rất đơn giản, nếu một khách quốc tế đến Việt Nam có mức chi tiêu bình quân khoảng 150 - 200 USD mỗi ngày thì giá trị tạo ra sẽ khác rất nhiều so với một khách chỉ chi tiêu khoảng 70 USD mỗi ngày. Điều đó cho thấy chúng ta không thể chỉ quan tâm đến việc đón được bao nhiêu khách, mà phải chú ý đến chất lượng và giá trị kinh tế của từng lượt khách.
Theo tôi, khi đầu tư cho chất lượng du lịch, có 3 chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng cần đặc biệt quan tâm.
Thứ nhất là thời gian lưu trú bình quân của một khách trong một chuyến đi. Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng, bởi nó phản ánh sức hấp dẫn của điểm đến, mức độ đa dạng của sản phẩm và khả năng giữ chân du khách. Một điểm đến có thực sự hấp dẫn hay không thể hiện ở việc du khách có muốn ở lại lâu hơn hay không.
Thứ hai là mức chi tiêu bình quân của một khách trong một ngày.
Và thứ ba là mức chi tiêu của khách trong toàn bộ chuyến đi.
Nếu thời gian lưu trú bình quân tăng lên, đồng thời mức chi tiêu bình quân của một khách trên một ngày và trên toàn bộ chuyến đi cũng tăng thì chắc chắn tổng thu du lịch sẽ tăng lên rất rõ rệt. Chính vì vậy, tôi cho rằng mục tiêu tổng thu 80 - 90 tỷ USD vào năm 2030 có tính khả thi cao hơn so với mục tiêu 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế.
Có thể hình dung bằng một ví dụ rất đơn giản. Cùng là một đoàn 10 khách quốc tế đến Việt Nam, nhưng nếu một đoàn chỉ lưu trú khoảng 3 ngày, trong khi đoàn còn lại lưu trú từ 15 - 20 ngày, thì về mặt thống kê chúng ta vẫn chỉ ghi nhận 10 lượt khách ở mỗi trường hợp. Tuy nhiên, nếu mức chi tiêu bình quân mỗi ngày được duy trì ở mức tương đương hoặc cao hơn, đoàn khách có thời gian lưu trú dài hơn sẽ tạo ra tổng mức chi tiêu lớn hơn đáng kể. Điều đó cho thấy hiệu quả kinh tế của du lịch không chỉ nằm ở số lượng khách đón được, mà còn phụ thuộc rất lớn vào thời gian lưu trú và khả năng chi tiêu của mỗi du khách.
Vì vậy, bên cạnh việc tiếp tục thu hút và gia tăng lượng khách, chúng ta cần tập trung nhiều hơn vào những thị trường có thời gian lưu trú dài và mức chi tiêu cao, đặc biệt là các thị trường đường dài như Mỹ và châu Âu. Nếu thu hút được nhiều hơn những nhóm khách như vậy thì giá trị gia tăng mà du lịch tạo ra cho nền kinh tế sẽ lớn hơn rất nhiều.
Đây cũng là vấn đề ngành du lịch cần đặc biệt lưu ý. Trong 8 tháng năm 2026, tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng 14,4%; riêng thị trường châu Âu tăng tới 53,4%. Tuy nhiên, mức tăng này có sự phân hóa khá rõ. Một số thị trường như Nga và Ba Lan tăng rất mạnh, trong khi các thị trường truyền thống như Pháp, Anh hay Đức có tốc độ tăng thấp hơn đáng kể.
Điều đó cho thấy bên cạnh việc mở rộng những thị trường mới và tận dụng các động lực tăng trưởng mới, Việt Nam vẫn cần tiếp tục củng cố những thị trường truyền thống như Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Anh, Đức... có thời gian lưu trú dài, mức chi tiêu cao và khả năng tạo giá trị lớn cho ngành du lịch.


Khách quốc tế tham gia lao động sản xuất cùng người dân địa phương trên đường trekking đến Hoàng Su Phì và trải nghiệm chèo kayak trên Vịnh Hạ Long. (Ảnh: hiephoang)
Chính vì vậy, trong thời gian tới, Việt Nam cần có một chiến lược thị trường rõ ràng hơn. Chúng ta không chỉ cần tăng về số lượng khách mà còn phải quan tâm tới cơ cấu thị trường, bởi mỗi thị trường có đặc điểm rất khác nhau về thời gian lưu trú, khả năng chi tiêu và giá trị kinh tế mang lại.
Tôi cho rằng mục tiêu 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2030 là một mục tiêu rất thách thức, song chúng ta vẫn có thể đạt được nếu toàn ngành, các cấp, các ngành và cả đất nước thực sự tập trung nguồn lực và dốc sức thực hiện bằng những giải pháp đủ mạnh. Còn với mục tiêu du lịch đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP và đạt tổng thu 80 - 90 tỷ USD, tôi cho rằng tính khả thi sẽ cao hơn, với điều kiện chúng ta thực sự chuyển từ việc chủ yếu chú trọng số lượng sang đồng thời nâng cao chất lượng, kéo dài thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu của khách và lựa chọn đúng những thị trường có khả năng tạo ra giá trị cao.
- Theo ông, sự thay đổi về thước đo từ số lượng sang chất lượng đòi hỏi ngành du lịch phải thay đổi những gì trong cách phát triển sản phẩm, lựa chọn thị trường và tổ chức điểm đến?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: Khi nói đến nâng cao chất lượng thì một vấn đề rất quan trọng là phải hiểu đúng nhu cầu của từng thị trường.
Chẳng hạn, với những thị trường truyền thống ở châu Âu như Pháp, Italy, Anh, Đức, không phải cứ muốn thu hút khách có khả năng chi tiêu cao thì chúng ta phải làm mọi thứ thật xa hoa. Những du khách này vốn đã quen với các dịch vụ có tiêu chuẩn cao ở nơi họ sinh sống. Điều họ cần khi đến Việt Nam nhiều khi lại là những giá trị trải nghiệm khác biệt, những điều đặc sắc mà Việt Nam có và nơi khác không có.
Vì vậy, câu chuyện phát triển sản phẩm phải gắn rất chặt với câu chuyện lựa chọn và nghiên cứu thị trường.
Trong thời gian tới, Việt Nam vẫn cần tiếp tục mở rộng các thị trường mới và giàu tiềm năng như Úc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Trung Á, Trung Đông và xa hơn có thể là Nam Mỹ, châu Phi. Nhưng đồng thời, chúng ta không thể quên việc duy trì và thúc đẩy trở lại những thị trường truyền thống, đặc biệt là châu Âu và Nhật Bản.
Đây đều là những thị trường rất quan trọng bởi nhiều nhóm khách có khả năng chi tiêu cao, thời gian lưu trú dài và vì vậy tác động trực tiếp tới mục tiêu tăng tổng thu từ du lịch. Nếu mục tiêu của chúng ta vừa là tiếp tục tăng số lượng khách, vừa tăng chất lượng, tăng mức chi tiêu, kéo dài thời gian lưu trú và nâng tỷ lệ khách quay trở lại thì cơ cấu thị trường là vấn đề phải được đặc biệt quan tâm.
Theo tôi, cách xúc tiến thị trường cũng phải thay đổi. Không nên bắt đầu từ câu hỏi: Điểm đến của chúng ta đang có gì và muốn đưa cái gì ra quảng bá, mà trước hết phải đặt câu hỏi: Thị trường mà chúng ta muốn tiếp cận đang cần gì ở Việt Nam? Từ đó mới lựa chọn đúng sản phẩm và có cách thức xúc tiến đúng vào nhu cầu của họ.
Có thể lấy thị trường Pháp làm ví dụ. Đây là một trong những thị trường truyền thống đã đóng góp lượng khách đáng kể cho du lịch Việt Nam từ những năm đầu chúng ta mở cửa mạnh mẽ đón khách quốc tế. Sau một giai đoạn dài phát triển, việc tốc độ của một thị trường có lúc thay đổi cũng là điều có thể xảy ra. Quan trọng là chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân và trả lời được câu hỏi: Với một thị trường có khả năng chi tiêu cao, có thể lưu trú dài ngày như vậy, Việt Nam cần làm gì để tiếp tục hấp dẫn họ?
- Thưa ông, Nghị quyết số 26 cũng đặt sự phát triển du lịch trong một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, tạo động lực phát triển thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải, công nghiệp văn hoá, công nghiệp sáng tạo, nông nghiệp, kinh tế số, kinh tế đêm và các ngành, lĩnh vực khác. Theo ông, cách tiếp cận này sẽ làm thay đổi tư duy phát triển điểm đến như thế nào?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: Tôi cho rằng đây là một cách tiếp cận mang tính tổng thể và hoàn chỉnh.
Hạ tầng, dịch vụ cũng như các lĩnh vực như thể thao, công nghiệp văn hóa hay các hoạt động kinh tế khác đều có mối quan hệ chặt chẽ với du lịch. Nghị quyết số 26 cũng đã nhấn mạnh rằng: "Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao". Điều đó cho thấy du lịch không thể phát triển như một lĩnh vực độc lập, mà chỉ có thể tạo ra giá trị lớn hơn khi được đặt trong sự kết nối và cộng hưởng với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác.
Trước đây, chúng ta đã có nhiều nỗ lực thúc đẩy liên kết và hình thành các chuỗi giá trị du lịch, nhưng thực tế ở không ít nơi sự phát triển vẫn còn manh mún, thiếu tính kết nối, chưa hình thành mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược cùng phát triển, cùng đi lên, chưa thực sự tạo được chuỗi dịch vụ du lịch quốc gia và quốc tế. Điều đó cho thấy bài toán hiện nay không còn chỉ là có liên kết hay không, mà quan trọng hơn là liên kết phải đi vào thực chất, có phân vai, có điều phối và cùng tạo ra giá trị chung.
Chẳng hạn, trước đây lĩnh vực văn hóa tập trung rất nhiều vào nhiệm vụ bảo tồn các giá trị văn hóa. Điều đó hoàn toàn đúng và rất cần thiết, nhưng bảo tồn phải đi cùng với phát huy giá trị. Khi văn hóa, thể thao và du lịch được kết nối chặt chẽ hơn, chúng ta có thể hình thành những chuỗi giá trị mới, trong đó công nghiệp văn hóa, công nghiệp thể thao và du lịch hỗ trợ lẫn nhau.




Chương trình "Dạ yến hoàng cung" đưa những món ăn cung đình được chế biến và bày biện tinh tế, đầy tính nghệ thuật được phục vụ theo nghi thức truyền thống kết hợp cùng các chương trình biểu diễn các tiết mục nghệ thuật mang âm sắc cung đình Huế. (Ảnh: hue.gov.vn)
Một công trình thể thao quy mô lớn, nếu được khai thác tốt, sẽ không chỉ phục vụ thể thao mà còn có thể trở thành không gian tổ chức các giải đấu lớn, chương trình biểu diễn hay concert quốc tế. Khi đó, lượng khán giả đến tham dự sự kiện đồng thời có thể sử dụng dịch vụ lưu trú, ăn uống, mua sắm, tham quan và trải nghiệm tại điểm đến. Giá trị tạo ra vì thế không còn nằm trong phạm vi của riêng một sự kiện hay một ngành.
Tư duy hệ sinh thái cũng phải được mở rộng ra ngoài ranh giới của từng địa phương. Một điểm đến không nhất thiết phải tự mình có tất cả mọi sản phẩm. Địa phương này có thể mạnh về di sản, địa phương khác có lợi thế biển đảo, nghỉ dưỡng, sinh thái, sự kiện hay là cửa ngõ giao thông; điều quan trọng là phải kết nối những lợi thế đó thành một hành trình thống nhất.


Di sản Văn hóa Thế giới phố cổ Hội An, điểm đến nổi tiếng của Đà Nẵng. (Ảnh: VANNGO Ng)
Thực tế, trước sáp nhập, mô hình liên kết Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam với thông điệp "một hành trình - ba điểm đến" từng được Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam đánh giá là một mô hình liên kết hiệu quả. Ba địa phương đã phối hợp trong quảng bá, xúc tiến, xây dựng sản phẩm chung, tổ chức famtrip, presstrip và triển khai các hoạt động xúc tiến đối với thị trường MICE. Đây là một ví dụ cho thấy liên kết vùng không nên chỉ dừng ở việc kết nối các điểm tham quan thành một tour, mà cần tiến tới phối hợp sâu hơn về sản phẩm, thị trường, xúc tiến và sự tham gia của doanh nghiệp.
Nghị quyết số 26 đã cho thấy sự chuyển đổi lớn trong cách phát triển điểm đến, thay vì khai thác các nguồn tài nguyên, các sản phẩm một cách nhỏ lẻ và đơn lẻ, chúng ta phải biết xâu chuỗi chúng lại thành một hệ sinh thái, một chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Khi làm được như vậy, giá trị gia tăng về kinh tế sẽ lớn hơn rất nhiều.
- Nghị quyết số 26 định hướng thu hút các nhà đầu tư chiến lược phát triển những khu phức hợp du lịch - văn hóa - thể thao - giải trí - mua sắm, đồng thời hình thành các trung tâm du lịch đa dịch vụ có sức hấp dẫn cao, hoạt động cả ngày và đêm. Theo ông, khi nhiều chức năng và trải nghiệm được tích hợp trong cùng một không gian, mô hình này có thể tạo ra những giá trị, lợi thế gì cho điểm đến, đặc biệt trong việc kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng chi tiêu của du khách?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: Có những điểm đến mà điều du khách cần chính là vẻ đẹp của sự hoang sơ, và chúng ta phải giữ được sự hoang sơ ấy. Nhưng với phần lớn điểm đến, du khách vẫn cần một hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh.
Một hệ sinh thái như vậy phải bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch văn hóa, hạ tầng kết nối và các dịch vụ đi kèm như lưu trú, ăn uống, vận chuyển, mua sắm, vui chơi giải trí và trải nghiệm.
Nếu tất cả những "điểm chạm" ấy cùng hiện diện trong một điểm đến và được tổ chức thành một hệ thống có tính thống nhất thì hiệu quả tạo ra sẽ rất khác. Trong một số trường hợp, nếu một tập đoàn có đủ năng lực đầu tư đồng bộ nhiều cấu phần trong hệ sinh thái thì cũng có những lợi thế nhất định về tính thống nhất trong quy hoạch, chất lượng dịch vụ và bản sắc của điểm đến.
Nếu mỗi doanh nghiệp chỉ đầu tư một hạng mục riêng rẽ mà không có quy hoạch và cơ chế kết nối chung thì rất khó tạo ra một hệ sinh thái hoàn chỉnh, thậm chí khó hình thành một bản sắc thống nhất cho điểm đến. Ngược lại, nếu địa phương có quy hoạch rõ ràng, sau đó thu hút được những doanh nghiệp có đủ năng lực đầu tư và kết nối các cấu phần thành một hệ sinh thái thì dư địa tạo ra giá trị sẽ lớn hơn rất nhiều.
Ở đây có sự khác biệt giữa đầu tư đơn thuần và kiến tạo giá trị. Nếu chỉ làm một hạng mục riêng lẻ thì chúng ta mới giải quyết một nhu cầu. Nhưng khi đầu tư theo một hệ sinh thái, nhà phát triển phải nhìn thấy được toàn bộ hành trình của du khách: Từ khi họ đặt chân tới điểm đến, họ ở đâu, đi đâu, ăn gì, vui chơi như thế nào, trải nghiệm và mua sắm ra sao. Nếu "đọc" được đầy đủ những nhu cầu ấy và tổ chức được các điểm chạm xuyên suốt hành trình thì giá trị tạo ra sẽ có sự khác biệt. Càng kết nối được nhiều nhu cầu trong một hành trình liền mạch, liên tục, điểm đến đó càng có thêm cơ hội giữ chân du khách kâu hơn và gia tăng giá trị chi tiêu.
Đặc biệt, với các mô hình được phát triển ở quy mô lớn với những tổ hợp đô thị tích hợp, nơi du lịch, giải trí, biểu diễn, mua sắm, lưu trú, văn phòng và các dịch vụ đời sống cùng hiện diện trong một không gian thì giá trị tạo ra không chỉ giới hạn ở khách du lịch. Theo tôi, đây hoàn toàn có thể trở thành "động lực kép" cho điểm đến: Một mặt có thể kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng chi tiêu của du khách; mặt khác tạo ra môi trường sống, làm việc và trải nghiệm đủ sức hấp dẫn để thu hút chuyên gia, nguồn nhân lực chất lượng cao, doanh nhân, du khách quốc tế ở lại dài hạn hơn. Từ đây, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đêm và nhiều ngành kinh tế khác của các địa phương.
Thực tế, cách tiếp cận này đã phần nào được thể hiện tại một số điểm đến lớn trên cả nước. Ở Nam Phú Quốc, Sunset Town được tổ chức như một hệ sinh thái gồm lưu trú, Cầu Hôn, show diễn Kiss of the Sea, chợ đêm VUI-Fest Bazaar, ẩm thực, mua sắm và các hoạt động giải trí về đêm. Hay tại Sa Pa, Sun World Fansipan Legend không chỉ khai thác trải nghiệm chinh phục Fansipan mà còn kết nối cáp treo, tàu hỏa leo núi, không gian văn hóa Tây Bắc, lễ hội và quần thể văn hóa - tâm linh.
Những mô hình như vậy cho thấy giá trị không nằm ở việc có thật nhiều hạng mục, mà ở cách các hạng mục được kết nối thành một hành trình xuyên suốt. Du khách đến vì một trải nghiệm nhưng có thể tiếp tục ở lại để khám phá những trải nghiệm khác, từ tham quan sang vui chơi, văn hóa, ẩm thực, mua sắm hay giải trí về đêm. Khi đó, khả năng giữ chân khách và mở rộng không gian chi tiêu cho điểm đến cũng lớn hơn.





Đến Sapa, du khách được trải nghiệm leo núi Fansipan bằng cáp treo và hòa mình vào Lễ hội Pút Tồng - lễ hội “tắm than” đầy hấp dẫn của người Dao Đỏ tại bản Mây dưới chân Fansipan. (Ảnh: Sun Group)
- Xa hơn câu chuyện thu hút khách du lịch, nếu một tỉnh, thành phố có thể trở thành nơi hấp dẫn để chuyên gia, nhân lực chất lượng cao và cộng đồng quốc tế đến sống, làm việc dài hạn, điều đó có thể tạo thêm những động lực kinh tế nào cho địa phương?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: Việt Nam có một lợi thế rất quan trọng là môi trường xã hội ổn định, người dân thân thiện, mến khách. Theo tôi, chúng ta nên tiến thêm một bước, hoạch định Việt Nam không chỉ là điểm đến để đi du lịch đơn thuần mà còn là một điểm đến hấp dẫn đối với những người kết hợp làm việc, đầu tư và trải nghiệm du lịch.
Đây không còn là một xu hướng nhỏ lẻ. Sự phát triển của mô hình làm việc từ xa, cùng với cạnh tranh thu hút nhân lực chất lượng cao, đang khiến nhiều quốc gia chủ động thiết kế chính sách để những người nước ngoài có năng lực, thu nhập cao có thể ở lại lâu hơn. UN Tourism cũng ghi nhận số lượng điểm đến triển khai các chương trình thị thực dành cho "digital nomad" (những người làm việc từ xa thông qua internet và các thiết bị công nghệ, không bị ràng buộc bởi văn phòng hay địa điểm cố định) đã tăng mạnh trong những năm gần đây, cho thấy ranh giới giữa một chuyến đi du lịch và quá trình sống, làm việc tại một điểm đến đang ngày càng mở rộng.
Có thể nhìn vào UAE. Quốc gia này triển khai Golden Residency với thời hạn dài từ 5 - 10 năm. Riêng Dubai còn có thị thực cư trú dành cho người làm việc từ xa, cho phép người đang làm việc cho tổ chức ở nước ngoài sinh sống hợp pháp tại Dubai trong một năm. Điều đáng chú ý là chính sách này không chỉ nhằm thu hút thêm người nước ngoài đến ở, du lịch và chi tiêu, mà gắn với mục tiêu thu hút các nhà đầu tư rót vốn vào đất nước, các doanh nhân điều hành dự án kinh tế, những người tài năng hoặc có tay nghề cao, hoặc những nhà lãnh đạo trong các lĩnh vực khoa học, tri thức hoặc thể thao, và những sinh viên xuất sắc, cùng các tiến sĩ, bác sĩ và kỹ sư trong các nhiều lĩnh vực khoa học đến làm việc.
Thái Lan cũng là một quốc gia đang phát triển theo hướng này. Chương trình Long-Term Resident Visa (Visa cư trú dài hạn) hướng đến bốn nhóm, gồm người có tài sản lớn, người nghỉ hưu có điều kiện, người làm việc tại Thái Lan và chuyên gia trình độ cao. Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI) nêu rất rõ mục tiêu của chương trình là thu hút thêm cư dân quốc tế, công nghệ và nhân tài, qua đó thúc đẩy chi tiêu trong nước, đầu tư và tăng trưởng kinh tế.
Singapore lại tiếp cận ở góc độ cạnh tranh nhân lực chất lượng cao. ONE Pass (Thẻ thông hành cho Mạng lưới Nước ngoài và Chuyên gia) được thiết kế cho nhóm nhân tài hàng đầu, cho phép họ làm việc, điều hành hoặc tham gia nhiều doanh nghiệp trong thời hạn dài. Singapore hướng đến thu hút nhân lực quốc tế không chỉ để bổ sung nguồn lao động mà còn nhằm đưa thêm chuyên môn, mạng lưới quốc tế và doanh nghiệp đến, hỗ trợ các công ty trong nước mở rộng thị trường và tạo thêm việc làm.



Trong 8 tháng năm 2026, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 15,9 triệu lượt người, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Top 10 các quốc gia và vùng lãnh thổ gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga, Đài Loan (Trung Quốc), Campuchia, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia và Philippines đóng góp gần 72% tổng số khách quốc tế đến Việt Nam. (Ảnh: TTXVN)
Những trường hợp đó cho thấy chúng ta cần nhìn nhóm chuyên gia, nhà đầu tư và nhân lực chất lượng cao quốc tế rộng hơn khái niệm khách du lịch thông thường. Khi một người chỉ đến một thành phố trong ba hoặc năm ngày, mức độ tham gia vào nền kinh tế địa phương sẽ khác với một chuyên gia sống ở đó trong sáu tháng, một năm hay nhiều năm.
Trong thời gian sinh sống, họ sẽ tạo ra nhu cầu tương đối ổn định đối với nhà ở và lưu trú dài hạn, ẩm thực, y tế, giáo dục, vận tải, mua sắm, thể thao, giải trí và các dịch vụ văn hóa. Nếu đi cùng gia đình, phạm vi nhu cầu còn rộng hơn. Quan trọng hơn, tệp khách này còn mang theo tri thức, kỹ năng, mạng lưới kinh doanh và trong một số trường hợp là cả nguồn vốn đầu tư.
Khi đó, tác động kinh tế không chỉ nằm ở doanh thu du lịch. Một thành phố hấp dẫn được chuyên gia quốc tế có thể đồng thời mở rộng thị trường dịch vụ, thúc đẩy bất động sản lưu trú dài hạn, giáo dục quốc tế, y tế chất lượng cao, dịch vụ tài chính, thương mại, ẩm thực và kinh tế đêm. Xa hơn, sự hiện diện của một cộng đồng chuyên gia đủ lớn còn có thể giúp hình thành các mạng lưới tri thức, đổi mới sáng tạo và kết nối đầu tư.
Tôi cảm nhận xu hướng dịch chuyển này tới Việt Nam cũng đang ngày càng rõ hơn và chúng ta cần có chính sách để khai thác tốt hơn nguồn lực này. Điều quan trọng nhất, theo tôi, là sự đồng bộ. Chính sách về thương mại, đầu tư, du lịch và những lĩnh vực có liên quan phải được kết nối với nhau để có thể tiếp cận và tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm chuyên gia, nhà đầu tư và nhân lực quốc tế này.
- Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh và sức cạnh tranh quốc tế. Xin ông hãy phân tích tầm quan trọng của việc hình thành một lực lượng doanh nghiệp đủ mạnh đối với quá trình chuyển đổi ngành du lịch từ tăng trưởng về lượng sang tăng trưởng về chất?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: Mục tiêu hình thành 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh quốc tế là một mục tiêu rất quan trọng. Chúng ta không nhất thiết phải đặt câu hỏi tại sao là 15 mà không phải 10 hay 20. Theo tôi, con số này chắc chắn đã được cân nhắc trên cơ sở thực tế của hệ thống doanh nghiệp và các tập đoàn liên quan đến du lịch Việt Nam hiện nay.
Điều quan trọng hơn nằm ở yêu cầu về quy mô và năng lực của lực lượng doanh nghiệp đó. Muốn hình thành được các chuỗi giá trị và những hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh thì phải có những doanh nghiệp đủ lớn, đủ năng lực tài chính, quản trị và tổ chức đầu tư.
Vai trò của những doanh nghiệp lớn không chỉ nằm ở khả năng bỏ ra một lượng vốn lớn hơn. Điều quan trọng hơn là họ có khả năng đầu tư dài hạn, tổ chức hệ thống và thiết lập những chuẩn mực mới về chất lượng sản phẩm, dịch vụ và quản trị. Khi mục tiêu của du lịch Việt Nam chuyển từ tăng số lượng khách sang tăng thời gian lưu trú, mức chi tiêu và giá trị gia tăng, chúng ta cũng cần những doanh nghiệp có khả năng tạo ra những sản phẩm đủ khác biệt, đủ chất lượng để thu hút các phân khúc khách cao cấp và cạnh tranh với những điểm đến quốc tế.
Một dự án du lịch quy mô lớn cũng không thể chỉ nhìn trong một chu kỳ đầu tư ngắn. Có những hạ tầng, sản phẩm giải trí, công trình văn hóa hay những dịch vụ mới đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, thời gian hoàn vốn dài và năng lực vận hành chuyên nghiệp. Những doanh nghiệp có tiềm lực mới có khả năng đi đường dài với những dự án như vậy.
Xa hơn nữa, để cạnh tranh quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam không thể chỉ mạnh về tài chính mà phải mạnh cả về thương hiệu, công nghệ, nguồn nhân lực, năng lực quản trị và khả năng kết nối với các đối tác quốc tế. Khi một tập đoàn trong nước hợp tác được với những thương hiệu khách sạn, đơn vị vận hành, công nghệ hay mạng lưới phân phối quốc tế, những chuẩn mực và kinh nghiệm toàn cầu cũng có cơ hội được đưa vào thị trường Việt Nam. Qua đó, chất lượng của cả hệ sinh thái có thể được nâng lên.



Một hệ sinh thái du lịch hoàn chỉnh cần đáp ứng xuyên suốt các nhu cầu của du khách, từ lưu trú, ăn uống, đi lại đến vui chơi – trải nghiệm và mua sắm trong toàn bộ thời gian họ ở lại điểm đến. (Ảnh: Sun Group)
Một hệ sinh thái du lịch cũng không chỉ dừng ở một khu nghỉ dưỡng. Nó có thể bao gồm những nhu cầu rất cơ bản nhưng quyết định toàn bộ trải nghiệm của khách như lưu trú, ăn uống, đi lại, vui chơi - trải nghiệm và mua sắm. Để có thể kết nối đồng bộ nhiều mắt xích như vậy cần những doanh nghiệp có năng lực đủ mạnh.
Xa hơn, trong tương lai, một số tập đoàn lớn còn có thể tham gia vào những cấu phần rộng hơn như hàng không, cảng biển, hạ tầng kết nối và những dịch vụ liên quan khác. Khi các cấu phần được kết nối, chúng ta mới tiến gần tới một hệ sinh thái hoàn chỉnh.
Vì vậy, theo tôi, bản thân việc Nghị quyết số 26 đặt mục tiêu hình thành lực lượng các tập đoàn, tổng công ty đủ mạnh cũng đã là một cách tháo gỡ điểm nghẽn.
- Nghị quyết xác định "doanh nghiệp là lực lượng tiên phong". Theo ông, cách xác định vai trò này đặt ra yêu cầu gì mới đối với quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: Đây là một định hướng chúng ta đã đề cập từ lâu, nhưng lần này được khẳng định rất rõ trong Nghị quyết, đó là doanh nghiệp phải trở thành lực lượng tiên phong trong phát triển du lịch.
Theo tôi, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, quản trị, quản lý và hoạch định chính sách. Còn những hoạt động như sáng tạo sản phẩm, hình thành và phát triển điểm đến, ứng dụng khoa học - công nghệ vào kinh doanh du lịch hay tiếp cận các thị trường cụ thể thì doanh nghiệp phải đóng vai trò chủ động hơn.
Chúng ta đã qua giai đoạn mà Nhà nước đi xúc tiến thị trường còn doanh nghiệp chỉ chờ để hưởng lợi; cũng đã qua giai đoạn Trung ương xúc tiến rồi địa phương chỉ thụ hưởng. Trong giai đoạn mới, tất cả các chủ thể đều phải cùng làm và doanh nghiệp cần thực sự tiên phong.
Bởi hơn ai hết, doanh nghiệp là người tiếp xúc trực tiếp với thị trường. Doanh nghiệp hiểu nhu cầu của khách hàng, hiểu nhu cầu của thị trường mình muốn hướng tới. Vì vậy, doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào nghiên cứu và xúc tiến thị trường thì khả năng đi đúng và trúng vào nhu cầu sẽ cao hơn.
Về phía Nhà nước, cần phải ngày càng tập trung vào vai trò định hướng và kiến tạo, tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Những hỗ trợ đó có thể liên quan tới đầu tư, đất đai, tài chính, thuế và các nguồn lực cần thiết khác.
Nhưng để đạt các mục tiêu đến năm 2030, từ lượng khách quốc tế, khách nội địa cho đến tổng thu du lịch, doanh nghiệp phải là một trong những lực lượng trực tiếp giải quyết bài toán.
Một ý mở rộng nữa mà tôi muốn nhấn mạnh chính là phải làm sao để Nghị quyết số 26 và những văn bản triển khai của Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải thực sự đi vào cuộc sống.
Đi vào cuộc sống có nghĩa là doanh nghiệp, địa phương và người dân hiểu được, đón nhận được và có thể thực hiện được những chủ trương đó. Nếu một nghị quyết được Trung ương ban hành nhưng khi xuống tới doanh nghiệp, địa phương hay từng người dân làm du lịch lại bị nghẽn, không rõ thì những điểm nghẽn lớn sẽ lại sinh ra nhiều điểm nghẽn nhỏ.
Ngược lại, nếu tháo gỡ được những vướng mắc ấy, chúng ta có thể tập hợp được một sức mạnh nội sinh rất lớn. Bởi làm du lịch không chỉ là câu chuyện của người trực tiếp tham gia tại các điểm du lịch mà là toàn dân đều có thể tham gia làm du lịch.
Du khách không chỉ tiếp xúc với nhân viên trong khách sạn hay người làm dịch vụ tại Sa Pa, Phú Quốc hoặc một khu du lịch cụ thể. Khi đi trên một con phố ở Hà Nội và gặp một người dân thân thiện, đó cũng là trải nghiệm về Việt Nam. Vì vậy, muốn Nghị quyết số 26 thực sự đi vào cuộc sống thì tinh thần phát triển du lịch phải chạm được tới từng nhịp sống của người dân. Hơn 100 triệu người dân Việt Nam có thể không trực tiếp kinh doanh du lịch, nhưng việc giữ đường phố sạch sẽ, một chuyến taxi thân thiện, một thái độ văn minh với du khách cũng chính là những cách đóng góp cho du lịch.
- Nhìn rộng hơn, thực tế tại nhiều địa phương cho thấy khu vực tư nhân ngày càng tham gia sâu vào phát triển hạ tầng, sản phẩm và hệ sinh thái du lịch, qua đó góp phần làm thay đổi diện mạo điểm đến. Theo ông, vai trò của doanh nghiệp tư nhân đối với sự phát triển của du lịch Việt Nam hiện nay cần được nhìn nhận như thế nào? Nhà nước cần làm gì để nguồn lực này được phát huy mạnh mẽ hơn trong giai đoạn tới?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: Vai trò của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng trong phát triển kinh tế Việt Nam thời gian qua ngày càng được coi trọng. Nghị quyết số 68 đã xác định kinh tế tư nhân là "một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia"; còn riêng trong lĩnh vực du lịch, Nghị quyết số 26 xác định "doanh nghiệp là lực lượng tiên phong". Theo tôi, điều đó cho thấy vai trò của khu vực tư nhân trong giai đoạn tới không chỉ tiếp tục được mở rộng mà còn được đặt ở một vị trí quan trọng hơn trong quá trình huy động nguồn lực và tổ chức phát triển du lịch.
Thực tế thời gian qua, khu vực tư nhân đã có những đóng góp rất đáng kể song không nên chỉ nhìn đóng góp ấy qua số vốn đầu tư hay số lượng khách sạn, khu nghỉ dưỡng được xây dựng. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng biến tiềm năng của một địa phương thành sản phẩm có thể đưa ra thị trường, tạo thêm trải nghiệm, hình thành thương hiệu và kết nối nhiều hoạt động kinh tế xung quanh du lịch.
Phú Quốc là một ví dụ rõ về quy mô huy động nguồn lực. Tính đến tháng 1/2026, Phú Quốc có 330 dự án đầu tư còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký khoảng 504.621 tỷ đồng; trong đó có nhiều dự án quy mô lớn của các tập đoàn trong nước như Vingroup, Sun Group, CEO Group, BIM Group, Tân Á Đại Thành... tập trung vào du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, đô thị, thương mại - dịch vụ cũng như hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Nếu các mắt xích được kết nối tốt, một đồng vốn đầu tư vào du lịch có thể tạo ra một chuỗi giá trị kinh tế rộng hơn xung quanh điểm đến.
Bên cạnh đó, sự lớn mạnh của các doanh nghiệp đầu tàu cũng sẽ tạo ra ảnh hưởng tích cực nhờ tạo nên hệ sinh thái để các doanh nghiệp khác và cộng đồng cùng tham gia. Một tập đoàn có thể đầu tư công trình động lực, tạo thương hiệu và mang dòng khách đến, nhưng xung quanh đó vẫn có không gian cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, người dân địa phương tham gia.
Về phía Nhà nước, cần kiến tạo một môi trường để doanh nghiệp dám đầu tư dài hạn và có cơ hội phát triển.
Trước hết đến từ sự ổn định, minh bạch và nhất quán của chính sách. Những dự án du lịch quy mô lớn thường có vòng đời đầu tư rất dài, liên quan đồng thời đến quy hoạch, đất đai, xây dựng, môi trường, giao thông và nhiều thủ tục khác. Nếu chính sách thiếu ổn định hoặc các thủ tục kéo dài thì chi phí và rủi ro của doanh nghiệp sẽ tăng lên rất lớn.
Thứ hai là tháo gỡ những điểm nghẽn về tiếp cận nguồn lực. Tinh thần của Nghị quyết số 68 là bảo đảm kinh tế tư nhân cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong tiếp cận cơ hội kinh doanh và các nguồn lực của nền kinh tế, nhất là vốn, đất đai, công nghệ, nhân lực, dữ liệu và các nguồn lực hợp pháp khác của đất nước theo quy định của pháp luật. Nghị quyết số 26 cũng đặt ra yêu cầu có chính sách hỗ trợ về đầu tư, đất đai, tài chính, thủ tục, thuế, phí, mặt bằng, kinh doanh đối với các dự án du lịch chất lượng cao.
Bên cạnh việc khuyến khích khu vực tư nhân, tôi cho rằng, chúng ta cũng phải đặt ra những yêu cầu về trách nhiệm đối với doanh nghiệp. Doanh nghiệp càng được trao cơ hội tham gia những dự án lớn thì càng phải có ý thức, trách nhiệm với môi trường, văn hóa, cuộc sống người dân và chất lượng phát triển dài hạn của điểm đến.
- Nghị quyết số 26 đặt mục tiêu "phát triển mạnh 3 cực tăng trưởng du lịch Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng". Theo ông, đâu là những lợi thế giúp Đà Nẵng đảm nhận vai trò này?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: Theo tôi, Đà Nẵng có nhiều điều kiện thuận lợi để trở thành một cực tăng trưởng du lịch không chỉ của Việt Nam mà còn có thể hướng tới tầm khu vực và quốc tế. Đáng chú ý là những lợi thế vốn có của một thành phố du lịch biển hiện nay đang được cộng hưởng với một không gian phát triển rộng hơn và nhiều động lực kinh tế mới.
Lợi thế đầu tiên nằm ở vị trí và khả năng kết nối. Đà Nẵng là cửa ngõ phía Đông của Hành lang kinh tế Đông - Tây, có khả năng kết nối với Lào, Thái Lan, Myanmar và rộng hơn là mạng lưới giao thông của khu vực. Sau sáp nhập, lợi thế càng được mở rộng khi thành phố có một hệ thống hạ tầng giao thông - logistics đa dạng, với sân bay Đà Nẵng và sân bay Chu Lai, cùng hệ thống cảng biển.
Nếu tiếp tục nâng cao năng lực của sân bay, cảng biển, mở rộng các đường bay quốc tế trực tiếp và hoàn thiện các tuyến giao thông kết nối liên vùng, Đà Nẵng có thể trở thành một đầu mối tiếp nhận và phân phối khách bằng cả đường hàng không, đường biển và đường bộ. Đây là một lợi thế mà không phải địa phương nào cũng có, đồng thời cũng là lợi thế rất quan trọng đối với một cực tăng trưởng du lịch.
Lợi thế thứ hai là không gian tài nguyên du lịch rất phong phú. Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, Đà Nẵng mới có diện tích gần 11.860km², dân số hơn 3 triệu người. Quan trọng hơn, thành phố hiện sở hữu một không gian kinh tế - du lịch rất rộng, từ đô thị biển, cảng biển, sân bay, công nghiệp, logistics, công nghệ cao đến các vùng sinh thái, nông nghiệp và những không gian di sản có giá trị đặc biệt như Hội An, Mỹ Sơn. Nếu mở rộng kết nối ra khu vực còn có Huế, Tây Nguyên và dải ven biển miền Trung. Điều đó giúp Đà Nẵng có khả năng phát triển không chỉ như một điểm đến đơn lẻ mà như một trung tâm kết nối nhiều hành trình và nhiều loại hình trải nghiệm khác nhau.
Thực tế, sức hút của thị trường du lịch Đà Nẵng đang được thể hiện khá rõ. Trong 6 tháng đầu năm 2026, các cơ sở lưu trú trên địa bàn phục vụ gần 9,8 triệu lượt khách, tăng 22,5% so với cùng kỳ; trong đó khách quốc tế đạt gần 5,2 triệu lượt, tăng 28,7%, còn khách trong nước đạt hơn 4,6 triệu lượt, tăng 16,2%. Đáng chú ý, khách quốc tế đã chiếm hơn một nửa tổng lượng khách lưu trú. Điều đó cho thấy Đà Nẵng đang có một nền tảng thị trường khá tốt để tiếp tục nâng tầm vai trò của một điểm đến quốc tế.
Một lợi thế khác là Đà Nẵng đang từng bước làm phong phú hơn hệ sinh thái sản phẩm, hướng tới chiến lược phát triển "du lịch không ngủ" với chuỗi lễ hội, sự kiện văn hóa, thể thao và các hoạt động kinh tế ban đêm diễn ra xuyên suốt trong năm. Khi sức hút của điểm đến không còn tập trung vào một vài mùa cao điểm mà được duy trì bằng những trải nghiệm và sự kiện nối tiếp, thành phố có thêm điều kiện kéo dài mùa du lịch, gia tăng khả năng thu hút khách quay trở lại, kéo dài thời gian lưu trú và mở rộng dư địa chi tiêu của du khách.
Nhưng điều đáng chú ý hơn trong giai đoạn tới là Đà Nẵng đang không chỉ phát triển bằng một động lực du lịch. Việc hình thành Khu thương mại tự do, đưa Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng vào hoạt động, cùng định hướng phát triển công nghệ cao, logistics, đổi mới sáng tạo và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao có thể tạo thêm những dòng người mới đến thành phố: Nhà đầu tư, doanh nhân, chuyên gia, nhân lực chất lượng cao và cộng đồng quốc tế. Đây cũng là dư địa đáng quan tâm bởi nó bổ sung thêm dòng khách chất lượng cao, có nhu cầu chi tiêu cao và lưu trú dài ngày cho Đà Nẵng.
Nếu khai thác tốt những yếu tố này, tôi tin rằng, Đà Nẵng không chỉ có điều kiện trở thành một cực tăng trưởng du lịch mạnh mà còn có thể tiến tới một trung tâm dịch vụ - kinh tế đa chức năng, từ đó tạo thêm sức hút và sức lan tỏa cho du lịch của cả khu vực miền Trung.
- Một cực tăng trưởng du lịch cần tạo ra những liên kết và sức lan tỏa như thế nào để sự phát triển không dừng lại trong phạm vi địa phương, thưa ông?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: Điều quan trọng nhất của một "cực tăng trưởng" không nằm ở việc hút thật nhiều nguồn lực và khách về cho riêng mình. Một cực tăng trưởng thực sự phải vừa có khả năng thu hút, vừa biết chia sẻ và lan tỏa giá trị tới những khu vực xung quanh. Có như vậy sự phát triển mới lâu dài và bền vững. Nếu các địa phương chỉ tìm cách giữ khách ở lại riêng địa phương mình, liên kết vùng rất khó phát huy hiệu quả và chính Đà Nẵng cũng sẽ mất đi một phần lợi thế.
Tinh thần này cũng phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 26 khi nhấn mạnh liên kết giữa doanh nghiệp, hiệp hội và địa phương trong xây dựng sản phẩm, tuyến du lịch chất lượng cao, xúc tiến thị trường; đồng thời thúc đẩy liên kết vùng, tiểu vùng và liên kết xuyên biên giới về sản phẩm, hạ tầng, đào tạo và chia sẻ dữ liệu.
Vì vậy, bài toán của Đà Nẵng là trở thành đầu tàu và phải kéo được các toa tàu cùng đi. Không chỉ đi đúng hướng mà cả đoàn tàu phải cùng đi một hướng và cùng tiến lên để các địa phương trong hệ sinh thái liên kết đều được hưởng lợi.
Để làm được điều đó, cần một cơ chế phối hợp thực chất giữa Đà Nẵng với các địa phương xung quanh, từ quy hoạch sản phẩm, kết nối hạ tầng, xúc tiến thị trường, tổ chức tuyến điểm đến chia sẻ dữ liệu và phân bổ dòng khách. Khi các mắt xích này được phối hợp đồng bộ, Đà Nẵng mới có thể phát huy đầy đủ vai trò của một cực tăng trưởng du lịch.
- Nghị quyết số 26 định hướng "phát triển Phú Quốc từng bước thành một cực tăng trưởng mới, trở thành trung tâm du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp, cạnh tranh quốc tế, thu hút các sự kiện quốc tế lớn". Theo ông, đâu là những lợi thế giúp Phú Quốc có thể đảm nhận các vai trò này?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: Một nền du lịch muốn phát triển cần có những đầu tàu, những "thỏi nam châm" đủ sức tạo lực kéo cho các khu vực và sản phẩm xung quanh.
Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM có vai trò rất rõ, vừa là những cực tăng trưởng có ý nghĩa với du lịch cả nước, vừa có khả năng tạo sức lan tỏa tới khu vực xung quanh. Còn Phú Quốc có một nét rất đặc biệt, ngoài ý nghĩa về tăng trưởng, tôi cho rằng Phú Quốc còn có khả năng đóng góp rất lớn vào việc định vị thương hiệu du lịch Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Du lịch Việt Nam đã phát triển tới một tầm vóc rất đáng ghi nhận. Nhưng nếu đặt câu hỏi nhắc tới du lịch Việt Nam, đâu là một thương hiệu điểm đến mà khách quốc tế có thể lập tức gọi tên và nhớ đến, thì theo tôi chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm.
Khi nhắc tới Thái Lan, người ta có thể nhớ tới Bangkok, Pattaya; nhắc tới Indonesia có Bali; nhắc tới Philippines có Palawan. Việt Nam cũng cần những thương hiệu điểm đến có khả năng tạo ra ấn tượng và sức neo lớn trong lòng du khách quốc tế như vậy.
Bên cạnh Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM, Hạ Long, Nha Trang và những điểm đến đã có thương hiệu, theo tôi Phú Quốc cần được định vị rõ hơn là một thương hiệu du lịch biển đảo cao cấp và đẳng cấp. Nói cao cấp không có nghĩa chúng ta từ bỏ du lịch đại trà. Việt Nam vẫn cần đón những dòng khách phổ thông trong nước và quốc tế. Nhưng song song với đó, chúng ta đang hướng tới những thị trường và phân khúc khách có khả năng chi tiêu cao hơn. Phú Quốc hoàn toàn có thể đảm nhận một phần quan trọng trong vai trò đó.
Nếu làm tốt, đặc biệt tận dụng được cơ hội từ Tuần lễ cấp cao APEC 2027, tôi tin Phú Quốc có thể tiến tới trở thành một thương hiệu rất hấp dẫn của Việt Nam ở quy mô quốc tế. Khi khách quốc tế nhắc đến du lịch Việt Nam, Phú Quốc có thể trở thành một trong những cái tên được nhớ tới đầu tiên.
Tuy nhiên, theo tôi, trong quá trình tiếp tục hoàn thiện định vị điểm đến, Phú Quốc cũng có thể cân nhắc phát triển đa dạng hơn các lớp sản phẩm để đáp ứng nhiều phân khúc khách khác nhau.
Thời gian qua, Phú Quốc đã hình thành khá rõ nét các sản phẩm về vui chơi giải trí, sự kiện và dịch vụ hiện đại. Đây là những cấu phần rất cần thiết để gia tăng sức hấp dẫn, kéo dài thời gian trải nghiệm và tạo thêm lý do để du khách quay trở lại.
Bên cạnh đó, Phú Quốc còn có một lợi thế rất riêng là tài nguyên biển đảo, cảnh quan tự nhiên và những không gian có khả năng phát triển các sản phẩm nghỉ dưỡng theo hướng yên tĩnh, riêng tư và gần gũi với thiên nhiên. Đây cũng là nhu cầu của một bộ phận khách quốc tế cao cấp, những người sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho sự riêng tư, chất lượng dịch vụ và trải nghiệm gắn với môi trường tự nhiên.
Vì vậy, theo góc nhìn của tôi, Phú Quốc nên phát triển cân bằng: Một bên là hệ sinh thái giải trí, sự kiện, dịch vụ hiện đại; một bên là những không gian nghỉ dưỡng cao cấp nhưng yên tĩnh, riêng tư, giữ được giá trị tự nhiên. Nếu làm tốt, hai dòng sản phẩm đó hoàn toàn có thể cùng phát triển và bổ trợ cho nhau.
- Tại Phú Quốc, nhiều dự án trọng điểm phục vụ Tuần lễ cấp cao APEC 2027 đang được triển khai với sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân. Từ những trường hợp cụ thể, ông nhìn nhận như thế nào về vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp khi tham gia những dự án vừa gắn với hoạt động đầu tư, vừa phục vụ mục tiêu phát triển chung của điểm đến và quốc gia?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: Trước hết, tôi cho rằng những đóng góp của khu vực doanh nghiệp tư nhân đối với sự phát triển của du lịch Việt Nam trong thời gian qua là rất đáng ghi nhận. Những thành tựu mà du lịch Việt Nam có được hôm nay là kết quả của nhiều yếu tố cộng hưởng, từ chính sách của Nhà nước, đầu tư hạ tầng, nỗ lực của các địa phương, người dân cho tới sự năng động, sáng tạo và nguồn lực rất lớn của cộng đồng doanh nghiệp.
Vai trò ấy càng trở nên rõ hơn khi du lịch bước sang một giai đoạn đòi hỏi những dự án lớn hơn, hướng đến phát triển chất lượng và đưa du lịch không chỉ phát triển nhanh mà còn phải phát triển bền vững.
Trường hợp Phú Quốc chuẩn bị cho APEC 2027 là một minh chứng khá rõ. Đến tháng 1/2026, Phú Quốc triển khai 21 dự án với tổng mức đầu tư dự kiến hơn 137.138 tỷ đồng. Trong đó, nhóm dự án đầu tư công có hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương khoảng 20.166 tỷ đồng, còn khoảng 116.972 tỷ đồng thuộc nhóm đầu tư theo phương thức đối tác công tư và đầu tư kinh doanh. Những con số đó cho thấy quy mô rất lớn của nguồn lực ngoài ngân sách đang được huy động cho một nhiệm vụ vừa có ý nghĩa đối ngoại quốc gia, vừa phục vụ sự phát triển lâu dài của Phú Quốc.
Từ góc nhìn đó, Sun Group là một trong những trường hợp cho thấy khá rõ vai trò của một doanh nghiệp tiên phong. Tại Phú Quốc, doanh nghiệp đang tham gia nhiều hạng mục trọng điểm phục vụ APEC 2027 và phát triển dài hạn của điểm đến, từ mở rộng Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc, tuyến đường sắt nhẹ LRT kết nối sân bay với Trung tâm Hội nghị và Triển lãm APEC, đến các công trình hội nghị, lưu trú và hạ tầng liên quan. Riêng tuyến LRT dài gần 18km được đầu tư theo hình thức BOT với tổng mức đầu tư gần 9.000 tỷ đồng, hướng tới vừa phục vụ APEC vừa tiếp tục khai thác như một cấu phần giao thông công cộng của Phú Quốc sau sự kiện.




Sun Group là một trong những trường hợp cho thấy khá rõ vai trò của một doanh nghiệp tiên phong khi tham gia nhiều hạng mục trọng điểm phục vụ Tuần lễ cấp cao APEC 2027. (Ảnh: Sun Group)
Tôi trân trọng những gì mà doanh nghiệp thực hiện. Bởi khi một doanh nghiệp nhận đầu tư một khu nghỉ dưỡng hay một khu vui chơi thì trước hết đó là câu chuyện của một dự án kinh doanh. Nhưng khi doanh nghiệp tham gia sân bay, giao thông công cộng, trung tâm hội nghị hay những hạ tầng phục vụ những sự kiện mang tầm quốc tế, trách nhiệm đã lớn hơn rất nhiều.
Doanh nghiệp vẫn phải bảo đảm hiệu quả đầu tư, nhưng đồng thời còn có trách nhiệm với tiến độ, chất lượng công trình, môi trường, cộng đồng địa phương và đặc biệt là hình ảnh của Việt Nam. Những công trình được hình thành cho APEC 2027 không nên chỉ được nhìn trong phạm vi một tuần lễ sự kiện mà mục tiêu còn là để những công trình ấy trở thành tài sản phát triển lâu dài cho đảo Ngọc trong nhiều thập niên tới.
Đó cũng là điều tôi nhìn thấy trong cách Sun Group phát triển tại nhiều điểm đến. Từ Sa Pa, Đà Nẵng, Tây Ninh đến Phú Quốc, có thể nhận ra một "mẫu số chung" là doanh nghiệp không chỉ tạo ra một sản phẩm đơn lẻ mà thường từng bước bổ sung hạ tầng, vui chơi giải trí, lưu trú, dịch vụ và những trải nghiệm mới. Nhưng mỗi nơi lại cố gắng giữ những nét riêng gắn với cảnh quan và văn hóa bản địa.
Đối với Phú Quốc, tôi mong sự quan tâm, trách nhiệm và nguồn lực đầu tư sẽ không dừng lại sau APEC 2027. Thành công của APEC rất quan trọng, nhưng điều có ý nghĩa lâu dài hơn là những giá trị mà Phú Quốc tiếp tục tạo dựng sau sự kiện. Tôi kỳ vọng những doanh nghiệp như Sun Group sẽ tiếp tục đồng hành cùng Phú Quốc, Đà Nẵng và các địa phương để nâng tầm thương hiệu điểm đến. Tôi luôn mong một ngày, khi nhắc tới du lịch Việt Nam, du khách quốc tế có thể lập tức nhớ tới Phú Quốc, Đà Nẵng giống như cách thế giới đã nhớ đến những thương hiệu điểm đến nổi tiếng của các quốc gia khác.
Bên cạnh những giá trị hữu hình có thể nhìn thấy qua hạ tầng, sản phẩm hay lượng khách, tôi cho rằng còn có những giá trị vô hình rất khó đo đếm mà chúng ta cũng cần ghi nhận ở các doanh nghiệp tiên phong. Đó là khả năng tạo thêm niềm tin cho thị trường, khơi mở niềm tin cho các nhà đầu tư khác, tạo động lực để địa phương tiếp tục nâng cấp mình và từng bước thay đổi cách người ta nhìn nhận về một điểm đến.
Trong tất cả những giá trị đó, tôi muốn nhấn mạnh đặc biệt tới niềm tin. Niềm tin ấy trước hết là niềm tin rằng doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể làm được những công trình lớn, chất lượng cao và những điểm đến đủ sức cạnh tranh với quốc tế. Niềm tin ấy cũng lan sang những doanh nghiệp khác, sang người dân địa phương, sang những người đang làm nghề và đặc biệt là thế hệ trẻ.
Chính vì thế, khi nói về trách nhiệm của doanh nghiệp tư nhân, tôi cho rằng không nên chỉ nhìn ở câu chuyện đầu tư. Đó còn là trách nhiệm với điểm đến, với cộng đồng, với tài nguyên, với thương hiệu quốc gia và với những giá trị để lại cho các thế hệ tương lai. Một doanh nghiệp tiên phong không chỉ để lại những công trình, mà cần để lại cả giá trị, niềm tin và động lực phát triển cho nơi mình hiện diện.
- Nhìn về phía trước, ông kỳ vọng điều gì ở sự phát triển của du lịch Việt Nam trong kỷ nguyên mới, đặc biệt khi Nghị quyết số 26 đã mở ra những mục tiêu và định hướng phát triển ở tầm cao mới?
PGS. TS. Nguyễn Đức Thắng: Với định hướng mới, mục tiêu lớn hơn, cách tiếp cận toàn diện hơn của Nghị quyết số 26 tôi kỳ vọng rằng du lịch Việt Nam thời gian tới sẽ thực sự phát huy được vai trò của một ngành kinh tế mũi nhọn, không chỉ đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng mà còn tạo được sức lan tỏa mạnh mẽ tới nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực và tạo động lực phát triển bứt phá hơn nữa tại các địa phương.
Điều quan trọng nhất ngay lúc này là biến những định hướng thành hành động cụ thể, bằng quyết tâm của từng địa phương, sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp và sự tham gia của người dân, tôi tin rằng những mục tiêu đặt ra hoàn toàn cơ sở đạt được. Khi đó, du lịch không chỉ tăng về số lượng khách như chúng ta đã đạt được mà còn tăng mạnh về giá trị, chất lượng, có đóng góp lớn cho nền kinh tế.
Chúng ta tự hào vì Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với đường bờ biển dài, những vịnh biển, hải đảo, núi rừng, hệ sinh thái đa dạng cùng một nền văn hóa giàu bản sắc và chiều sâu lịch sử. Và niềm tự hào đó càng có ý nghĩa hơn khi chúng ta biết gìn giữ, phát huy và nâng tầm những giá trị sẵn có thành những sản phẩm, trải nghiệm chất lượng cao, có bản sắc và có sức cạnh tranh. Phát triển du lịch không chỉ là khai thác những gì thiên nhiên và lịch sử đã trao tặng, mà còn là trách nhiệm làm cho những giá trị ấy được nâng tầm và tiếp tục được trao truyền cho các thế hệ mai sau được thụ hưởng.
Kỳ vọng rằng trong tương lai gần, Việt Nam sẽ có thêm nhiều điểm đến mang thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế; có những cực tăng trưởng thực sự trở thành động lực dẫn dắt và lan tỏa cho cả vùng; đồng thời hình thành một lực lượng doanh nghiệp đầu tàu đủ tầm vóc, năng lực và khát vọng để kiến tạo những sản phẩm mới, nâng chuẩn chất lượng dịch vụ và góp phần đưa du lịch Việt Nam vươn lên một vị thế cao hơn.
- Xin trân trọng cảm ơn ông về những chia sẻ đầy tâm huyết và giàu tính gợi mở đối với sự phát triển của du lịch Việt Nam.
Chúng ta có quyền tự hào về những giá trị thiên nhiên, văn hóa mà đất nước đang sở hữu, nhưng chỉ tự hào thôi là chưa đủ. Điều quan trọng hơn là phải biết gìn giữ, phát huy và nâng tầm những giá trị ấy để du lịch không chỉ tạo ra thành quả cho hôm nay mà còn tiếp tục bồi đắp, trao truyền giá trị cho mai sau.
Nghị quyết số 26-NQ/TW đã mở ra định hướng phát triển mới; tin tưởng rằng với sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, những mục tiêu đặt ra sẽ sớm được hiện thực hóa, đưa du lịch Việt Nam phát triển vững mạnh cùng kỷ nguyên vươn mình của đất nước./.













