GS. TS. Hoàng Văn Cường: Nếu muốn bứt phá, Việt Nam không thể đi theo quỹ đạo tăng trưởng “an toàn”

GS. TS. Hoàng Văn Cường: Nếu muốn bứt phá, Việt Nam không thể đi theo quỹ đạo tăng trưởng “an toàn”

Thứ Tư, 08/04/2026 - 06:20

Lời toà soạn:
Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ yêu cầu: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính”; đồng thời đặt mục tiêu “Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên”. Đặt trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần chạm ngưỡng, yêu cầu này là một đòi hỏi mang tính chuyển đổi căn bản về mô hình tăng trưởng và cấu trúc động lực của nền kinh tế.
Tại các cuộc làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu xây dựng một “bản thiết kế tổng thể” cho mô hình tăng trưởng mới, coi đây là nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Quan trọng hơn, vấn đề không chỉ dừng lại ở việc xác lập một mô hình tăng trưởng mới về hình thức, mà “phải chuyển đổi căn bản ‘động cơ’ của nền kinh tế chứ không chỉ điều chỉnh cách vận hành”.
Điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam buộc phải rời khỏi quỹ đạo tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn, lao động giá rẻ và gia công lắp ráp để chuyển sang một mô hình dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và năng lực làm chủ chuỗi giá trị. Đây không chỉ là sự thay đổi về công cụ, mà là sự thay đổi về cấu trúc động lực phát triển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo, từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa trên năng suất và chất lượng.
Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng mới không chỉ được đo bằng các chỉ tiêu kinh tế. Như yêu cầu đặt ra từ thực tiễn phát triển, tăng trưởng phải gắn với nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, tạo việc làm, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển và bảo đảm các mục tiêu về môi trường, văn hóa - xã hội. Nói cách khác, tăng trưởng cao phải đi liền với phát triển bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm.
Trong cách tiếp cận đó, mục tiêu tăng trưởng “hai con số” không phải là một đích đến tách biệt, mà là kết quả của một quá trình đổi mới sâu sắc và đồng bộ từ thể chế, cấu trúc kinh tế, đến phương thức vận hành của cả hệ thống. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định, đây là “lựa chọn có tính lịch sử”, đòi hỏi phải đặt vấn đề ở “tầm lịch sử và tư duy phát triển”, với tầm nhìn không chỉ cho một nhiệm kỳ mà cho cả tương lai dài hạn của đất nước.
Trên cơ sở đó, Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam (Reatimes.vn) thực hiện chuyên đề “Thay đổi ‘động cơ’ của nền kinh tế để đạt tăng trưởng hai con số”, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp, nhằm làm rõ những vấn đề cốt lõi, từ nhận diện giới hạn của mô hình tăng trưởng hiện nay, phân tích các động lực mới của nền kinh tế, đến đề xuất các điều kiện về thể chế, nguồn lực và cách thức tổ chức thực hiện để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.
Trân trọng giới thiệu cùng độc giả!

Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống dần chạm ngưỡng, Việt Nam đang đứng trước một yêu cầu mang tính bước ngoặt: Không chỉ tăng trưởng nhanh hơn, mà phải tăng trưởng theo một cách hoàn toàn khác. Tăng trưởng "hai con số" vì thế không còn là mục tiêu đơn thuần về tốc độ, mà là một lựa chọn chiến lược gắn với việc tái cấu trúc toàn diện mô hình phát triển quốc gia trong giai đoạn tới.

Tại các cuộc làm việc gần đây với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu xây dựng một "bản thiết kế tổng thể" cho mô hình tăng trưởng mới, coi đây là nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao nhưng phải bảo đảm ổn định, bền vững và không đánh đổi các cân đối vĩ mô. Tuy nhiên, từ "thiết kế tổng thể" đến khả năng vận hành hiệu quả trong thực tế vẫn là một khoảng cách lớn. Bài toán đặt ra không chỉ là xác lập mô hình tăng trưởng mới, mà quan trọng hơn là làm thế nào để mô hình đó vận hành hiệu quả trong thực tiễn.

Trao đổi với Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam (Reatimes.vn), GS. TS. Hoàng Văn Cường, nguyên Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân đã phân tích sâu những nền tảng cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới, từ yêu cầu chuyển dịch sang nền kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ, đến vai trò của thể chế và thị trường. Đồng thời, ông cũng chỉ ra những điều kiện then chốt để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng "hai con số" một cách bền vững trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động.

- Thưa GS. TS. Hoàng Văn Cường, mục tiêu tăng trưởng 2 con số được đề ra không chỉ cho một nhiệm kỳ mà gắn với tầm nhìn đến năm 2045, đúng với chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: "Từ bây giờ, tư duy "5 năm với tầm nhìn 20 năm" phải được quán triệt trong chỉ đạo điều hành".

Theo ông, trong thời điểm bản lề này, mục tiêu tăng trưởng 2 con số có ý nghĩa ra sao đối với khát vọng hiện thực hóa được hoài bão trở thành một Việt Nam hùng cường vào giữa thế kỷ XXI?

GS. TS. Hoàng Văn Cường: Chúng ta đặt mục tiêu đến năm 2045 - vào đúng cột mốc 100 năm thành lập nước, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao. Đây không chỉ là một mục tiêu phát triển, mà là một lựa chọn mang tính lịch sử. Và để đi đến đích đó, chúng ta không thể đi bằng một quỹ đạo tăng trưởng "an toàn".

Kinh nghiệm từ các "con rồng châu Á" cho thấy để đạt được bước chuyển về chất để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, các nền kinh tế đều phải trải qua một giai đoạn tăng trưởng cao, mang tính đột phá, thường ở mức hai con số và được duy trì ổn định trong khoảng 7 - 10 năm, thậm chí lâu hơn.

Với Việt Nam, khi GDP bình quân đầu người hiện nay đạt khoảng 5.000 USD, nếu tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng 5 - 7% như nhiều quốc gia khác đã trải qua thì rất khó tạo ra bước nhảy vọt để vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Nhiều quốc gia trên thế giới từng đạt ngưỡng thu nhập trung bình cao nhưng không thể tiến xa hơn bởi họ thiếu một giai đoạn tăng trưởng đủ mạnh để bứt phá.

Do đó, tăng trưởng hai con số không chỉ là một mục tiêu tham vọng, mà là một con đường gần như tất yếu nếu Việt Nam muốn rút ngắn khoảng cách phát triển và vươn lên trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này đòi hỏi một lộ trình rõ ràng, có bước đệm, có bước nhảy và quan trọng hơn là phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện nền tảng.

Điểm đáng chú ý là Việt Nam đang bước vào một thời điểm đặc biệt. Năm 2026 không chỉ mở ra một chu kỳ phát triển mới trong nước, gắn với dấu mốc Đại hội XIV, mà còn trùng với một bước chuyển lớn của thế giới, khi kỷ nguyên số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và các công nghệ mới đang định hình lại toàn bộ nền kinh tế toàn cầu.

Có thể nói, đây là "ngưỡng cửa" của một kỷ nguyên phát triển mới. Và chính ở thời điểm này, việc đặt ra mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là khát vọng, mà là một lựa chọn mang tính chiến lược theo nghĩa "bây giờ hoặc không bao giờ", buộc chúng ta phải đổi mới toàn diện từ thể chế, mô hình đến động lực tăng trưởng để nắm bắt cơ hội và không bị lùi lại phía sau.

- Chủ trương thúc đẩy tăng trưởng kinh tế "2 con số" đang nhận được sự quan tâm rộng rãi trong xã hội và cần được cụ thể hóa bằng những giải pháp chiến lược. Theo Giáo sư, việc xác lập mô hình tăng trưởng mới có ý nghĩa như thế nào đối với mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 2 con số của Việt Nam trong giai đoạn tới?

GS. TS. Hoàng Văn Cường: Tôi cho rằng, nếu vẫn tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng truyền thống thì rất khó để tạo ra một bước bứt phá đủ lớn cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Trong những năm qua, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, Việt Nam đã duy trì được môi trường đầu tư kinh doanh tương đối ổn định, từng bước hoàn thiện thể chế, đồng thời huy động hiệu quả các nguồn lực, từ đầu tư công, khu vực tư nhân đến dòng vốn FDI. Cùng với đó là việc tận dụng các quan hệ kinh tế quốc tế để mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Có thể nói, tăng trưởng đạt được thời gian qua là kết quả của một quá trình nỗ lực đồng bộ, với sự tham gia của cả Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Thậm chí, nhiều kết quả đã được quốc tế đánh giá cao, xem Việt Nam như một "điểm sáng" trong bức tranh kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn thẳng vào thực tế, mô hình đó mới chỉ giúp chúng ta đạt đến ngưỡng tăng trưởng khoảng 7 - 8%. Ngay cả khi đạt mức 8% vào năm 2025, nền kinh tế đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro như tăng trưởng tín dụng ở mức cao (tới 19%), áp lực lãi suất gia tăng, kéo theo những lo ngại về ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn hệ thống tài chính - tiền tệ.

Điều này cho thấy, dư địa của mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn và lao động giá rẻ đang dần đạt đến giới hạn. Việc tiếp tục "bơm vốn" để duy trì tăng trưởng không chỉ kém hiệu quả mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro vĩ mô.

Không chỉ vậy, Việt Nam cũng đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, chỉ trong khoảng chưa đầy hai thập kỷ tới, lợi thế "dân số vàng" - một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng sẽ mất và chuyển thành dân số già với gánh nặng phụ thuộc gia tăng.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu chuyển sang một mô hình tăng trưởng mới là điều tất yếu. Đó phải là mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo mà con đường đang mở ra là kinh tế số, trí tuệ nhân tạo và phát triển thông minh - những yếu tố có thể coi là "bộ não thay thế" cho các động lực tăng trưởng truyền thống.

Và đây cũng chính là điểm phù hợp với lợi thế của Việt Nam. Người Việt Nam được đánh giá là nhanh nhạy, sáng tạo, với nền tảng vững về tư duy toán học và các lĩnh vực STEM. Thực tế, Việt Nam luôn đạt thành tích cao tại các đấu trường toán học quốc tế cho thấy năng lực tư duy logic vững chắc, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế số và trí tuệ nhân tạo.

Nếu biết khai thác đúng lợi thế này để xác lập mô hình tăng trưởng phù hợp, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra một bước phát triển mang tính đột phá trong giai đoạn tới.

Và đó chính là ý nghĩa lớn nhất của việc xác lập mô hình tăng trưởng mới trong giai đoạn hiện nay, không chỉ để tăng trưởng nhanh hơn, mà còn bền vững và chất lượng hơn.

- Mô hình tăng trưởng mới nhấn mạnh "lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển". Ông có thể phân tích sâu hơn nguyên tắc này và nó được thực hiện như thế nào trong bối cảnh kinh tế vĩ mô hiện nay, nhất là trước những biến động của địa - chính trị và địa - kinh tế toàn cầu?

GS. TS. Hoàng Văn Cường: Nguyên tắc "lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển" cần được hiểu trong một logic động. Trong bối cảnh hiện nay, ổn định không có nghĩa là đứng yên, không thay đổi mà là khả năng vận động cùng xu thế phát triển của thế giới, đồng thời đủ sức chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài.

Các xung đột địa chính trị hiện nay, từ Trung Đông đến nhiều khu vực khác cho thấy rất rõ một thực tế: Nếu một quốc gia không có nội lực đủ mạnh cả về tự chủ kinh tế, tiềm lực quốc phòng, an ninh và năng lực điều hành thì rất khó duy trì được sự ổn định, độc lập.

Vì vậy muốn ổn định, trước hết phải có tiềm lực. Và tiềm lực đó chỉ có thể được tạo ra thông qua phát triển. Ngược lại, để phát triển bền vững, cũng cần một nền tảng ổn định về chính trị, xã hội và kinh tế vĩ mô.

Thực tế sự phát triển và ổn định trước những cú sốc trong những năm qua là một minh chứng. Việc duy trì được môi trường chính trị - xã hội ổn định, kiểm soát tốt lạm phát, giữ vững tỷ giá và các cân đối vĩ mô đã tạo niềm tin cho nhà đầu tư, qua đó thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư, trong đó có FDI trong thời gian qua.

Trong giai đoạn tới, yêu cầu đặt ra không chỉ là "giữ ổn định", mà là xây dựng một trạng thái ổn định ở trình độ cao hơn, nghĩa là ổn định trong phát triển và ổn định để bứt phá.

Nói cách khác, phát triển và ổn định không phải là hai mục tiêu tách rời, phát triển tạo ra nguồn lực để củng cố ổn định, còn ổn định lại là nền tảng để phát triển bền vững và dài hạn. Chỉ khi đó, nguyên tắc "lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển" mới thực sự trở thành phương châm chỉ đạo hành động và quyết tâm phấn đấu cho một giai đoạn tăng trưởng mới của nền kinh tế. 

- Ông có thể đánh giá kỹ hơn thực trạng mô hình tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn vừa qua như thế nào?

GS. TS. Hoàng Văn Cường: Nhìn lại chặng đường phát triển vừa qua, có thể thấy mô hình tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu vẫn dựa vào hai trụ cột chính là thu hút vốn đầu tư nhưng không làm chủ về công nghệ và khai thác lợi thế lao động giá rẻ. Chính điều này đã định hình nên một nền kinh tế gia công, lắp ráp - tham gia nhiều vào sản xuất, nhưng lại ít nắm giữ những khâu có giá trị gia tăng cao.

Không thể phủ nhận rằng mô hình này đã giúp nền kinh tế đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận. Từ sau Đổi mới năm 1986, Việt Nam đã đi một chặng đường dài, từ một đất nước nghèo đói, nền kinh tế thiếu mọi thứ, sang một nền kinh tế hàng hóa phát triển với mọi mặt đời sống được cải thiện rõ rệt. Từ chỗ "cái gì cũng thiếu", chúng ta đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới ở nhiều lĩnh vực như gạo, dệt may, hàng điện tử và nhiều hàng tiêu dùng.

GS. TS. Hoàng Văn Cường: Nếu muốn bứt phá, Việt Nam không thể đi theo quỹ đạo tăng trưởng “an toàn”- Ảnh 1.
GS. TS. Hoàng Văn Cường: Nếu muốn bứt phá, Việt Nam không thể đi theo quỹ đạo tăng trưởng “an toàn”- Ảnh 2.
GS. TS. Hoàng Văn Cường: Nếu muốn bứt phá, Việt Nam không thể đi theo quỹ đạo tăng trưởng “an toàn”- Ảnh 3.
GS. TS. Hoàng Văn Cường: Nếu muốn bứt phá, Việt Nam không thể đi theo quỹ đạo tăng trưởng “an toàn”- Ảnh 4.

Từ chỗ "cái gì cũng thiếu", Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới ở nhiều lĩnh vực như gạo, dệt may, hàng điện tử và nhiều hàng tiêu dùng. (Ảnh minh họa: TTXVN)

Thế nhưng, bản chất nền kinh tế là phát triển dựa trên nền tảng các hoạt động gia công, lắp ráp là những khâu nằm ở đáy "đường cong nụ cười" nên có giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị. Một chiếc áo xuất khẩu ra thị trường quốc tế với giá vài chục đô la nhưng tiền gia công may chúng ta được hưởng chỉ vài đô la được tính vào phần đóng góp trong tăng trưởng.

Điều đáng nói là, ngay cả khi người lao động có cố gắng nỗ lực tăng gấp đôi năng suất, thì giá trị tiền công được giữ lại vẫn chỉ tăng rất hạn chế, trong khi phần tăng lên rất lớn lại thuộc về các chủ thể nắm giữ công nghệ và thị trường. Đó là nguyên nhân "giữ chân" năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất của thế giới.

Vì vậy, nếu muốn nâng cao năng suất lao động và tạo ra bước phát triển mang tính đột phá, Việt Nam buộc phải chuyển sang một mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, qua đó từng bước làm chủ công nghệ và đảm nhận các khâu có giá trị gia tăng cao hơn.

- Một thực tế đáng chú ý là bức tranh tăng trưởng kinh tế năm 2025 không đồng đều giữa các địa phương, khi tăng trưởng bình quân cả nước đạt hơn 8%, nhưng có địa phương chỉ hơn 6%, có nơi lại vượt 10%. Theo ông, sự chênh lệch này phản ánh điều gì về mô hình tăng trưởng hiện nay của Việt Nam? Và liệu chúng ta đã có đủ nền tảng để mở rộng tăng trưởng "2 con số" trên phạm vi toàn nền kinh tế hay chưa?

GS. TS. Hoàng Văn Cường: Trước hết, sự chênh lệch về tốc độ tăng trưởng giữa các địa phương là điều bình thường trong một nền kinh tế đang phát triển. Trong bất kỳ không gian kinh tế nào cũng sẽ hình thành các "cực tăng trưởng" - những khu vực hội tụ tốt hơn các nguồn lực về vốn, công nghệ, nhân lực và thị trường, từ đó đóng vai trò đầu tàu, tạo ra sức hút và đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn mặt bằng chung.

Ngược lại, cũng có những vùng được xem là "vùng trũng" hoặc "vùng lõi", đảm nhiệm các vấn đề quan trọng khác như bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội. Vì vậy, những khu vực này không đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, mà ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ chiến lược khác của quốc gia.

Điểm đáng chú ý là trong năm 2025 đã xuất hiện ngày càng nhiều địa phương đạt tốc độ tăng trưởng cao. Điều này cho thấy các "cực tăng trưởng" mới đang dần hình thành, đặc biệt ở những khu vực có khả năng thu hút các nguồn lực và động lực phát triển mới.

Vấn đề quan trọng là những cực tăng trưởng này không chỉ tạo ra kết quả cho riêng địa phương, mà còn phải có khả năng lan tỏa, kéo theo sự phát triển của các vùng khác và các ngành kinh tế liên quan. Đây chính là cơ chế dẫn dắt tăng trưởng trong một nền kinh tế hiện đại.

Vì vậy, các chính sách cần phải đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, hình thành các cực phát triển đủ mạnh để từ đó tạo hiệu ứng lan tỏa. Nếu làm tốt điều này, những địa phương có tiềm năng tăng trưởng nhanh hiện nay hoàn toàn có thể trở thành các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng mặt bằng tăng trưởng chung của nền kinh tế và tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cao hơn trong giai đoạn tới.

- Đúng như ông đã nhận định, thực tế cho thấy tăng trưởng của Việt Nam trong nhiều năm qua vẫn phụ thuộc khá lớn vào mở rộng vốn đầu tư và tín dụng, trong khi hiệu quả sử dụng vốn chưa cao và đóng góp của năng suất tổng hợp (TFP) còn hạn chế.

Trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ ngày càng thu hẹp, nếu tiếp tục duy trì mô hình này, theo ông, nền kinh tế có thể đối mặt với những rủi ro gì? Sự phụ thuộc này có đang trở thành "điểm nghẽn" khiến nền kinh tế khó đạt được mục tiêu tăng trưởng "2 con số" một cách bền vững trong giai đoạn tới?

GS. TS. Hoàng Văn Cường: Chính vì mô hình tăng trưởng hiện nay dựa nhiều vào vốn và lao động giá rẻ nên dẫn đến nhu cầu đầu tư ngày càng lớn, từ tín dụng, đầu tư công đến thu hút vốn FDI. Khi tăng trưởng phụ thuộc chủ yếu vào vốn để mở rộng quy mô bề rộng mà không phải là trình độ phát triển bằng khoa học, thì khoa học - công nghệ chưa trở thành động lực chính. Đó cũng là lý do vì sao đóng góp của năng suất tổng hợp (TFP) còn hạn chế.

Nếu tiếp tục phụ thuộc vào vốn theo cách truyền thống, áp lực mở rộng đầu tư sẽ ngày càng lớn. Tuy nhiên, sự mở rộng này chủ yếu làm tăng quy mô sản xuất, trong khi giá trị gia tăng tạo ra đóng góp vào GDP vẫn ở mức thấp.

Trong bối cảnh hiện nay, tiêu chí thu hút đầu tư nước ngoài không thể chỉ dừng ở quy mô vốn, mà quan trọng hơn phải là công nghệ mới và khả năng chuyển giao công nghệ. Nói cách khác, ta cần chuyển từ tư duy "thu hút vốn" sang "thu hút công nghệ". Khi vốn đầu tư được chuyển hóa thành "vốn công nghệ", nghĩa là gắn với tri thức, đổi mới sáng tạo và khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, thì nền kinh tế mới có thể nâng cao năng suất, qua đó cải thiện thực chất đóng góp của TFP.

Ở một góc nhìn dài hạn hơn, việc tiếp tục duy trì mô hình tăng trưởng dựa vào gia công, lắp ráp còn có rủi ro rơi vào bẫy thu nhập trung bình khi dân số đang già hóa nhanh. Lực lượng lao động trẻ hiện nay nếu không làm chủ được kỹ thuật và công nghệ để có năng suất lao động cao, thì lợi thế của nền kinh tế sẽ dần mất đi khi bước qua giai đoạn "dân số vàng". Khi đó, Việt Nam có thể rơi vào tình trạng "chưa giàu đã già".

Chính vì vậy, giai đoạn hiện nay là thời điểm quan trọng để chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Ta cần tận dụng lực lượng lao động trẻ, thúc đẩy họ tiếp cận và làm chủ công nghệ, từ đó từng bước dịch chuyển lên các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị.

GS. TS. Hoàng Văn Cường: Nếu muốn bứt phá, Việt Nam không thể đi theo quỹ đạo tăng trưởng “an toàn”- Ảnh 5.
GS. TS. Hoàng Văn Cường: Nếu muốn bứt phá, Việt Nam không thể đi theo quỹ đạo tăng trưởng “an toàn”- Ảnh 6.

Cần tận dụng lực lượng lao động trẻ, thúc đẩy họ tiếp cận và làm chủ công nghệ, từ đó từng bước dịch chuyển lên các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị. (Ảnh minh họa: TTXVN)

- Ông cho rằng những yếu tố nào đang cản trở năng suất lao động và đổi mới công nghệ của Việt Nam? Và nếu các cải cách về thể chế, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực được thực hiện đầy đủ, TFP có thể đóng góp ở mức nào vào tăng trưởng để hiện thực hóa mục tiêu "2 con số"?

GS. TS. Hoàng Văn Cường: Như vừa phân tích, rào cản lớn nhất đối với năng suất lao động của Việt Nam không phải do sự thiếu nỗ lực của người lao động, mà ở vị trí của chúng ta đang nắm giữ trong chuỗi giá trị. Hiện nay, phần lớn hoạt động sản xuất vẫn tập trung ở các khâu có giá trị gia tăng thấp, tức là "đáy" của "đường cong nụ cười" trong chuỗi giá trị.

Trong khi đó, những khâu tạo ra giá trị cao nhất như nghiên cứu, phát triển công nghệ hay xây dựng thương hiệu, phân phối lại chưa phải là lĩnh vực mà chúng ta nắm giữ. Điều này cho thấy năng lực làm chủ công nghệ còn hạn chế chính là "điểm nghẽn" lớn nhất.

Vì vậy, nếu tiếp tục đi theo con đường cũ - tăng trưởng bằng gia công lắp ráp, rất khó để cải thiện năng suất. Tôi cho rằng hướng đi phù hợp là phải chuyển sang làm chủ các công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa.

Về bản chất, TFP là chỉ số đo lường hiệu quả sản xuất của cả vốn và lao động, phản ánh sự đóng góp của các yếu tố vô hình như công nghệ, trình độ quản lý, kỹ năng lao động vào tăng trưởng kinh tế. TFP phản ánh chất lượng của tăng trưởng, thể hiện sự tăng trưởng bền vững, là yếu tố có thể làm tăng đầu ra mà không phải do tăng quy mô các yếu tố đầu vào. Vậy nên để nâng cao TFP, cần tác động đồng bộ vào các yếu tố cấu thành, bao gồm phát triển khoa học, công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hoàn thiện thể chế để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Nếu các cải cách này được triển khai đồng bộ và hiệu quả để nâng cao đóng góp của TFP trở thành động lực chính, đóng góp tỷ trọng lớn trong tăng trưởng, qua đó tạo nền tảng để Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới.

- Mô hình tăng trưởng mới đặt mục tiêu phát triển hai động lực song song là thị trường trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu được dẫn dắt bởi xuất khẩu và khu vực FDI, trong khi thị trường nội địa vẫn chưa thực sự phát huy hết tiềm năng. Giáo sư cho rằng cần những điều kiện gì để thị trường trong nước trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng?

GS. TS. Hoàng Văn Cường: Trước hết, cần khẳng định rằng thị trường trong nước của Việt Nam có quy mô và tiềm năng rất lớn. Với dân số trên 100 triệu người, cùng với sự gia tăng nhanh của tầng lớp trung lưu và mức sống ngày càng cải thiện, sức mua nội địa đang mở rộng đáng kể. Đây là một lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng có.

Không chỉ dừng ở tiêu dùng nội địa, Việt Nam còn có tiềm năng lớn từ phát triển du lịch, qua đó mở rộng "quy mô thị trường xuất khẩu tại chỗ" thông qua dòng khách quốc tế. Điều này khiến thị trường trong nước không chỉ là nơi tiêu thụ của người dân, mà còn là không gian tiêu dùng rộng hơn, gắn với các ngành dịch vụ và các giao thương quốc tế.

Thực tế thời gian qua cũng cho thấy vai trò "trụ đỡ quan trọng" rất rõ của thị trường nội địa. Trong những giai đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy, đặc biệt là thời kỳ dịch Covid-19, khi xuất khẩu gặp khó khăn, nhờ có thị trường trong nước làm bệ đỡ nên các hoạt động kinh tế vẫn duy trì mức tăng trưởng khoảng 2,58% trong bối cảnh nhiều quốc gia tăng trưởng âm.

Thị trường trong nước mặc dù không phải là động lực tạo ra đột phá tăng trưởng, nhưng lại đóng vai trò nền tảng quan trọng trong việc giữ ổn định nền kinh tế. Vì vậy, việc giữ vững, phát triển và từng bước chinh phục thị trường nội địa cần được đặt ở vị trí chiến lược.

Đối với doanh nghiệp, thị trường trong nước còn là "sân thử nghiệm" đầu tiên. Chỉ khi sản phẩm có thể thuyết phục được người tiêu dùng trong nước, doanh nghiệp mới có đủ nền tảng để mở rộng ra thị trường quốc tế. Ngược lại, nếu chưa xây dựng được năng lực cạnh tranh ngay trên sân nhà mà đã bước vào cạnh tranh toàn cầu, thì khả năng thành công sẽ rất hạn chế. Nói cách khác, thị trường nội địa chính là "bước đệm" để doanh nghiệp nâng cao năng lực và từng bước vươn ra thế giới.

Thời gian qua, nhiều chính sách đã được triển khai nhằm thúc đẩy phát triển thị trường trong nước. Các doanh nghiệp cũng đang chuyển hướng rõ nét hơn, chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm và gia tăng giá trị cho hàng hóa nội địa.

Đặc biệt, người tiêu dùng Việt Nam ngày càng có xu hướng lựa chọn và tin tưởng sản phẩm trong nước, thậm chí người tiêu dùng còn e ngại về hàng hóa nhập khẩu "đội lốt" sản phẩm nội địa. Điều này phản ánh một tín hiệu tích cực, đó là thị trường trong nước đang dần hình thành niềm tin và tiêu chuẩn lựa chọn rõ ràng.

Tuy nhiên, để thị trường này phát triển lành mạnh và bền vững, cần tiếp tục tăng cường các biện pháp bảo vệ thị trường, đặc biệt là kiểm soát hàng giả, hàng nhái, hàng không rõ nguồn gốc và chống buôn lậu - những chương trình lớn mà ta đã triển khai trong thời gian qua đã bước đầu mang lại hiệu quả.

Trong thời gian tới, những nỗ lực này cần được thực hiện quyết liệt hơn nhằm củng cố thị trường nội địa trở thành nền tảng vững chắc cho tăng trưởng và là "bệ phóng" để doanh nghiệp Việt Nam vươn ra toàn cầu.

- Mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tới đặt ra yêu cầu phát triển nhanh, trong khi định hướng kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn lại đòi hỏi chuyển đổi sâu về công nghệ, thể chế và mô hình sản xuất - vốn là những quá trình tốn kém và dài hạn.

Điều này dường như tạo ra sự "xung đột" giữa tăng trưởng nhanh và tăng trưởng bền vững? Theo ông, Việt Nam cần tiếp cận bài toán này như thế nào để không rơi vào tình trạng "tăng trưởng nhanh nhưng không xanh" hoặc "xanh nhưng không đủ nhanh"?

GS. TS. Hoàng Văn Cường: Đúng là trong ngắn hạn, giữa mục tiêu tăng trưởng nhanh và yêu cầu phát triển xanh có thể xuất hiện những ràng buộc nhất định. Tuy nhiên, nếu nhìn ở tầm dài hạn, hai mục tiêu này hoàn toàn có thể bổ trợ cho nhau nếu được đặt trong một mô hình tăng trưởng phù hợp.

Trong mô hình mới, các động lực không chỉ là khoa học, công nghệ, mà phải tích hợp cả chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Khi đó, tăng trưởng xanh không còn là rào cản, mà trở thành một phần của động lực tăng trưởng.

Chẳng hạn khi đáp ứng được các tiêu chuẩn xanh, sản phẩm của Việt Nam sẽ có lợi thế cạnh tranh tốt hơn, đặc biệt ở các thị trường có yêu cầu cao, qua đó mở rộng không gian cho xuất khẩu.

Không chỉ vậy, các mô hình như kinh tế tuần hoàn còn giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, tối ưu hóa chi phí và gia tăng giá trị trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Đây chính là yếu tố giúp tăng trưởng không chỉ nhanh hơn mà còn bền vững hơn.

Việt Nam thậm chí có những lợi thế riêng để chuyển hóa tăng trưởng xanh thành động lực phát triển. Với nhiều vùng có độ che phủ rừng trên 40%, trước đây chủ yếu dừng lại ở khai thác cho các giá trị truyền thống như gỗ, giữ nước đầu nguồn hay cân bằng đa dạng sinh học. Nhưng trong bối cảnh phát triển xanh, nếu ta khai thác hiệu quả, các nguồn lực này hoàn toàn có thể được chuyển hóa thành giá trị kinh tế mới như tín chỉ carbon, qua đó trực tiếp đóng góp vào tăng trưởng.

Chính vì vậy, việc đặt ra mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 không chỉ là cam kết môi trường, mà còn là chiến lược để Việt Nam tham gia sâu hơn vào các thị trường lớn và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Chúng ta cũng đặt ra nguyên tắc là không đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng. Điều đó có nghĩa dù tăng trưởng là mục tiêu quan trọng, song phải được đặt trong những giới hạn về môi trường, và nếu không đáp ứng được các yêu cầu này thì sẽ không thể được lựa chọn.

Trong mô hình tăng trưởng mới, tăng trưởng cao và phát triển xanh không phải là hai mục tiêu mâu thuẫn mà chính là "mục tiêu kép". Khi nền kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, đặc biệt là các công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa, thì chính những yếu tố này vừa tạo ra tăng trưởng, vừa bảo đảm tính bền vững.

Chuyển đổi số tốt sẽ là nền tảng để thực hiện tăng trưởng xanh, và ngược lại, tăng trưởng xanh cũng đòi hỏi phải dựa vào các công nghệ số và hệ thống quản trị thông minh. Đây là hai quá trình có mối quan hệ khăng khít và cùng tạo nên động lực phát triển mới.

Còn nữa…

Như vậy, vấn đề của tăng trưởng “hai con số” không nằm ở việc “có làm được hay không”, mà ở việc Việt Nam có dám thay đổi mô hình phát triển hay không. Khi các động lực truyền thống đã chạm ngưỡng, việc tiếp tục đi theo quỹ đạo cũ không còn là lựa chọn. Một “động cơ” tăng trưởng mới - dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực làm chủ chuỗi giá trị - không chỉ là yêu cầu, mà là điều kiện tất yếu để Việt Nam bứt phá trong giai đoạn tới.
Trong phần tiếp theo, câu hỏi không còn là “có cần thay đổi hay không”, mà là “thay đổi bằng cách nào” - từ công nghệ chiến lược, cải cách thể chế đến vai trò của khu vực tư nhân và cấu trúc lại các động lực tăng trưởng của nền kinh tế, trong đó có lĩnh vực bất động sản.


Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top