Kịch bản nào cho HH Linh Đàm?
Linh Đàm những ngày thu này, câu chuyện về "số phận" những tòa chung cư HH lại một lần nữa bị kéo vào tâm điểm của những cuộc bàn thảo căng thẳng tại các cơ quan công quyền. Bản kế hoạch hành chính vừa được thành phố công bố với từng mốc thời gian dứt khoát: năm nay rà soát tổng thể, năm tới tổ chức di dời, rồi năm kế tiếp sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với các hạng mục sai phạm… Đằng sau những dòng văn bản mang đầy tính mệnh lệnh hành chính ấy là sự trĩu nặng của gần bốn vạn con người đang cư ngụ trong những khối nhà cao tầng. Một cộng đồng dân cư đông đúc ngang ngửa quy mô một đô thị loại bốn đang nín thở chờ đợi một phán quyết về chốn dung thân mà họ đã gắn bó suốt hơn một thập kỷ.
Những ai gắn bó và quan sát tiến trình đô thị hóa của Hà Nội đều hiểu rằng, sai phạm tại tổ hợp HH Linh Đàm là một "vết thương sâu" trong công tác quản lý không gian phát triển. Nhưng khi vết thương ấy đã thành hình hài thực thể, đã gắn chặt với sự sống, sinh kế và số phận của hàng vạn gia đình lao động, thì việc cầm dao phẫu thuật đòi hỏi bản lĩnh, sự cẩn trọng và lòng trắc ẩn lớn hơn rất nhiều so với sự kiên quyết thuần túy về mặt thủ tục. Người dân ở đây, phần nhiều, không phải là những nhà đầu cơ lướt sóng chuyên nghiệp. Họ là giáo viên, công chức cấp cơ sở, kỹ sư, nhân viên văn phòng, những người làm nghề tự do, những gia đình trẻ mang theo khát vọng lập nghiệp tại Thủ đô. Căn hộ vài chục mét vuông không đơn thuần là một tài sản có giá trị lớn nhất đời họ, mà là nơi nuôi dưỡng những đứa trẻ khôn lớn, là nơi nương tựa tuổi già của những bậc sinh thành. Đặt họ trước nguy cơ bị "bứng" đi khỏi không gian sống quen thuộc bằng một quyết định hành chính là điều khiến bất cứ ai có lương tâm và trách nhiệm công dân đều phải day dứt.
(Ảnh minh hoạ)
Bài toán đặt ra cho bộ máy quản lý nhà nước của Thủ đô hiện nay là làm sao giải quyết dứt điểm những di chứng nặng nề của quá khứ mà không tạo ra một cuộc khủng hoảng an sinh mới. Để làm được điều đó, chúng ta hãy thử thẳng thắn đặt ra các kịch bản có thể được đặt lên bàn nghị sự, cân nhắc những được và mất, tính khả thi lẫn giới hạn thực tiễn của từng phương án trước khi đưa ra một phán quyết.
Kịch bản đầu tiên, vốn thường được viện dẫn bởi những quan điểm bảo vệ kỷ cương pháp lý một cách hình thức, là tổ chức cưỡng chế, tháo dỡ toàn bộ các tầng và các căn hộ xây dựng vượt chỉ tiêu quy hoạch. Lập luận cho phương án này dựa trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật: sai phạm ở đâu phải cắt bỏ ở đó, không thể dung túng cho hành vi tự ý nâng tầng làm vỡ quy hoạch chung. Nếu thực hiện được, kịch bản này sẽ thiết lập một thông điệp răn đe cứng rắn đối với mọi doanh nghiệp, lập lại trật tự kỷ cương vốn đã bị xem nhẹ trong một thời kỳ dài buông lỏng quản lý. Tuy nhiên, cái giá phải trả của kịch bản này (có lẽ) là rất đắt. Và, nếu nhìn nhận sòng phẳng dưới góc độ khoa học kỹ thuật lẫn trật tự xã hội, đây gần như là một "nhiệm vụ bất khả thi".
Về phương diện kỹ thuật công trình, việc can thiệp cơ học để cắt bỏ hàng chục tầng trên cùng của một khối tháp bê tông cốt thép bốn mươi tầng đang vận hành bình thường là một canh bạc chứa đựng hiểm họa khôn lường. Toàn bộ hệ thống kết cấu móng cọc, đài móng, dầm cột chịu lực của các khối nhà sau hơn mười năm đã đạt đến trạng thái cân bằng ổn định. Việc đục phá dầm cột bê tông chịu lực trên diện rộng, các rung chấn cộng hưởng từ máy móc chuyên dụng hạng nặng, cùng sự thay đổi đột ngột về trường ứng suất sẽ tạo ra những vi chấn và tổn thương vĩnh viễn cho hệ khung kết cấu bên dưới. Nguy cơ nứt vách, lún lệch không đều, phá hủy mạng lưới kỹ thuật ngầm và đe dọa trực tiếp đến không gian sống an toàn của những cư dân ở các tầng hợp pháp phía dưới là hoàn toàn hiện hữu.
Về mặt an ninh trật tự và xã hội, việc cưỡng chế hàng ngàn hộ dân ra khỏi căn nhà họ đang sở hữu thực tế suốt mười năm qua chắc chắn sẽ vấp phải sự phản ứng mạnh. Một cuộc khủng hoảng xã hội với những điểm nóng khiếu kiện vượt cấp kéo dài sẽ có nguy cơ bùng phát, làm tiêu hao nguồn lực hành chính của chính quyền và gây xáo trộn nghiêm trọng đời sống chính trị - xã hội tại Thủ đô. Chưa kể, chi phí tháo dỡ kỹ thuật cao, gia cố kết cấu và bảo đảm an toàn sẽ tiêu tốn hàng ngàn tỷ đồng. Nguồn kinh phí khổng lồ này lấy từ đâu khi chủ đầu tư đang vướng vào các vòng tố tụng, còn ngân sách nhà nước không thể dùng để dọn dẹp hậu quả kinh tế do một doanh nghiệp tư nhân gây ra.
Kịch bản thứ hai, vốn đang được thành phố thăm dò qua các phiếu khảo sát ý kiến người dân, là yêu cầu chủ đầu tư hoàn tiền mua nhà hoặc tổ chức hoán đổi căn hộ sang một dự án khác. Nhìn bề ngoài, giải pháp này có vẻ thỏa mãn tính sòng phẳng về mặt giao dịch dân sự, trả lại sự cân bằng cho quy hoạch khu vực bằng cách di dời dân số cơ học. Thế nhưng, khi soi chiếu vào thực tiễn pháp lý và đời sống, phương án này lại bộc lộ nhiều vấn đề nan giải và có thể đẩy toàn bộ rủi ro về phía người dân yếu thế.
Vấn đề cốt tử nằm ở chỗ, khoản tiền mà người dân có thể nhận lại sẽ được xác định trên cơ sở nào. Nếu chỉ dựa trên giá trị hợp đồng mua bán từ một thập kỷ trước cộng với một khoản lãi suất tượng trưng, số tiền ấy hoàn toàn vô nghĩa trước mặt bằng giá nhà đất đã tăng gấp bốn, gấp năm lần tại Hà Nội. Với khoảng trên dưới một tỷ đồng cầm trong tay, một gia đình bốn miệng ăn sẽ đi về đâu khi thị trường không còn bất cứ phân khúc nhà ở thương mại nào ở mức giá đó. Hỗ trợ để họ được ưu tiên mua nhà ở xã hội, trong bối cảnh này, liệu Hà Nội có đủ sức không? Trong trường hợp định giá theo giá thị trường hiện tại của một căn hộ hoàn chỉnh pháp lý, liệu chủ đầu tư vi phạm có đủ thanh khoản tài chính để chi trả hàng chục ngàn tỷ đồng ngay lập tức hay không, hay cam kết bồi hoàn sẽ chỉ nằm lại trên những bản án dân sự chờ thi hành án kéo dài vô tận qua nhiều năm tháng.
Đối với phương án hoán đổi chỗ ở sang một khu đô thị vùng ven, đó không đơn thuần là việc dọn đồ từ căn hộ này sang căn hộ khác. Đó là sự bẻ gãy thô bạo toàn bộ mạng lưới an sinh xã hội mà người dân và chính quyền đã dày công xây đắp qua mười năm. Trường học của con trẻ, nơi làm việc mưu sinh của cha mẹ, hồ sơ bệnh án khám chữa bệnh định kỳ của người cao tuổi và cả sinh kế từ những cửa hàng buôn bán nhỏ tại chân đế các khối nhà sẽ hoàn toàn bị xóa sổ. Chúng ta có nên nhân danh việc sửa sai quy hoạch để đẩy hàng vạn con người vào một cuộc phiêu lưu bất định mới, biến họ thành những người "tị nạn đô thị" ngay giữa lòng thành phố của mình. Và, hãy nhìn vào thực tế, ai sẽ là người chịu trách nhiệm cho việc hoán đổi này được thực hiện và thực hiện một cách công bằng (?!)
Khi hai kịch bản truyền thống đều dẫn đến những "ngõ cụt" về mặt thực tiễn, người làm chính sách có lẽ nên tìm kiếm một lối đi thứ ba. Kịch bản hợp thức hóa có điều kiện gắn liền với trách nhiệm tài chính nghiêm khắc và tái thiết không gian. Đây hoàn toàn không phải là sự thỏa hiệp nhu nhược với sai phạm, mà là một phương thức ứng xử thực tế, chuyển hóa một di chứng lịch sử thành cơ hội để tái cấu trúc đô thị và an dân một cách triệt để.
Để kịch bản này vận hành công bằng và minh bạch, chìa khóa tiên quyết nằm ở việc tách bạch rạch ròi giữa trách nhiệm của doanh nghiệp và quyền tài sản hợp pháp của cư dân. Hành vi cố ý làm trái quy định về xây dựng và quy hoạch của chủ đầu tư đã và đang phải trả giá trước pháp luật hình sự. Toàn bộ nguồn lợi bất hợp pháp thu được từ việc tự ý cơi nới tầng cao, chia nhỏ căn hộ cần phải bị tịch thu triệt để bằng các biện pháp tài chính nghiêm khắc nhất. Nhưng người mua nhà, với tư cách là bên thứ ba ngay tình tham gia vào các giao dịch mua bán có chứng từ, có hóa đơn, có sự hiện diện và quản lý cư trú của bộ máy chính quyền cơ sở qua nhiều năm, phải được pháp luật bảo vệ quyền có chỗ ở hợp pháp theo đúng tinh thần của Hiến pháp và Bộ luật Dân sự.
Thay vì bắt người dân phải trả giá cho sự buông lỏng quản lý của các thế hệ cán bộ trước đây, chính quyền cần nắm lấy cơ chế để buộc chủ đầu tư phải dùng chính nguồn lực của mình để chuộc lỗi bằng hạ tầng. Trước hết, thành phố cần thành lập một hội đồng kiểm định độc lập gồm các chuyên gia đầu ngành về kết cấu và an toàn công trình để đánh giá toàn diện sức chịu tải thực tế của các khối nhà. Nếu công trình bảo đảm hệ số an toàn chịu lực trong niên hạn sử dụng còn lại từ ba mươi đến năm mươi năm, việc giữ lại công trình là phương án tối ưu để tránh lãng phí một khối tài sản xã hội khổng lồ đã hình thành.
Đồng thời, chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm tài chính toàn bộ để nâng cấp hệ thống phòng cháy chữa cháy theo các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành, bổ sung hệ thống thang thoát hiểm kết cấu thép độc lập bên ngoài tòa nhà, cải tạo hệ thống tăng áp hút khói cưỡng bức, thiết lập các gian lánh nạn đạt chuẩn và lắp đặt hệ thống cảnh báo, chữa cháy tự động liên hoàn. Công trình chỉ được xem xét cho phép tồn tại khi đã vượt qua những cuộc nghiệm thu an toàn khắt khe nhất của cơ quan có trách nhiệm.
Vấn đề căn cốt tiếp theo là giải quyết áp lực quá tải hạ tầng kỹ thuật và xã hội mà tổ hợp này đã trút xuống bán đảo Linh Đàm suốt nhiều năm qua. Để hóa giải điều này, chính quyền không thể áp dụng mức phạt hành chính mang tính chiếu lệ, mà phải áp dụng cơ chế thu phí điều tiết hạ tầng đô thị ở mức tối đa. Mọi mét vuông sàn xây dựng sai phép, vượt tầng phải bị truy thu nghĩa vụ tài chính đất đai bổ sung theo bảng giá đất sát với giá thị trường tại thời điểm xử lý hiện tại.
Khoản tiền khổng lồ thu được từ việc xử lý sai phạm này tuyệt đối không hòa vào ngân sách chi tiêu thường xuyên một cách chung chung, mà phải được đầu tư tái thiết không gian riêng cho khu vực Linh Đàm. Nguồn lực đó sẽ được dùng để bồi thường giải phóng mặt bằng các khu đất lân cận nhằm xây dựng thêm trường mầm non, trường tiểu học công lập; đầu tư các tổ hợp bãi đỗ xe thông minh nhiều tầng hoặc bãi đỗ xe ngầm; cải tạo hệ thống thu gom nước thải và nâng cấp dải cây xanh mặt nước xung quanh hồ. Bằng cách này, sự quá tải do dự án gây ra sẽ được bù đắp trực tiếp bằng chính đồng tiền xử phạt từ doanh nghiệp vi phạm, trả lại không gian sống cân bằng cho toàn bộ khu vực.
Sáng kiến này không phải là một sự nhân nhượng tùy tiện, mà hoàn toàn tìm thấy điểm tựa pháp lý vững chắc từ những thể chế và công cụ chính sách đặc thù mà Trung ương và Quốc hội đã trao cho Thủ đô. Trước hết, đó là tinh thần chỉ đạo xuyên suốt của Đảng tại Nghị quyết số 18 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới chính sách đất đai, trong đó nhấn mạnh yêu cầu phải tập trung tháo gỡ các vướng mắc pháp lý cho các dự án bất động sản tồn đọng kéo dài, nhằm giải phóng nguồn lực cho xã hội, không để lãng phí tài sản, đồng thời phải kiên quyết bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người dân. Gần đây nhất, Quốc hội cũng đã ban hành các nghị quyết thí điểm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án đất đai tại một số địa phương lớn, tạo hành lang pháp lý mở đường cho việc phân cấp mạnh mẽ quyền hạn xử lý cho chính quyền đô thị nhằm dứt điểm các hồ sơ tồn tại do lịch sử để lại.
(Ảnh minh hoạ)
Đặc biệt, Luật Thủ đô sửa đổi chính là bệ đỡ pháp lý mạnh mẽ và toàn diện nhất để thành phố tự tin thực hiện kịch bản đột phá này. Trong Luật Thủ đô, Quốc hội đã phân quyền rất lớn cho HĐND và UBND Thành phố trong việc chủ động quyết định điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị. Thành phố có toàn quyền xem xét, phê duyệt điều chỉnh các chỉ tiêu về tầng cao, mật độ xây dựng tại các khu vực cần chỉnh trang, tái thiết mà không nhất thiết phải tuân theo các trình tự thủ tục hành chính kéo dài qua nhiều bộ ngành như trước. Đây chính là chiếc chìa khóa thể chế để Hà Nội chính thức hợp thức hóa về mặt quy hoạch cho phần diện tích công trình đã qua kiểm định an toàn.
Bên cạnh đó, Luật Thủ đô cũng quy định thẩm quyền đặc thù cho Hà Nội trong việc áp dụng các biện pháp tài chính và xử lý vi phạm hành chính ở mức cao hơn so với khung chung của cả nước. Thành phố hoàn toàn có cơ sở pháp lý vững chắc để ban hành quy định về cơ chế thu tiền sử dụng đất bổ sung đối với các diện tích tăng thêm do điều chỉnh quy hoạch, thu hồi triệt để phần giá trị gia tăng từ đất do vi phạm trật tự xây dựng mà có. Cơ chế này trao cho người đứng đầu chính quyền Thủ đô một công cụ hợp pháp để buộc doanh nghiệp phải chuyển hóa lợi nhuận thu được từ sai phạm thành ngân sách tái thiết hạ tầng công cộng cho nhân dân.
Quan trọng hơn cả, Luật Thủ đô đã mở rộng cơ chế bảo đảm an sinh xã hội theo hướng đặt quyền lợi của người dân lên vị trí trung tâm. Khi các yêu cầu về an toàn kết cấu và phòng cháy chữa cháy đã được kiểm định đạt chuẩn, và khi nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đã được phong tỏa để xử lý độc lập, thành phố hoàn toàn có đủ thẩm quyền pháp lý để chỉ đạo cơ quan quản lý đất đai tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở trực tiếp cho từng hộ dân tại HH Linh Đàm. Cuốn sổ chứng nhận sở hữu ấy sẽ là sự cứu rỗi đối với hàng vạn mảnh đời, giải phóng họ khỏi thân phận cư trú bấp bênh, đưa căn hộ trở lại thành một tài sản hợp pháp để người dân yên tâm an cư, thế chấp phát triển kinh tế, ổn định việc học hành của con cái và đĩnh đạc đứng tên trong danh sách công dân chính danh của Thủ đô.
Hà Nội đang đứng trước một khúc quanh lớn của lịch sử phát triển đô thị. Việc giải quyết câu chuyện HH Linh Đàm không chỉ đơn thuần là khép lại một hồ sơ sai phạm cũ, mà là bài kiểm tra toàn diện về năng lực quản trị, sự dũng cảm và tinh thần trách nhiệm của bộ máy lãnh đạo. Một quyết định hành chính có thể ký rất nhanh, một mệnh lệnh cưỡng chế có thể dễ dàng ban hành trên giấy, nhưng sự bình yên của bốn vạn người dân và niềm tin của xã hội vào tính nhân văn của pháp luật là những giá trị vô giá không thể đánh đổi bằng sự nóng vội.
Pháp luật nghiêm minh không đồng nghĩa với pháp luật vô cảm. Mục đích tối thượng của mọi đạo luật, mọi nghị quyết là để kiến tạo trật tự, phục vụ đời sống con người và thúc đẩy sự phát triển bình an của xã hội. Nếu Hà Nội có thể dũng cảm vận dụng những thẩm quyền đặc thù mà Luật Thủ đô đã có, biến những sai lầm trong quá khứ thành động lực tái thiết hạ tầng và bảo vệ trọn vẹn quyền an cư của người dân lao động, thì đó sẽ là một dấu ấn đáng tự hào của tư duy quản trị đô thị hiện đại. Khi ấy, Linh Đàm sẽ không còn bị nhắc nhớ như một vết thương của sự vi phạm, mà sẽ trở thành bài học tích cực về bản lĩnh và lòng trắc ẩn của một chính quyền thực sự hành động vì dân./.

