"Kinh tế bạc" và động lực tăng trưởng mới trong bối cảnh già hóa dân số
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam (Nghị quyết số 19-NQ/TW) đã đưa ra quan điểm chỉ đạo chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; lấy con người làm chủ thể trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển; nâng cao sức mạnh tổng hợp, tiềm lực quốc gia, chất lượng đời sống và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu xuyên suốt; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo là động lực chính; lấy nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia là những nguyên tắc trung tâm[1]...
Nghị quyết đặt ra yêu cầu chuyển đổi căn bản tư duy từ quản lý quy mô, cơ cấu dân số sang phát triển vốn dân số quốc gia, coi dân số là nguồn lực chiến lược của tăng trưởng dài hạn; nâng cao chất lược dân số, gắn chính sách dân số với phát triển nguồn nhân lực, an sinh xã hội và thị trường lao động. Đồng thời chủ động xây dựng chiến lược và chính sách dân số thích ứng với già hóa dân số, chuyển từ tư duy ứng phó sang khai thác cơ hội phát triển từ chuyển đổi dân số; phát triển mạnh "kinh tế bạc" và hệ sinh thái, sản phẩm, dịch vụ cho người cao tuổi.
Đây là một bước chuyển quan trọng: Người cao tuổi không chỉ là đối tượng cần được chăm sóc, mà còn là một bộ phận của nguồn lực phát triển; già hóa dân số từ sức ép lớn trở thành một trong những thị trường, ngành dịch vụ và động lực tăng trưởng mới.
Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Người cao tuổi Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031, diễn ra tại Hà Nội trong hai ngày 15 - 16/9, trao đổi với Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam (Reatimes.vn), PGS. TSKH. Võ Đại Lược, Chủ tịch Hội đồng quản lý Trung tâm Kinh tế Thái Bình Dương (VAPEC), nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới cho rằng, nếu được tiếp cận đúng cách, "kinh tế bạc" có thể trở thành một không gian phát triển quan trọng, góp phần nâng cấp chất lượng tăng trưởng và định hình một mô hình phát triển nhân văn, bao trùm hơn cho Việt Nam trong những thập niên tới.
- Tại cuộc gặp mặt người cao tuổi toàn quốc nhân dịp kỷ niệm 85 năm Ngày Truyền thống Người cao tuổi Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh rằng "những giá trị làm nên sức mạnh của một dân tộc không chỉ nằm ở tiềm lực kinh tế, quy mô dân số hay trình độ khoa học, công nghệ, mà còn nằm ở chiều sâu văn hóa, ở nền nếp gia đình, gia tộc, làng xóm, ở sự kế thừa giữa các thế hệ và ở cách xã hội trân trọng, chăm sóc những người đi trước. Đối với dân tộc Việt Nam, người cao tuổi luôn giữ một vị trí đặc biệt trong hệ giá trị đó"[2].
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh, theo ông, những thông điệp này gợi mở như thế nào về cách tiếp cận mới đối với già hóa dân số và phát huy vai trò của người cao tuổi trong giai đoạn phát triển mới của đất nước?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Tôi cho rằng những thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gợi mở một sự chuyển biến rất quan trọng trong tư duy phát triển. Nếu như trước đây, khi nói đến già hóa dân số chúng ta thường quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh chăm sóc, phụng dưỡng và bảo đảm an sinh cho người cao tuổi, thì trong bối cảnh mới, cần nhìn nhận vấn đề này trong một tầm nhìn rộng lớn hơn.
Điều đáng chú ý là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt vai trò của người cao tuổi trong mối liên hệ với sức mạnh của dân tộc và chất lượng phát triển của đất nước. Đây là một cách tiếp cận mang tính nền tảng, bởi một quốc gia thực sự phát triển không chỉ được đo bằng quy mô GDP, tốc độ tăng trưởng hay trình độ khoa học - công nghệ, mà còn được phản ánh qua khả năng gìn giữ sự gắn kết giữa các thế hệ, phát huy vốn tri thức, kinh nghiệm và những giá trị văn hóa được tích lũy qua thời gian.
Già hóa dân số trước hết là thành quả của quá trình phát triển. Tuổi thọ tăng lên đồng nghĩa với việc chất lượng cuộc sống, trình độ y tế và điều kiện sống của người dân đã được cải thiện. Vì vậy, vấn đề đặt ra không phải là làm thế nào để "ứng phó" với già hóa dân số, mà là làm thế nào để thích ứng và tận dụng những cơ hội mới mà quá trình chuyển đổi nhân khẩu học mang lại cho phát triển.



Vấn đề đặt ra không phải là làm thế nào để "ứng phó" với già hóa dân số, mà là làm thế nào để thích ứng và tận dụng những cơ hội mới mà quá trình chuyển đổi nhân khẩu học mang lại cho phát triển. (Ảnh minh họa: Báo Nhân dân)
Tôi đặc biệt đồng tình với quan điểm cần chuyển từ tư duy coi người cao tuổi chủ yếu là đối tượng thụ hưởng chính sách sang xem họ là chủ thể tham gia phát triển. Người cao tuổi không chỉ mang theo vốn sống, kinh nghiệm nghề nghiệp và uy tín xã hội mà còn là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, giữa truyền thống với đổi mới. Trong nhiều trường hợp, đây chính là nguồn "vốn xã hội" quý giá mà không thể đo bằng các chỉ tiêu kinh tế thông thường.
Theo tôi, ý nghĩa lớn nhất của cách tiếp cận này là đặt con người vào vị trí trung tâm của phát triển. Mục tiêu cuối cùng của phát triển không chỉ là tạo ra nhiều của cải hơn, mà còn là xây dựng một xã hội nhân văn hơn, nơi mọi thế hệ đều được tôn trọng, được tạo điều kiện để tiếp tục cống hiến và cùng tham gia vào tiến trình phát triển của đất nước. Đó cũng chính là nền tảng để hướng tới một Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và hạnh phúc trong giai đoạn mới.
- Nhìn rộng hơn, già hóa dân số không chỉ là vấn đề của an sinh xã hội, mà còn là một trong những nhân tố có khả năng định hình lại cấu trúc kinh tế và mô hình tăng trưởng của quốc gia trong dài hạn. Từ góc nhìn của một nhà kinh tế học phát triển, ông đánh giá xu hướng này sẽ tác động như thế nào đến cấu trúc kinh tế và mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong những thập niên tới?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Trong nhiều thập niên qua, Việt Nam hưởng lợi đáng kể từ thời kỳ dân số vàng với lực lượng lao động trẻ dồi dào, chi phí cạnh tranh và khả năng hấp thụ mạnh các dòng vốn đầu tư sản xuất. Đây cũng là một trong những nền tảng quan trọng giúp nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong suốt thời gian dài.
Tuy nhiên, khi tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh hơn, những lợi thế truyền thống này sẽ dần thay đổi. Điều đó đòi hỏi nền kinh tế phải chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào số lượng lao động, vốn và mở rộng quy mô sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực. Nói cách khác, năng lực cạnh tranh trong tương lai sẽ không còn phụ thuộc chủ yếu vào việc có bao nhiêu lao động, mà phụ thuộc vào việc mỗi lao động có thể tạo ra bao nhiêu giá trị.
Ở góc độ doanh nghiệp, quá trình này sẽ thúc đẩy nhu cầu đầu tư vào tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, công nghệ y tế và các giải pháp nâng cao năng suất. Đồng thời, doanh nghiệp cũng phải thích ứng với sự thay đổi của thị trường khi nhu cầu tiêu dùng ngày càng dịch chuyển sang các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến sức khỏe, chăm sóc, tài chính hưu trí, du lịch nghỉ dưỡng hay nhà ở phù hợp với người cao tuổi.
Nếu trước đây người cao tuổi thường được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ an sinh xã hội, thì ngày nay họ đang trở thành một nhóm khách hàng có nhu cầu đa dạng, khả năng chi tiêu đáng kể và tác động ngày càng lớn đến cấu trúc thị trường. Vì vậy, già hóa dân số không chỉ làm thay đổi phía cung của nền kinh tế thông qua thị trường lao động, mà còn làm thay đổi cả phía cầu thông qua những xu hướng tiêu dùng mới.
Có thể nói, sự chuyển dịch về cơ cấu dân số đang tạo ra những thay đổi mang tính nền tảng đối với nền kinh tế. Cách chúng ta thích ứng với những thay đổi đó sẽ quyết định chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong nhiều thập niên tới.
- Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không ít quốc gia đã phải đối mặt với bài toán "già trước khi giàu", khi dân số già đi nhanh hơn tốc độ tích lũy của nền kinh tế. Theo ông, đâu là những thách thức lớn nhất mà Việt Nam có thể phải đối mặt trong quá trình thích ứng với già hóa dân số?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Đúng là nhiều quốc gia đã rơi vào tình trạng "già hóa trước khi giàu" và Việt Nam cũng có nguy cơ đi theo quỹ đạo đó nếu không chuẩn bị tốt từ sớm.
Theo tôi, thách thức đầu tiên là nguy cơ xuất hiện khoảng cách giữa nhu cầu an sinh ngày càng tăng với khả năng đáp ứng của nền kinh tế. Khi số lượng người cao tuổi gia tăng, nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, chăm sóc dài hạn, bảo hiểm, hưu trí và các dịch vụ hỗ trợ cuộc sống cũng tăng theo. Nếu hệ thống dịch vụ xã hội không được chuẩn bị đầy đủ, áp lực sẽ không chỉ đặt lên ngân sách nhà nước mà còn lên từng gia đình và cộng đồng.
Thách thức thứ hai là sự thay đổi của thị trường lao động. Khi quy mô lực lượng lao động trong độ tuổi sản xuất dần thu hẹp, nhiều ngành nghề có thể đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nhân lực, đặc biệt ở những lĩnh vực đòi hỏi kỹ năng chuyên môn cao. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải thay đổi cách quản trị nhân lực, đẩy mạnh đào tạo lại kỹ năng và tạo điều kiện để người lao động lớn tuổi tiếp tục tham gia thị trường lao động phù hợp với năng lực và sức khỏe của mình.
Thách thức thứ ba, thường ít được nhắc tới là nguy cơ bỏ lỡ những động lực phát triển mới được tạo ra từ chính quá trình chuyển đổi nhân khẩu học. Nhiều quốc gia hiện nay đã chuyển từ tư duy coi người cao tuổi là đối tượng thụ hưởng an sinh sang xem đây là một thị trường tiêu dùng và một nguồn lực phát triển quan trọng.
Quá trình già hóa đang thúc đẩy sự phát triển của hàng loạt lĩnh vực mới như chăm sóc dài hạn, y tế chất lượng cao, công nghệ hỗ trợ người cao tuổi, tài chính hưu trí, du lịch nghỉ dưỡng, nhà ở và các dịch vụ sống độc lập. Nếu chậm chuẩn bị, Việt Nam không chỉ đối mặt với sức ép an sinh mà còn có thể bỏ lỡ một không gian tăng trưởng đầy tiềm năng trong tương lai.
AIREC trình diễn thao tác thay tã hoặc ngăn ngừa loét da vì nằm lâu với một nhà nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của Đại học Waseda ở Tokyo. (Ảnh: Reuters)
Bên cạnh đó, già hóa dân số cũng đặt ra yêu cầu phải thiết kế lại hạ tầng xã hội và không gian sống. Từ quy hoạch đô thị, giao thông công cộng, hệ thống y tế cơ sở đến các thiết chế văn hóa, cộng đồng đều cần hướng tới một xã hội thân thiện hơn với người cao tuổi. Đây không chỉ là vấn đề phúc lợi mà còn liên quan trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và khả năng tận dụng nguồn lực của một bộ phận dân số ngày càng lớn.
Nhìn rộng hơn, già hóa dân số không chỉ là một thách thức về nhân khẩu học mà còn là phép thử đối với năng lực quản trị phát triển của quốc gia. Thách thức đặt ra cho Việt Nam không nằm ở một lĩnh vực riêng lẻ, mà là khả năng đồng thời thích ứng về kinh tế, thị trường lao động, an sinh xã hội, hạ tầng và dịch vụ công. Nếu không chuẩn bị sớm, những áp lực nhân khẩu học trong tương lai có thể tác động trực tiếp đến chất lượng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế.
- Phó Giáo sư vừa đề cập đến nguy cơ bỏ lỡ những động lực phát triển mới từ quá trình chuyển đổi nhân khẩu học. Vậy theo ông, đâu là những cơ hội lớn nhất mà Việt Nam có thể khai thác từ xu thế già hóa dân số và vì sao nhiều quốc gia hiện nay đang xem đây như một không gian phát triển mới của nền kinh tế?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Đây chính là góc nhìn mà Việt Nam cần quan tâm nhiều hơn trong thời gian tới. Già hóa dân số sẽ tạo ra những sức ép nhất định đối với an sinh xã hội, thị trường lao động và hệ thống dịch vụ công, nhưng nếu chỉ nhìn dưới góc độ thách thức thì chúng ta sẽ bỏ lỡ một phần rất quan trọng của bức tranh phát triển.
Thực tế, mỗi sự chuyển dịch lớn về cơ cấu dân số đều kéo theo những thay đổi sâu sắc về cách tổ chức nền kinh tế và xã hội. Khi tuổi thọ ngày càng cao, yêu cầu đặt ra không chỉ là tạo ra nhiều của cải hơn, mà còn là xây dựng các thiết chế, dịch vụ công và môi trường sống phù hợp với một xã hội phát triển hơn. Đây chính là cơ hội để các quốc gia nâng cấp chất lượng phát triển và hoàn thiện các nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Khi xã hội già hóa, các chính sách về y tế, nhà ở, giao thông, không gian công cộng hay dịch vụ xã hội đều phải được thiết kế theo hướng lấy con người làm trung tâm hơn, thân thiện hơn và bao trùm hơn.
Nói cách khác, cơ hội lớn nhất mà già hóa dân số mang lại chính là thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng chú trọng nhiều hơn tới chất lượng phát triển. Khi đó, tăng trưởng không chỉ được đo bằng sản lượng hay quy mô GDP, mà còn được phản ánh qua chất lượng dịch vụ, chất lượng môi trường sống và mức độ hạnh phúc của người dân.
Đối với Việt Nam, đây là một cơ hội đặc biệt bởi chúng ta vẫn đang trong giai đoạn dân số vàng và còn một khoảng thời gian nhất định để chuẩn bị. Trong khi đó, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng, tầng lớp trung lưu mở rộng nhanh và nhu cầu về chất lượng sống đang thay đổi rõ rệt. Điều này đang tạo điều kiện thuận lợi để hình thành sớm các thị trường dịch vụ phục vụ người cao tuổi.
Vì vậy, vấn đề không nằm ở quá trình già hóa dân số, mà ở khả năng chuẩn bị của nền kinh tế. Quốc gia nào nhìn thấy sớm những chuyển động của cơ cấu dân số sẽ hình thành được những thị trường và các ngành kinh tế mới, đồng thời có cơ hội xây dựng một mô hình phát triển có chất lượng cao hơn, bao trùm và bền vững hơn trong dài hạn.
- Từ những chuyển động về nhân khẩu học và cấu trúc tiêu dùng như Phó Giáo sư vừa phân tích, có thể thấy già hóa dân số đang gợi mở một cách nhìn mới về giá trị của tăng trưởng. Trên thế giới, xu hướng này thường được khái quát bằng khái niệm "kinh tế bạc" (Silver Economy) và đã phát triển thành một thị trường có quy mô hàng nghìn tỷ USD tại nhiều quốc gia. Vậy theo ông, "kinh tế bạc" cần được hiểu như thế nào trong bối cảnh Việt Nam hiện nay?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Tôi cho rằng nếu chỉ hiểu "kinh tế bạc" là các sản phẩm hay dịch vụ dành cho người cao tuổi thì vẫn còn khá hẹp. Bản chất của kinh tế bạc không nằm ở một ngành nghề cụ thể mà ở sự dịch chuyển của toàn bộ hệ thống sản xuất, dịch vụ và tiêu dùng để thích ứng với một xã hội có tỷ lệ người cao tuổi ngày càng gia tăng. Vì vậy, đây không phải là câu chuyện của riêng lĩnh vực y tế hay an sinh xã hội mà liên quan đến cách nền kinh tế phân bổ nguồn lực, tổ chức thị trường và tạo ra giá trị trong giai đoạn phát triển mới.
Nếu kinh tế số được hình thành từ sự phát triển của công nghệ, kinh tế xanh xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững, thì kinh tế bạc được thúc đẩy bởi những thay đổi về nhân khẩu học. Đây là một xu hướng mang tính dài hạn và hầu như mọi quốc gia có dân số già đều phải chuẩn bị từ rất sớm.
Điểm đáng chú ý nhất của "kinh tế bạc" là nó cho thấy già hóa dân số đang tạo ra những cơ hội mới cho đầu tư, đổi mới sáng tạo và phát triển dịch vụ. Nói cách khác, sự thay đổi của cơ cấu dân số đang từng bước trở thành một trong những yếu tố định hình diện mạo của nền kinh tế trong tương lai.
Với Việt Nam, khi cơ cấu dân số đang chuyển dịch nhanh chóng, "kinh tế bạc" cần được xem là một bộ phận của chiến lược thích ứng với già hóa dân số và nâng cao chất lượng phát triển trong dài hạn.
- Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 19-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu phát triển mạnh "kinh tế bạc" và hệ sinh thái, sản phẩm, dịch vụ cho người cao tuổi. Thưa ông, yêu cầu này phản ánh sự thay đổi như thế nào trong tư duy phát triển của Việt Nam?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Đây là một thay đổi rất đáng chú ý về tư duy phát triển. Trong một thời gian dài, khi nói đến dân số, chúng ta thường quan tâm nhiều tới quy mô lực lượng lao động, việc làm hay tốc độ tăng trưởng kinh tế. Già hóa dân số vì thế thường được nhìn nhận chủ yếu như một sức ép đối với an sinh xã hội và nguồn cung lao động.
Tuy nhiên, khi khái niệm "kinh tế bạc" được đưa vào Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và tiếp tục được khẳng định trọng Nghị quyết số 19-NQ/TW, điều đó cho thấy cách tiếp cận đã có sự dịch chuyển quan trọng, từ "bị động thích ứng với già hóa dân số" sang cách tiếp cận "chủ động biến thách thức nhân khẩu học thành động lực phát triển mới". Đây không còn là câu chuyện hỗ trợ người cao tuổi, mà là nhìn nhận sự già hóa dân số như một xu thế dài hạn cần được tích hợp vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ở một góc độ rộng hơn, điều này cũng phản ánh sự chuyển dịch trong cách nhìn về tăng trưởng và phát triển. Nếu trước đây chúng ta chủ yếu quan tâm tới quy mô kinh tế hay tốc độ tăng trưởng, thì hiện nay ngày càng coi trọng hơn chất lượng phát triển, chất lượng dịch vụ và khả năng đáp ứng những nhu cầu mới của xã hội.
Vì vậy, ý nghĩa sâu hơn của “kinh tế bạc” nằm ở chỗ biến đổi nhân khẩu học bắt đầu được nhìn nhận như một yếu tố cấu thành của mô hình tăng trưởng. Bài toán đặt ra không còn chỉ là làm thế nào để ứng phó với một xã hội ngày càng già hóa, mà là làm thế nào để tổ chức nền kinh tế phù hợp với tuổi thọ ngày càng cao, đồng thời chuyển những thay đổi về cơ cấu dân số thành nguồn lực và năng lực phát triển mới.
- Nếu nhìn từ góc độ cấu trúc kinh tế, kinh tế bạc có thể bao gồm những ngành và lĩnh vực nào, thưa Phó Giáo sư?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Nhìn dưới góc độ cấu trúc kinh tế, kinh tế bạc không phải là một ngành riêng biệt mà là một hệ sinh thái gồm nhiều ngành nghề cùng phát triển để đáp ứng nhu cầu của một xã hội có tuổi thọ ngày càng cao. Điểm đặc biệt là các lĩnh vực này không chỉ phục vụ người cao tuổi mà còn góp phần nâng cao chất lượng sống của toàn xã hội.
Trụ cột đầu tiên và quan trọng nhất là y tế, chăm sóc sức khỏe và chăm sóc dài hạn. Khi tuổi thọ tăng lên, nhu cầu của người dân không chỉ là chữa bệnh mà còn là phòng bệnh, phục hồi chức năng, chăm sóc tại nhà, chăm sóc cộng đồng và duy trì cuộc sống khỏe mạnh trong thời gian dài hơn. Đây là lĩnh vực được nhiều quốc gia xem là nền tảng của kinh tế bạc bởi liên quan trực tiếp đến chất lượng sống và khả năng tham gia xã hội của người cao tuổi.
Người cao tuổi đang được nuôi dưỡng, chăm sóc tại Viện dưỡng lão Tâm An. (Ảnh: vietnam.vnanet.vn)
Trụ cột thứ hai là tài chính, bảo hiểm và các dịch vụ hưu trí. Một xã hội già hóa cần các công cụ tài chính giúp người dân tích lũy, quản lý tài sản và bảo đảm thu nhập trong giai đoạn sau lao động. Trên thế giới, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm chăm sóc dài hạn, các quỹ hưu trí và dịch vụ quản lý tài sản cho người cao tuổi đang trở thành một phân khúc phát triển rất nhanh.
Trụ cột thứ ba là nhà ở và môi trường sống thân thiện với người cao tuổi. Đây không chỉ là câu chuyện của bất động sản dưỡng lão mà rộng hơn là quy hoạch đô thị, giao thông công cộng, không gian công cộng và các dịch vụ cộng đồng phù hợp với một xã hội già hóa. Một môi trường sống được thiết kế phù hợp sẽ góp phần giúp người cao tuổi duy trì cuộc sống độc lập, an toàn và tiếp tục tham gia vào các hoạt động xã hội.
Một lĩnh vực có tiềm năng rất lớn trong tương lai là công nghệ hỗ trợ người cao tuổi. Từ y tế số, thiết bị theo dõi sức khỏe từ xa, trí tuệ nhân tạo, robot hỗ trợ chăm sóc cho đến các ứng dụng hỗ trợ sinh hoạt hằng ngày, công nghệ đang giúp người cao tuổi sống độc lập hơn, an toàn hơn và duy trì sự kết nối với xã hội. Đây cũng là một trong những lĩnh vực đổi mới sáng tạo phát triển nhanh nhất tại các quốc gia có dân số già.
Bên cạnh đó, "kinh tế bạc" còn mở rộng sang du lịch, văn hóa, giáo dục và các dịch vụ nâng cao chất lượng sống. Khi sức khỏe được cải thiện và tuổi thọ kéo dài, nhu cầu học tập suốt đời, du lịch, thể thao, giải trí, giao lưu cộng đồng hay các hoạt động văn hóa của người cao tuổi cũng gia tăng đáng kể. Điều này mở ra những thị trường hoàn toàn mới mà trước đây chưa được chú ý đúng mức.
Theo tôi, điều quan trọng là không nên nhìn những lĩnh vực này như các ngành nghề tách biệt. Trên thực tế, chúng liên kết chặt chẽ với nhau và cùng hình thành một hệ sinh thái phục vụ nhu cầu của xã hội già hóa. Chính sự đa dạng và tính liên kết đó tạo nên phạm vi rất rộng của kinh tế bạc trong bối cảnh hiện nay.
- Vậy trong các lĩnh vực ông vừa phân tích, đâu là những lĩnh vực Việt Nam có nhiều dư địa phát triển nhất và có thể trở thành những thị trường dẫn dắt của kinh tế bạc trong giai đoạn tới?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Nếu phải lựa chọn một lĩnh vực có tiềm năng phát triển mạnh nhất trong giai đoạn tới, tôi cho rằng đó sẽ là hệ sinh thái nhà ở, chăm sóc sức khỏe và dịch vụ an dưỡng dành cho người cao tuổi.
Điều đáng chú ý là các mô hình này ngày nay không còn được hiểu là viện dưỡng lão hay cơ sở chăm sóc người già, mà đang phát triển theo hướng các cộng đồng sống tích hợp, nơi người cao tuổi được tiếp cận đồng thời các dịch vụ y tế, phục hồi chức năng, văn hóa và giao lưu cộng đồng.
Theo tôi, xu hướng này đặc biệt phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Nếu trước đây việc chăm sóc người cao tuổi chủ yếu dựa vào mô hình gia đình nhiều thế hệ, thì hiện nay quy mô hộ gia đình ngày càng thu hẹp, xu hướng di cư lao động và nhịp sống đô thị khiến nhu cầu về các dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp ngày càng gia tăng. Điều đó đặt ra yêu cầu hình thành những mô hình cộng đồng an dưỡng, trung tâm chăm sóc và môi trường sống phù hợp với người cao tuổi.
Nếu nhìn rộng hơn, một khu cộng đồng an dưỡng hiện đại thường kéo theo sự phát triển đồng thời của các dịch vụ y tế, phục hồi chức năng, bảo hiểm, chăm sóc tại nhà, công nghệ theo dõi sức khỏe, dịch vụ dinh dưỡng, văn hóa và giải trí. Chính sự kết nối đó tạo nên một hệ sinh thái kinh tế bạc hoàn chỉnh.
Thực tế, tại Việt Nam một số doanh nghiệp tư nhân đã bắt đầu quan tâm tới lĩnh vực này. Chẳng hạn, Vingroup đang nghiên cứu phát triển mô hình đô thị hưu trí trong khu đô thị lấn biển Cần Giờ (TP.HCM), tích hợp nhà ở, chăm sóc sức khỏe và các hoạt động cộng đồng dành cho người cao tuổi. Đồng thời, tập đoàn này cũng đã hợp tác với một tập đoàn y tế của Nhật Bản để phát triển mô hình trung tâm chăm sóc sức khỏe cao cấp cho người cao tuổi tại một khu đô thị ở Hưng Yên.
Bên cạnh đó, Sun Group cũng bước đầu lồng ghép các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và an dưỡng cho người cao tuổi trong một dự án đại đô thị với quy mô khoảng 420ha tại Hà Nam. Điều này cho thấy khu vực tư nhân đã bắt đầu nhìn thấy tiềm năng của một thị trường mới gắn với xu hướng già hóa dân số.



Vin New Horizon - chuỗi dịch vụ và đô thị hưu trí, dưỡng lão cao cấp đầu tiên tại Việt Nam được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế, dựa trên 6 trụ cột cốt lõi: Sức khỏe - Tận hưởng - Hạnh phúc - Gắn kết - Trường thọ - An nhiên. (Ảnh: Vinhomes Green Paradise)



Sun Urban City kiến tạo không gian sống lý tưởng cho người cao tuổi. (Ảnh: Sun Group)
Tuy nhiên, nếu so với nhu cầu trong tương lai và kinh nghiệm của các quốc gia như Nhật Bản, Singapore hay một số nước châu Âu, lĩnh vực này tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu. Số lượng cơ sở chăm sóc người cao tuổi còn hạn chế, dịch vụ chủ yếu tập trung vào chăm sóc cơ bản, trong khi các mô hình cộng đồng sống tích hợp giữa nhà ở, y tế, phục hồi chức năng, văn hóa và các hoạt động xã hội vẫn chưa phát triển tương xứng.
Không chỉ đáp ứng nhu cầu của một xã hội đang già hóa, các mô hình nhà ở và cộng đồng an dưỡng còn có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa tới nhiều ngành dịch vụ liên quan như y tế, công nghệ, bảo hiểm, du lịch và chăm sóc dài hạn. Nếu được quy hoạch và phát triển bài bản, đây hoàn toàn có thể trở thành một trong những trụ cột quan trọng của kinh tế bạc tại Việt Nam.
- Có ý kiến cho rằng "kinh tế bạc" không chỉ là một lĩnh vực dịch vụ mà còn có thể trở thành một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Ông có góc nhìn như thế nào?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Tôi cho rằng nhận định này hoàn toàn có cơ sở. "Kinh tế bạc" không chỉ là một nhóm dịch vụ dành cho người cao tuổi, mà có thể trở thành một động lực tái cấu trúc khu vực dịch vụ và tạo ra các không gian tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Trước hết, "kinh tế bạc" mở ra những không gian tăng trưởng mới cho khu vực dịch vụ và thúc đẩy sự hình thành của nhiều ngành nghề có giá trị gia tăng cao.
Thứ hai, "kinh tế bạc" tạo động lực để nâng cấp hệ thống dịch vụ của nền kinh tế. Khi nhu cầu của người dân ngày càng cao về sức khỏe, chăm sóc, an toàn và chất lượng sống, các doanh nghiệp không thể cạnh tranh chỉ bằng giá rẻ mà phải cạnh tranh bằng chất lượng, công nghệ và trải nghiệm dịch vụ. Điều đó góp phần nâng cao giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Thứ ba, "kinh tế bạc" góp phần khai thác hiệu quả hơn nguồn lực con người. Với kinh nghiệm, tri thức và vốn xã hội tích lũy qua nhiều năm, người cao tuổi vẫn có thể tiếp tục tham gia tư vấn, đào tạo, nghiên cứu hoặc các hoạt động cộng đồng phù hợp. Đây là nguồn lực rất đáng quý trong bối cảnh nhiều quốc gia đang đối mặt với nguy cơ thiếu hụt lao động có kỹ năng.
Quan trọng hơn, "kinh tế bạc" thúc đẩy sự phát triển của một xã hội coi trọng chất lượng sống và phát triển con người. Khi sức khỏe, giáo dục suốt đời, môi trường sống và các dịch vụ cộng đồng trở thành những lĩnh vực được đầu tư nhiều hơn, lợi ích không chỉ thuộc về người cao tuổi mà lan tỏa tới toàn bộ xã hội. Điều này giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và sức chống chịu của nền kinh tế trong dài hạn.
Vì vậy, theo tôi, giá trị lớn nhất của "kinh tế bạc" là tạo động lực để nền kinh tế chuyển sang mô hình phát triển có chất lượng cao hơn, sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực con người và thích ứng tốt hơn với những thay đổi dài hạn của cơ cấu dân số.
- Trong số những lĩnh vực của "kinh tế bạc", bất động sản dưỡng lão bán trú cũng đang được nhiều quốc gia xem là một hướng phát triển rất tiềm năng. Theo Phó Giáo sư, vì sao loại hình này ngày càng được quan tâm và có thể trở thành một phần quan trọng của hạ tầng chăm sóc người cao tuổi trong tương lai?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Sự quan tâm ngày càng lớn đối với mô hình dưỡng lão bán trú phản ánh một sự thay đổi quan trọng trong cách các quốc gia tiếp cận vấn đề già hóa dân số. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là điều trị bệnh và bảo đảm an sinh, thì hiện nay ngày càng chú trọng hơn tới việc duy trì chất lượng sống và sự tham gia của người cao tuổi vào đời sống cộng đồng.
Chính vì vậy, nhiều quốc gia đang từng bước chuyển trọng tâm của hệ thống chăm sóc từ các cơ sở y tế tập trung sang các dịch vụ dựa vào cộng đồng. Mục tiêu không chỉ là chăm sóc người cao tuổi mà còn hỗ trợ họ duy trì sức khỏe và phòng ngừa nguy cơ suy giảm chức năng ngay từ sớm.
Ở góc độ đó, dưỡng lão bán trú được xem như một mắt xích quan trọng của hệ thống chăm sóc dài hạn. Mô hình này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng sống của người cao tuổi mà còn giúp giảm áp lực cho bệnh viện, cơ sở điều dưỡng lưu trú và hệ thống an sinh trong bối cảnh dân số già hóa nhanh.
Theo tôi, đây cũng là lý do nhiều quốc gia ngày nay coi dưỡng lão bán trú là một bộ phận của hạ tầng chăm sóc và hạ tầng chất lượng sống trong xã hội tuổi thọ cao.
- Ở Việt Nam, khái niệm dưỡng lão bán trú còn khá mới. Theo ông, mô hình này có thể được hiểu như thế nào và khác gì so với các trung tâm dưỡng lão truyền thống?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Trên thế giới, dưỡng lão bán trú là một mô hình đã được triển khai khá phổ biến trong hệ thống chăm sóc người cao tuổi. Có thể hiểu một cách đơn giản, đây là mô hình mà người cao tuổi đến trung tâm vào ban ngày để được theo dõi sức khỏe, tham gia các hoạt động vận động, phục hồi chức năng, sinh hoạt văn hóa và giao lưu cộng đồng, sau đó trở về sống cùng gia đình vào buổi tối.
Điểm khác biệt quan trọng của mô hình này so với các cơ sở dưỡng lão lưu trú truyền thống là mục tiêu không phải thay thế vai trò của gia đình. Ngược lại, dưỡng lão bán trú được xây dựng trên nguyên tắc kết hợp giữa chăm sóc chuyên nghiệp với sự gắn kết gia đình và cộng đồng. Người cao tuổi vẫn được sống trong môi trường quen thuộc, duy trì các mối quan hệ xã hội và đời sống tinh thần của mình, đồng thời được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc cần thiết.
Khác với các cơ sở dưỡng lão lưu trú dài hạn, dưỡng lão bán trú tạo ra một hình thức chăm sóc linh hoạt hơn, trong đó người cao tuổi được tiếp cận các dịch vụ chuyên môn vào ban ngày nhưng vẫn duy trì cuộc sống thường nhật tại gia đình.
Một ưu điểm đáng chú ý là mô hình này có khả năng tiếp cận rộng hơn nhờ chi phí đầu tư và vận hành thấp hơn so với các khu an dưỡng lưu trú dài hạn. Đồng thời, nó cũng tạo ra nhu cầu đối với nhiều dịch vụ liên quan như y tế, phục hồi chức năng, dinh dưỡng, vận động trị liệu và chăm sóc cộng đồng.
Nói cách khác, dưỡng lão bán trú không phải là sự thay thế cho các cơ sở dưỡng lão truyền thống, mà là một mô hình bổ sung, góp phần đa dạng hóa hệ thống chăm sóc người cao tuổi và đáp ứng tốt hơn những nhu cầu ngày càng khác biệt của xã hội già hóa.




Cơ sở dưỡng lão bán trú công lập đầu tiên tại Hà Nội đặt tại số 1, ngõ 307 Thạch Bàn, Long Biên nhận được phản hồi rất tích cực với nhu cầu đăng ký đang ngày càng tăng cao. (Ảnh: Phan Phương/TTXVN)
- Ông có cho rằng dưỡng lão bán trú là mô hình khá phù hợp với điều kiện văn hóa của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh đô thị hóa và sự thay đổi của cấu trúc gia đình hiện nay?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Theo tôi, mô hình dưỡng lão bán trú khá phù hợp với điều kiện của Việt Nam trước hết bởi nó dung hòa được hai yếu tố vốn rất quan trọng trong xã hội Á Đông: Vai trò của gia đình và nhu cầu chăm sóc chuyên nghiệp.
Từ lâu, gia đình luôn giữ vị trí trung tâm trong đời sống của người Việt. Việc chăm sóc cha mẹ, ông bà không chỉ là trách nhiệm mà còn gắn với những giá trị văn hóa và truyền thống của nhiều thế hệ. Vì vậy, phần lớn các gia đình vẫn mong muốn người cao tuổi tiếp tục được sống trong môi trường quen thuộc thay vì chuyển hoàn toàn sang các cơ sở lưu trú dài hạn.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý là cấu trúc gia đình Việt Nam đang có nhiều thay đổi. Quy mô hộ gia đình ngày càng thu hẹp, tốc độ đô thị hóa nhanh hơn, trong khi áp lực công việc khiến nhiều gia đình không còn đủ thời gian và điều kiện để chăm sóc người cao tuổi theo cách truyền thống như trước đây. Nói cách khác, nhu cầu chăm sóc tăng lên nhưng năng lực chăm sóc của từng gia đình lại có xu hướng giảm xuống.
Chính khoảng trống này tạo ra dư địa cho các mô hình dưỡng lão bán trú phát triển. Đây có thể được xem là một giải pháp trung gian giữa chăm sóc hoàn toàn tại nhà và chăm sóc lưu trú dài hạn, giúp gia đình có thêm sự hỗ trợ chuyên môn nhưng vẫn giữ được vai trò trung tâm trong việc chăm sóc người cao tuổi.
Một điểm đáng lưu ý khác là Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhưng nguồn lực dành cho hệ thống chăm sóc người cao tuổi vẫn còn hạn chế. Vì vậy, những mô hình linh hoạt, chi phí hợp lý và có khả năng tiếp cận rộng như dưỡng lão bán trú sẽ phù hợp hơn với điều kiện thực tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Như vừa phân tích, dưỡng lão bán trú có thể đáp ứng khá tốt những thay đổi trong cấu trúc gia đình và nhu cầu chăm sóc người cao tuổi tại Việt Nam. Nếu được phát triển đúng hướng, theo ông bất động sản dưỡng lão bán trú có thể trở thành một phân khúc thị trường ổn định và bền vững của ngành bất động sản trong tương lai?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Tôi cho rằng hoàn toàn có cơ sở để nhìn nhận đây là một phân khúc có tiềm năng phát triển ổn định và dài hạn. Tuy nhiên, muốn đánh giá đúng triển vọng của lĩnh vực này thì trước hết cần nhìn đúng bản chất của nó.
Dưỡng lão bán trú là một mô hình dịch vụ gắn với chăm sóc sức khỏe, chăm sóc cộng đồng và nâng cao chất lượng sống của người cao tuổi. Chính vì vậy, giá trị cốt lõi của mô hình này phải nằm ở chất lượng dịch vụ và khả năng đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy các mô hình dưỡng lão thành công thường được vận hành như một hệ sinh thái dịch vụ, trong đó bất động sản chỉ là nền tảng vật chất, còn yếu tố quyết định sức hấp dẫn và khả năng phát triển bền vững lại nằm ở chất lượng chăm sóc và trải nghiệm của người sử dụng.
Nếu nhìn dưới góc độ thị trường, đây là một phân khúc có đặc điểm khá khác biệt so với nhiều loại hình bất động sản truyền thống. Nhu cầu của phân khúc này không chủ yếu xuất phát từ chu kỳ đầu tư hay biến động tâm lý thị trường, mà gắn với những thay đổi mang tính dài hạn của cơ cấu dân số. Khi tuổi thọ tăng lên, quy mô dân số cao tuổi ngày càng lớn và yêu cầu về chất lượng sống ngày càng cao, nhu cầu đối với các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ cuộc sống cũng sẽ tăng tương ứng. Đó là nền tảng tạo nên tính ổn định tương đối của thị trường này trong dài hạn.
Sự phát triển của phân khúc này cũng đang mở ra một cách thức tạo lập giá trị khác đối với doanh nghiệp bất động sản. Nếu như trước đây doanh thu chủ yếu được tạo ra tại thời điểm bán sản phẩm, thì với những mô hình như dưỡng lão bán trú, giá trị lại được hình thành từ quá trình vận hành và cung cấp dịch vụ trong thời gian dài.
Điều đó giúp doanh nghiệp từng bước xây dựng nguồn thu ổn định hơn, giảm phụ thuộc vào các chu kỳ lên xuống của thị trường và nâng cao khả năng phát triển bền vững trong dài hạn.
Vì vậy, dưỡng lão bán trú có thể trở thành động lực hình thành một phân khúc mới của thị trường, đồng thời gợi mở những mô hình tăng trưởng mới cho doanh nghiệp bất động sản trong tương lai.
- Nhìn rộng hơn, khi các nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, phúc lợi và chất lượng sống ngày càng trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế, theo ông sự phát triển của những mô hình như dưỡng lão bán trú có đang đặt ra một cách tiếp cận mới đối với thị trường bất động sản - từ một lĩnh vực chủ yếu gắn với giá trị tài sản sang một lĩnh vực gắn với dịch vụ xã hội và chất lượng sống hay không?
PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Từ góc nhìn của tôi, mô hình này có thể góp phần thay đổi cách nhìn về thị trường bất động sản, bởi nó đặt bất động sản trở lại với chức năng gốc của nó, đó là phục vụ đời sống con người.
Trong một thời gian dài, bất động sản ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam thường được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ tài sản đầu tư. Giá trị của dự án nhiều khi được đo bằng khả năng tăng giá, khai thác thương mại hoặc hiệu quả tài chính trong ngắn hạn. Tuy nhiên, khi xã hội bước vào giai đoạn già hóa và nhu cầu về các dịch vụ chăm sóc con người ngày càng lớn, bất động sản bắt đầu xuất hiện một vai trò khác, đó là trở thành hạ tầng phục vụ chất lượng sống và phúc lợi xã hội.
Trong bối cảnh đó, những mô hình như dưỡng lão bán trú cho thấy bất động sản có thể đảm nhiệm một vai trò rộng hơn. Đây không chỉ là việc xây dựng thêm một công trình hay một dự án mới, mà là tạo ra những không gian đáp ứng các nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội. Giá trị của bất động sản khi đó bên cạnh nằm ở tài sản vật chất còn nằm ở những dịch vụ, tiện ích và lợi ích xã hội mà nó tạo ra cho cộng đồng.
(Ảnh minh họa: Phan Phương/TTXVN)
Bên cạnh đó, quá trình già hóa dân số cũng đang mở rộng cách hiểu về hạ tầng đô thị trong tương lai. Nếu trước đây khi nói đến hạ tầng xã hội, chúng ta thường nghĩ tới trường học, bệnh viện hay công viên, thì trong tương lai, các trung tâm chăm sóc người cao tuổi, cộng đồng an dưỡng hay các không gian phục vụ người cao tuổi cũng sẽ trở thành một bộ phận quan trọng của đô thị hiện đại.
Nói cách khác, ý nghĩa lớn nhất của phân khúc này không nằm ở việc hình thành thêm một loại hình bất động sản mới, mà ở chỗ nó phản ánh sự chuyển dịch của ngành bất động sản từ tư duy lấy tài sản làm trung tâm sang tư duy lấy con người và chất lượng sống làm trung tâm trong một xã hội đang già hóa.
Có thể thấy, từ một thách thức về nhân khẩu học, già hóa dân số đang dần được nhìn nhận như một động lực phát triển mới và là cơ sở hình thành những thị trường hoàn toàn mới trong nền kinh tế. Từ y tế, chăm sóc dài hạn, công nghệ hỗ trợ người cao tuổi đến các mô hình cộng đồng an dưỡng và bất động sản gắn với chăm sóc sức khỏe, những nhu cầu của xã hội sống thọ đang mở ra không gian phát triển đầy triển vọng cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Tuy nhiên, tiềm năng thị trường mới chỉ là điểm khởi đầu. Để kinh tế bạc thực sự trở thành một động lực tăng trưởng mới, điều quan trọng hơn là xây dựng được một hệ sinh thái phát triển đồng bộ với sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng; từ thể chế, chính sách, nguồn nhân lực đến các mô hình dịch vụ phù hợp với điều kiện văn hóa và khả năng chi trả của người dân.
Vậy Việt Nam cần chuẩn bị những điều kiện gì để biến những cơ hội từ xã hội già hóa thành động lực phát triển thực sự? Khu vực tư nhân sẽ đóng vai trò ra sao? Và đâu là những kinh nghiệm quốc tế có thể tham khảo trong quá trình xây dựng hệ sinh thái kinh tế bạc? Những nội dung này sẽ tiếp tục được PGS. TSKH. Võ Đại Lược phân tích trong phần tiếp theo của cuộc trao đổi với Reatimes.
[2] https://www.vietnamplus.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-cuoc-gap-mat-85-nguoi-cao-tuoi-tieu-bieu-toan-quoc-post1114765.vnp

