Liên kết vùng trong mô hình phát triển mới: Từ phối hợp địa phương đến phân bổ nguồn lực theo không gian kinh tế

Liên kết vùng trong mô hình phát triển mới: Từ phối hợp địa phương đến phân bổ nguồn lực theo không gian kinh tế

Thứ Sáu, 11/09/2026 - 06:08

Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển với yêu cầu tăng trưởng cao, trong đó mục tiêu GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10%/năm trở lên đặt ra bài toán lớn đối với khả năng huy động và đặc biệt là hiệu quả sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế. Dư địa tăng trưởng không thể chỉ đến từ việc gia tăng vốn đầu tư mà yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển, khai thác tốt hơn các lợi thế, tiềm năng của các địa phương, phân bổ nguồn lực phù hợp cũng trở nên cấp thiết. Nhất là khi, khoảng cách từ một vùng được xác lập trên quy hoạch đến một không gian kinh tế thực sự liên thông vẫn là rào cản lớn.

Trước những mục tiêu phát triển mới, yêu cầu đặt ra là phải khai thác hiệu quả hơn từng nguồn lực, từng bước tháo gỡ sự phân mảnh để các địa phương không chỉ được kết nối bằng những tuyến giao thông, mà thực sự liên thông về nguồn lực, thị trường và chuỗi giá trị. Liên kết vùng hiệu quả cũng có thể mở ra những dư địa phát triển mới, giúp mỗi địa phương xác định rõ hơn lợi thế, vai trò và hướng đi riêng trong một không gian kinh tế lớn hơn, cùng hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới xác định quan điểm tổ chức lại không gian phát triển quốc gia thống nhất trên cơ sở xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng trong tổng thể phát triển đất nước theo hướng bền vững. Đồng thời, phát huy liên kết, bổ trợ và lan tỏa giữa các vùng, vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và các trung tâm kinh tế; khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trong giới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường, khắc phục tư duy cục bộ, phát triển dàn trải, trùng lặp.

Theo định hướng này, phát triển không còn chủ yếu được nhìn trong giới hạn địa giới hành chính, mà phải dựa trên chức năng, tiềm năng, lợi thế và mối liên kết giữa các vùng, các ngành. Các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và những không gian có khả năng tạo sức lan tỏa được đặt vào vị trí quan trọng hơn; nguồn lực cũng được yêu cầu tập trung vào những nhiệm vụ, công trình nền tảng, thiết yếu và những khu vực có khả năng dẫn dắt.

Xung quanh vấn đề này, Tạp chí Bất động sản Việt Nam (Reatimes) đã có cuộc trao đổi với PGS. TS. Ngô Thị Phương Thảo, Trưởng khoa Bất động sản và Kinh tế tài nguyên, Đại học Kinh tế Quốc dân để làm rõ hơn sự chuyển biến trong tư duy phát triển vùng, những điểm nghẽn cần tháo gỡ và yêu cầu cấp thiết về phân bổ nguồn lực hợp lý trong không gian phát triển mới.

- Thưa bà, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt ra yêu cầu "tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng đa tầng, đa cực", đồng thời "chuyển từ phát triển theo địa giới hành chính sang phát triển theo chức năng, tiềm năng, lợi thế, điều kiện tài nguyên - môi trường và liên kết vùng, liên kết ngành, gắn với bảo đảm tự chủ chiến lược quốc gia, nâng cao khả năng chống chịu của các vùng, cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế và các chuỗi cung ứng trọng yếu". Như vậy, yêu cầu này đã đặt ra sự thay đổi căn bản trong tư duy hoạch định chiến lược phát triển của mỗi địa phương?

PGS. TS. Ngô Thị Phương Thảo: Theo tôi, điểm thay đổi căn bản chính là chúng ta đang chuyển từ tư duy “mỗi địa phương là một nền kinh tế tương đối khép kín” sang tư duy “mỗi địa phương là một bộ phận của một hệ thống kinh tế lớn hơn”. Thực tế, từ trước đến nay, khi phát triển chủ yếu theo địa giới hành chính, địa phương thường có xu hướng tối đa hóa các chỉ tiêu của riêng mình như cố gắng có đủ khu công nghiệp, khu đô thị, trung tâm logistics, trường đại học, bệnh viện lớn trong một tỉnh thành, thậm chí giữa các địa phương cùng cạnh tranh để thu hút những loại dự án tương tự nhau. Cách làm này từng có tác dụng trong giai đoạn cần phát huy tính chủ động của địa phương, song cần nhìn nhận rằng nếu kéo dài sẽ dẫn đến phân tán nguồn lực, đầu tư trùng lặp và làm giảm hiệu quả quy mô.

Trong mô hình mới, đơn vị cơ bản của tư duy phát triển không còn chỉ là tỉnh hay thành phố, mà là cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, cụm ngành, hệ thống đô thị, lưu vực, vùng sinh thái, mạng logistics và chuỗi giá trị. Chính vì thế, các địa phương cần đặt ra các câu hỏi khác so với trước đây: Địa phương đang nằm ở đâu trong chuỗi giá trị của vùng? Chức năng nào địa phương có lợi thế nhất? Loại hạ tầng nào cần tự đầu tư, loại hạ tầng nào nên chia sẻ, dùng chung? Nguồn nhân lực, đất đai, vốn, công nghệ và dữ liệu có thể luân chuyển như thế nào trong cả vùng?... Đây chính là sự chuyển đổi tư duy từ “quản lý lãnh thổ” sang “quản trị không gian kinh tế”.

Quan điểm này hiện đã được cụ thể hóa hơn trong Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW). Nghị quyết xác định rất rõ rằng “phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới”. Việc tổ chức lại không gian phải dựa trên vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước theo hướng bền vững, đồng thời phát huy quan hệ liên kết, bổ trợ và lan tỏa giữa các vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị. Như vậy, vùng không còn chỉ là một tầng trung gian giữa Trung ương và địa phương, mà trở thành một không gian để tổ chức tăng trưởng và phân bổ nguồn lực.

Nhìn ở góc độ kinh tế học, lý do của sự chuyển đổi này khá rõ. Năng suất của một doanh nghiệp hay một địa phương không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực nội tại, mà còn chịu tác động rất lớn từ khu vực xung quanh: Quy mô thị trường lao động, mạng lưới nhà cung cấp, khả năng tiếp cận cảng biển và sân bay, các trường đại học, viện nghiên cứu, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và thị trường tiêu dùng. Đó là những lợi ích của kinh tế tích tụ và kinh tế mạng lưới. Nếu ranh giới hành chính cắt ngang các dòng chảy kinh tế này thì chính sách phát triển cũng dễ bị chia cắt.

Liên kết vùng trong mô hình phát triển mới: Từ phối hợp địa phương đến phân bổ nguồn lực theo không gian kinh tế - Ảnh 1.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không gian kinh tế thực tế không phải lúc nào cũng trùng với địa giới hành chính. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Ủy ban châu Âu sử dụng khái niệm “vùng đô thị chức năng” (Functional Urban Area - FUA), gồm một đô thị và vùng đi lại lao động xung quanh, qua đó phản ánh phạm vi kinh tế và chức năng thực tế của đô thị dựa trên các dòng di chuyển hằng ngày. Cách tiếp cận này xuất phát từ thực tế các mối liên hệ về việc làm, mạng lưới doanh nghiệp và hệ thống sản xuất thường vượt qua ranh giới hành chính địa phương.

Điều đó cũng đòi hỏi sự thay đổi trong cách đánh giá năng lực của địa phương. Không nên chỉ dựa vào số lượng dự án hay GRPD của địa phương tăng lên bao nhiêu mà cần chú ý hơn đến giá trị gia tăng mà dự án đó tạo ra cho chuỗi vùng, các chi phí logistics được cắt giảm đi bao nhiêu, có góp phần tăng năng suất của doanh nghiệp ở các địa phương khác không. Bên cạnh đó, các vấn đề về bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên cũng cần được chú trọng. Thực tế, một dự án xử lý nước thải, một tuyến giao thông, một trung tâm logistics có thể đặt trên địa bàn một tỉnh nhưng lợi ích có thể lan tỏa ra cả vùng. 

- Như bà vừa phân tích, khi địa phương không còn được nhìn như một không gian phát triển tương đối khép kín mà là một bộ phận trong cấu trúc kinh tế vùng, thì yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng cường kết nối mà còn phải xác định rõ vị trí và vai trò của từng địa phương trong tổng thể chung. Theo bà, việc "định vị" đó cần dựa trên những căn cứ nào để mỗi địa phương vừa phát huy được lợi thế riêng, vừa tạo được sự bổ trợ với các địa phương khác trong vùng?

PGS. TS. Ngô Thị Phương Thảo: Trước hết, tôi cho rằng việc xác định vai trò của một địa phương trong vùng phải dựa trên “lợi thế so sánh động”, chứ không chỉ nhìn vào những gì địa phương đang có. Lợi thế không phải là một khái niệm bất biến. Một địa phương nằm xa chuỗi giá trị có thể trở thành một nút logistics quan trọng khi hệ thống cao tốc, đường sắt hay cảng biển thay đổi; một địa phương có nền sản xuất truyền thống có thể dịch chuyển lên các khâu thiết kế, R&D hoặc dịch vụ kỹ thuật nếu hình thành được nguồn nhân lực, trường đại học và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Vì vậy, quy hoạch vùng vừa phải nhận diện cấu trúc kinh tế đang tồn tại, vừa phải nhìn thấy những lợi thế mới có thể được tạo ra bởi hạ tầng, công nghệ, thị trường và quá trình tích tụ doanh nghiệp trong tương lai. Nói cách khác, không chỉ nhìn vào hiện tại mà còn đo lường, tính toán được các tiềm năng hình thành trong tương lai.

Theo tôi, có thể nhìn vai trò của một địa phương qua ít nhất 5 nhóm căn cứ. Thứ nhất là vị trí trong mạng lưới kết nối: Khoảng cách và thời gian thực tế đến cảng biển, sân bay, cửa khẩu, tuyến đường sắt, cao tốc và thị trường lớn. Thứ hai là cấu trúc doanh nghiệp và chuỗi cung ứng hiện hữu: Địa phương đang có ngành nào đủ độ dày để hình thành một cụm doanh nghiệp và tạo hiệu ứng lan tỏa. Thứ ba là chất lượng nguồn nhân lực, hệ thống đại học, viện nghiên cứu và năng lực hấp thụ công nghệ. Thứ tư là các nguồn tài nguyên đặc thù, bao gồm đất đai, nước, biển, sinh thái, năng lượng và tài nguyên văn hóa. Thứ năm là khả năng chịu tải của hạ tầng và môi trường. Một vùng không thể phát triển bền vững nếu tất cả các địa phương đều đồng thời theo đuổi những ngành sử dụng nhiều đất, nước và năng lượng.

Việc Chính phủ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch 6 vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 ngày 4/4/2026 đã bắt đầu cho thấy rõ hướng tiếp cận này trong tổ chức không gian phát triển. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, cả nước còn 34 tỉnh, thành phố và quy mô của nhiều địa phương đã lớn hơn đáng kể. Điều đó làm thay đổi "bản đồ lợi thế" và cũng buộc phải tính lại quan hệ vùng. Ví dụ, Quy hoạch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên mới nhấn mạnh liên kết “biển - cao nguyên - biên giới”. Cách mô tả này rất quan trọng bởi giá trị của vùng không nằm ở từng không gian riêng rẽ mà ở khả năng nối sản xuất nông nghiệp, năng lượng và khoáng sản ở cao nguyên với công nghiệp chế biến, đô thị, logistics, cảng biển và thị trường quốc tế ở duyên hải.

Nghị quyết số 27-NQ/TW yêu cầu bố trí, sắp xếp không gian phát triển vùng, trong đó có các tiểu vùng và địa phương phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu của các cực tăng trưởng; đồng thời khắc phục tư duy cục bộ, phát triển dàn trải, trùng lặp.

Về thực thi, tôi cho rằng mỗi địa phương nên xây dựng một sơ đồ chức năng kinh tế, thay vì chỉ có một danh mục các dự án. Sơ đồ đó cần trả lời 3 câu hỏi: Địa phương đang giữ khâu nào trong chuỗi giá trị; những nút thắt nào đang cản trở kết nối với các địa phương khác; và những chức năng nào nên được tổ chức dùng chung ở cấp vùng.

Liên kết vùng trong mô hình phát triển mới: Từ phối hợp địa phương đến phân bổ nguồn lực theo không gian kinh tế - Ảnh 2.

- Khi nói đến liên kết vùng, điều dễ nhận thấy nhất thường là các tuyến cao tốc, vành đai, cảng biển hay sân bay kết nối các địa phương. Tuy nhiên, Nghị quyết số 19 còn đặt yêu cầu phát triển các thị trường vốn, đất đai, công nghệ, dữ liệu và lao động theo hướng liên thông; đồng thời kết nối logistics với cảng biển, cửa khẩu, sân bay, đường sắt, cao tốc, khu công nghiệp và các hành lang kinh tế. Nếu những dòng chảy này thực sự được kết nối trong một không gian vùng thống nhất, theo bà, tác động lớn nhất đối với tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế sẽ là gì?

PGS. TS. Ngô Thị Phương Thảo: Thứ nhất, khi các nguồn lực về vốn, nhân lực, đất đai, công nghệ và hạ tầng liên kết chặt chẽ với nhau, năng suất tổng thể của nền kinh tế sẽ được nâng lên. Hạ tầng giao thông là điều kiện cần bởi chúng giúp giảm thời gian đi lại, tăng lưu lượng vận tải, nhưng liên kết vùng chỉ thực sự tạo ra tăng trưởng khi nó giúp vốn, lao động, đất đai, công nghệ, dữ liệu và hàng hóa được phân bổ đến nơi sử dụng hiệu quả hơn. 

Tăng trưởng dài hạn không chỉ đến từ việc đưa thêm vốn và lao động vào nền kinh tế, mà còn đến từ việc sử dụng cùng một lượng nguồn lực hiệu quả hơn. Nếu một lao động có kỹ năng không thể đến nơi có công việc phù hợp vì giao thông và nhà ở không đáp ứng; nếu một doanh nghiệp có dự án tốt nhưng khó tiếp cận vốn; nếu đất quanh các đầu mối giao thông bị sử dụng với hiệu suất thấp; hay dữ liệu về logistics, đất đai, việc làm và chuỗi cung ứng bị chia cắt theo địa phương thì nền kinh tế phải chịu một lượng chi phí giao dịch rất lớn. Kết nối được các dòng chảy đó chính là giảm “ma sát” của nền kinh tế và qua đó nâng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP).

Có thể hình dung một hành lang cao tốc. Nếu chỉ có con đường, giá trị tạo thêm chủ yếu nằm ở việc rút ngắn thời gian và giảm chi phí vận tải. Nhưng để hạ tầng tạo ra tác động lớn hơn, cần thêm nhiều điều kiện đi kèm. Dọc hành lang phải có quỹ đất công nghiệp được bố trí hợp lý, các trung tâm logistics kết nối với cảng biển hoặc đường sắt, cơ sở đào tạo cung cấp lao động và nguồn điện đáp ứng nhu cầu sản xuất. Bên cạnh đó là dữ liệu vận tải dùng chung và hệ thống doanh nghiệp cung ứng đủ khả năng hình thành chuỗi. Khi các yếu tố này được kết nối đồng bộ, một tuyến cao tốc có thể tạo điều kiện hình thành cả một cụm sản xuất mới. Khi đó, hạ tầng không chỉ “nối hai điểm”, mà còn mở rộng quy mô thị trường và làm tăng lợi tức của đầu tư tư nhân.

Thực tế cơ cấu tăng trưởng cũng cho thấy vai trò rất lớn của các không gian kinh tế có mật độ hoạt động cao. Năm 2025, Đồng bằng sông Hồng tăng GRDP 9,74% và đóng góp 36,41% vào tăng trưởng chung của cả nước; Đông Nam Bộ đóng góp 31,40%. Như vậy, riêng hai vùng đã tạo ra khoảng 67,8% mức tăng của nền kinh tế. Năm địa phương có quy mô kinh tế lớn gồm Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đồng Nai và Bắc Ninh đóng góp tới 55,4% tăng trưởng cả nước. Những con số này phản ánh vai trò đặc biệt của các vùng động lực và các cực tăng trưởng đối với tăng trưởng quốc gia. Trong bối cảnh đó, việc nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng lan tỏa của các cực này tới không gian xung quanh càng có ý nghĩa quan trọng.

Hiệu ứng thứ hai là kinh tế tích tụ. Doanh nghiệp thường có xu hướng tạo ra năng suất cao hơn khi được hoạt động trong một hệ sinh thái có nhiều nhà cung cấp, khách hàng, lao động chuyên môn và các dịch vụ hỗ trợ. Tuy nhiên, nếu mọi hoạt động đều tập trung quá mức vào đô thị lõi thì giá đất, giá nhà, các vấn đề về giao thông và các chi phí môi trường sẽ gia tăng. Liên kết vùng tốt giúp mở rộng phạm vi của kinh tế tích tụ. Doanh nghiệp không nhất thiết phải tập trung trong cùng một địa phương mà vẫn có thể chia sẻ thị trường lao động, hệ thống nhà cung cấp, dịch vụ logistics và các nguồn lực khác nếu hạ tầng kết nối thuận lợi. Nói cách khác, hạ tầng và thị trường liên thông có thể “kéo giãn” lợi ích của đô thị hóa ra quy mô vùng.

Liên kết vùng trong mô hình phát triển mới: Từ phối hợp địa phương đến phân bổ nguồn lực theo không gian kinh tế - Ảnh 3.

Điểm đầu dự án cao tốc Bến Lức - Long Thành tại nút giao Mỹ Yên (Tây Ninh), tuyến đường kết nối trực tiếp với đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương và đường vành đai 3 TP.HCM. (Ảnh: Thuận Văn)

Hiệu ứng thứ ba là tăng khả năng chống chịu. Một chuỗi cung ứng được tổ chức theo vùng, có nhiều tuyến vận tải, nhiều nguồn cung, hệ thống logistics và thị trường lao động linh hoạt sẽ có khả năng thích ứng tốt hơn khi một điểm trong mạng lưới bị ảnh hưởng bởi thiên tai, ách tắc hoặc biến động thị trường. Với Việt Nam, điều này ngày càng quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu, chuyển đổi xanh và những rủi ro từ sự thay đổi của thương mại quốc tế đang cùng lúc tác động đến lựa chọn địa điểm đầu tư và tổ chức chuỗi cung ứng.

Do đó, thước đo của liên kết vùng không nên chỉ là số kilômét cao tốc hay số lượng dự án liên tỉnh. Cần từng bước đo được thời gian và chi phí logistics từ nhà máy đến cảng, quy mô thị trường lao động có thể tiếp cận trong một khoảng thời gian nhất định, mức độ dịch chuyển lao động giữa các địa phương, tỷ lệ vận tải đa phương thức, mức độ chia sẻ dữ liệu và tỷ lệ doanh nghiệp địa phương tham gia các chuỗi cung ứng vùng. Khi những chỉ tiêu này cải thiện, chúng ta mới có thể nói rằng hạ tầng đã thực sự được chuyển hóa thành năng suất và tăng trưởng.

- Thưa bà, việc có quy hoạch vùng, Hội đồng điều phối và các định hướng liên kết mới chỉ là nền tảng ban đầu. Bà đánh giá như thế nào về mức độ liên kết thực chất giữa các địa phương hiện nay?

PGS. TS. Ngô Thị Phương Thảo: Nghị quyết số 27-NQ/TW đã chỉ ra rõ phát triển các vùng hiện nay vẫn chưa đạt mục tiêu; quy hoạch còn chồng lấn, thiếu đồng bộ, thiếu liên kết; kết cấu hạ tầng vẫn là điểm nghẽn; hành lang kinh tế và cụm liên kết ngành phát triển chậm; một số đô thị lớn, cực tăng trưởng chưa phát huy đầy đủ vai trò hạt nhân và lan tỏa; đặc biệt, “liên kết vùng còn yếu và chưa hiệu quả”.

Theo tôi, từ những đánh giá đó cho thấy chúng ta hiện đang ở giữa quá trình chuyển từ “vùng quy hoạch” sang “vùng kinh tế”. Dù đã có đường nét tương đối rõ về không gian vùng, nhưng các công cụ thực thi vẫn chủ yếu nằm ở các bộ, ngành và chính quyền địa phương. Hội đồng điều phối vùng là tổ chức phối hợp liên ngành, không phải một cấp chính quyền và cũng không có một ngân sách vùng độc lập. Trong nhiều trường hợp, quyết định vẫn cần dựa trên sự phối hợp hoặc đồng thuận giữa các địa phương; khi lợi ích chưa gặp nhau thì hiệu quả điều phối sẽ khó đạt như kỳ vọng.

Bản thân Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng yêu cầu phải “đổi mới mạnh mẽ mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Hội đồng điều phối vùng theo hướng thực chất, hiệu lực, hiệu quả”; đồng thời xác định xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng đủ mạnh là một khâu đột phá, bảo đảm liên thông trong quy hoạch, đầu tư, hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực. Điều này cho thấy giai đoạn tới không chỉ là tiếp tục hoàn thiện quy hoạch, mà phải nâng năng lực thực thi của các thiết chế và cơ chế điều phối vùng.

Một vấn đề khác cũng cần được chú ý là cấu trúc 6 vùng sau điều chỉnh quy hoạch vào năm 2026 đã thay đổi so với thời điểm thành lập các Hội đồng điều phối năm 2023. Điều này cho thấy chính thiết chế điều phối cũng phải thích ứng với bản đồ phát triển mới, và cần được cập nhật nhanh để tránh khoảng trống giữa quy hoạch và thực thi.

Tôi cho rằng thành tựu lớn nhất đến nay là chúng ta đã hình thành được một “ngôn ngữ chung” về vùng: Có quy hoạch vùng, có thiết chế điều phối, có nhận diện các vấn đề liên vùng và có định hướng ngày càng rõ về các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế và chuỗi giá trị.

Bước tiếp theo khó hơn chính là hình thành những công cụ có tính ràng buộc và động lực kinh tế như cơ chế đồng tài trợ, chia sẻ nguồn thu và lợi ích, cơ sở dữ liệu vùng, tiêu chí lựa chọn dự án liên vùng, cơ chế đánh giá tác động lan tỏa và một đầu mối đủ trách nhiệm đối với những dự án có quy mô vùng. Khi những công cụ đó vận hành hiệu quả thì vùng mới thực sự trở thành một không gian ra quyết định kinh tế, chứ không chỉ là một tầng của quy hoạch.

Liên kết vùng trong mô hình phát triển mới: Từ phối hợp địa phương đến phân bổ nguồn lực theo không gian kinh tế - Ảnh 4.

Cụm cảng Thị Vải - Cái Mép đóng vai trò là cảng cửa ngõ kết nối giao thương hàng hóa đường thủy của các tỉnh Nam Bộ và là cảng trung chuyển quốc tế công suất lớn, giúp rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. (Ảnh: VNP)

- Theo bà, vì sao liên kết vùng đến nay vẫn là một bài toán khó và chưa phát huy được hiệu quả như kỳ vọng?

PGS. TS. Ngô Thị Phương Thảo: Liên kết vùng khó trước hết vì tồn tại một độ lệch giữa “không gian của nền kinh tế” và “không gian của quản lý nhà nước”. Doanh nghiệp lựa chọn nhiều nhà cung cấp ở các địa giới khác nhau; người lao động có thể sống ở một địa phương nhưng làm việc tại địa phương khác; dòng nước, môi trường và ô nhiễm không dừng ở ranh giới tỉnh; hàng hóa và logistics có thể đi qua nhiều địa phương. Nhưng ngân sách, đất đai, trách nhiệm giải trình và phần lớn thẩm quyền hành chính lại đang được tổ chức theo địa giới. Chính sự lệch pha này dễ dẫn đến tình trạng mỗi địa phương ưu tiên lợi ích và mục tiêu của riêng mình, trong khi hiệu quả chung của toàn vùng lại đòi hỏi các quyết định và cách phân bổ nguồn lực vượt ra ngoài phạm vi một địa phương.

Khó khăn thứ hai là bài toán phân bổ lợi ích và chi phí. Một tuyến vành đai có thể đi qua địa phương A nhưng làm tăng mạnh khả năng tiếp cận, giá trị đất đai và nguồn thu tại đô thị B. Một hồ điều tiết có thể chiếm đất ở thượng nguồn nhưng phần lớn lợi ích chống ngập lại thuộc về khu vực hạ nguồn. Một cơ sở xử lý chất thải có thể phục vụ cả vùng nhưng tác động môi trường trực tiếp lại tập trung tại nơi đặt dự án. Nếu không có cơ chế chia sẻ chi phí, nguồn thu và bù đắp ngoại tác thì địa phương chịu phần lớn chi phí sẽ thiếu động lực hợp tác. Đây không phải đơn thuần là vấn đề ý chí, mà là vấn đề thiết kế thể chế.

Nghị quyết số 27-NQ/TW mới đây đã đi khá trực tiếp vào nút thắt này khi yêu cầu đối với công trình liên vùng phải thực hiện theo nguyên tắc các địa phương “cùng quyết định, cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi”; còn những công trình liên ngành, liên vùng có ý nghĩa chiến lược quốc gia phải có cơ chế điều phối thống nhất và một đầu mối chịu trách nhiệm. Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu tạo cơ chế chia sẻ nguồn lực và lợi ích giữa quốc gia, vùng và địa phương. Theo tôi, đây là một hướng thay đổi rất quan trọng, bởi nó chuyển câu chuyện từ vận động các địa phương hợp tác sang thiết kế cơ chế để hợp tác có lợi cho các bên.

Thứ ba là cơ chế đầu tư và ngân sách chưa hoàn toàn vận hành theo logic vùng. Nghị quyết 57/NQ-CP đã đặt yêu cầu xây dựng tiêu chí lựa chọn dự án liên vùng và đưa các dự án phù hợp vào kế hoạch đầu tư công. Tuy nhiên, việc chuẩn bị dự án, bố trí vốn, giải phóng mặt bằng và tổ chức thực hiện trong thực tế vẫn có thể được chia thành từng đoạn theo địa phương hoặc theo cơ quan chủ quản. Một tuyến giao thông chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi toàn tuyến đồng bộ; nếu một đoạn chậm thì hiệu quả của những đoạn hoàn thành trước cũng bị giảm. Vì vậy, với các dự án liên vùng cần tiến tới tư duy “một chương trình - một mục tiêu - một lịch tiến độ”, dù nguồn vốn có thể đến từ nhiều cấp và nhiều chủ thể.

Thứ tư là Hội đồng điều phối vùng hiện chủ yếu thực hiện chức năng phối hợp. Các quy chế nhấn mạnh nguyên tắc đồng thuận, bình đẳng, công khai, minh bạch. Đây là nguyên tắc phù hợp, nhưng đồng thuận cũng có giới hạn khi lợi ích khác nhau. Những vấn đề vượt thẩm quyền hoặc không đạt đồng thuận phải báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét. Điều này cho thấy thiết chế vùng vẫn cần thêm các công cụ về ngân sách, pháp lý, dữ liệu để tự giải quyết một số xung đột vùng.

Thứ năm là chúng ta còn thiếu một hệ thống dữ liệu và chỉ tiêu vùng đủ mạnh. Số liệu theo tỉnh hiện khá chi tiết, nhưng những thông tin rất quan trọng đối với quản trị vùng như dòng lao động giữa các địa phương, thời gian và chi phí logistics, quan hệ chuỗi cung ứng, khả năng tiếp cận việc làm, biến động đất đai quanh các công trình hạ tầng hay mức độ phụ thuộc lẫn nhau về nước và năng lượng vẫn cần được tích hợp tốt hơn. Nếu không đo được các dòng chảy kinh tế và ngoại tác thì rất khó xác định chính xác địa phương nào được hưởng lợi bao nhiêu, địa phương nào chịu chi phí bao nhiêu để từ đó thiết kế một cơ chế chia sẻ phù hợp.

Vì vậy bài toán căn bản là phải chuyển từ “khuyến khích hợp tác” sang “thiết kế động lực hợp tác”. Có thể hình thành các quỹ hoặc chương trình đầu tư liên vùng cho một số lĩnh vực, cơ chế đồng tài trợ theo tỷ lệ lợi ích, chia sẻ một phần nguồn thu mới phát sinh từ hạ tầng, tiêu chí ưu tiên đầu tư công dựa trên tác động lan tỏa, và cơ chế trọng tài hoặc quyết định cuối cùng khi các địa phương không đạt đồng thuận. Liên kết vùng chỉ bền vững khi một địa phương thấy rằng hợp tác làm tăng lợi ích ròng của mình trong trung hạn, chứ không phải chỉ vì đó là một nhiệm vụ được yêu cầu.

Liên kết vùng trong mô hình phát triển mới: Từ phối hợp địa phương đến phân bổ nguồn lực theo không gian kinh tế - Ảnh 5.

- Giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên. Theo bà, mục tiêu tăng trưởng ở mức cao như vậy đòi hỏi cách khai thác và phân bổ nguồn lực giữa các địa phương phải thay đổi như thế nào để vừa tạo được tốc độ, vừa nâng cao hiệu quả và sức lan tỏa?

PGS. TS. Ngô Thị Phương Thảo: Ở khía cạnh kinh tế học, nếu đầu tư tăng rất nhanh nhưng năng suất sử dụng vốn không được cải thiện thì hệ quả sẽ là hệ số đầu tư tăng trưởng (ICOR) tăng, áp lực lên lạm phát, nợ và các cân đối vĩ mô có thể gia tăng, trong khi tốc độ tăng trưởng khó duy trì lâu dài. Vì vậy, trong giai đoạn mới, phân bổ nguồn lực phải dựa nhiều hơn vào năng suất biên, hiệu quả quy mô và tác động lan tỏa, thay vì nguyên tắc chia đều.

Liên kết vùng trở nên cấp thiết vì tăng trưởng 10% đòi hỏi một thị trường hiệu quả hơn về quy mô. Một doanh nghiệp công nghệ cao không chỉ cần đất trong khu công nghiệp; họ cần sân bay quốc tế, đại học, chuyên gia, nhà cung cấp, điện ổn định, dữ liệu, logistics và môi trường sống hấp dẫn. Rất ít địa phương có thể tự cung cấp toàn bộ các yếu tố này ở chuẩn cao. Nhưng một vùng kinh tế lớn có thể làm được nếu các chức năng được phân bổ và kết nối hợp lý. Chính liên kết vùng tạo ra “quy mô thị trường chức năng” đủ lớn để thu hút các dự án có giá trị gia tăng cao.

Thực tế 6 tháng đầu năm 2026, GDP cả nước tăng 8,18%, cao hơn mức 7,63% của cùng kỳ năm 2025 nhưng vẫn cho thấy khoảng cách đáng kể so với mục tiêu tăng trưởng hai con số. Khoảng cách đó càng đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm dư địa không chỉ bằng cách bổ sung nguồn lực mới, mà còn bằng cách tổ chức và phân bổ lại nguồn lực hiện hữu hiệu quả hơn. Trong đó, một số cực tăng trưởng có thể tăng nhanh hơn và đóng vai trò dẫn dắt; các địa phương khác có thể tham gia thông qua cung ứng lao động, công nghiệp hỗ trợ, logistics, nông nghiệp chất lượng cao, năng lượng hoặc dịch vụ sinh thái. Vấn đề là phải thiết kế được cơ chế để hiệu ứng lan tỏa thực sự xảy ra, thay vì tăng trưởng tập trung ở một nơi nhưng chi phí nhà ở, giao thông và môi trường cũng dồn hết về đó.

Trong bối cảnh này, có ba nhóm nguồn lực đặc biệt cần được nhìn ở quy mô vùng.

Thứ nhất là đầu tư công chiến lược. Đường sắt, cao tốc, cảng, sân bay, năng lượng và hạ tầng số phải được lựa chọn theo mạng lưới quốc gia và vùng, không chỉ theo danh mục riêng của từng địa phương. Nghị quyết 27 yêu cầu ưu tiên những công trình nền tảng, liên vùng và các cực tăng trưởng để tạo tác động dẫn dắt, lan tỏa.

Thứ hai là đất đai và không gian đô thị. Việc bố trí sản xuất, logistics, nhà ở và dịch vụ quanh các đầu mối giao thông cần được tổ chức trong một cấu trúc thống nhất. Nếu mỗi địa phương phát triển đất đai độc lập quanh cùng một hành lang giao thông thì lợi ích của dự án hạ tầng có thể bị chia nhỏ hoặc chuyển thành đầu cơ đất thay vì tạo ra hoạt động kinh tế.

Thứ ba là nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo. Đại học, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và các trung tâm đổi mới sáng tạo cần phục vụ một thị trường lao động rộng hơn phạm vi hành chính của địa phương. Một trường đại học lớn hay một trung tâm R&D đặt tại một cực hoàn toàn có thể cung cấp nguồn lực khoa học và nhân lực cho cả chuỗi đô thị, công nghiệp của vùng nếu hệ thống giao thông và các cơ chế hợp tác đủ tốt.

Vì vậy, tôi cho rằng, liên kết vùng trong giai đoạn 2026 - 2030 là một công cụ quan trọng để nâng hiệu quả đầu tư quốc gia. Mục tiêu tăng trưởng hai con số khiến chi phí của sự phân mảnh trở nên lớn hơn rất nhiều. Muốn tăng trưởng nhanh mà vẫn giữ được ổn định vĩ mô, Việt Nam phải tạo ra nhiều giá trị hơn trên mỗi đồng vốn, mỗi hecta đất và mỗi lao động. Liên kết vùng chính là một trong những cơ chế quan trọng để đạt được điều đó.

Liên kết vùng trong mô hình phát triển mới: Từ phối hợp địa phương đến phân bổ nguồn lực theo không gian kinh tế - Ảnh 6.

Cảng Nam Đình Vũ (Hải Phòng) đóng vai trò là đầu mối vận tải hàng hóa thương mại quốc tế và nội địa quan trọng bậc nhất của toàn miền Bắc, kết nối trực tiếp với hành lang giao thông huyết mạch của tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh để phục vụ chuỗi cung ứng logistics toàn vùng. (Ảnh: Gemadept)

- Theo bà, việc "phân vai" nên được xác lập dựa trên những căn cứ nào và làm thế nào để sự phân công đó tạo ra quan hệ bổ trợ trong chuỗi giá trị, thay vì trở thành sự chia cắt cứng nhắc giữa các địa phương?

PGS. TS. Ngô Thị Phương Thảo: Trong mọi hệ thống vùng phát triển đều có những đô thị hoặc địa phương giữ vai trò cực tăng trưởng bởi họ có quy mô thị trường lớn, hạ tầng tốt, nguồn nhân lực chất lượng cao và mật độ doanh nghiệp lớn. Nếu phủ nhận vai trò dẫn dắt này và phân bổ mọi chức năng theo kiểu bình quân thì chúng ta sẽ làm yếu đi lợi ích của kinh tế tích tụ. Ngược lại, nếu tập trung quá nhiều nguồn lực vào cực lõi mà không tạo được kết nối với vùng xung quanh thì giá đất, nhà ở, ùn tắc giao thông và sức ép môi trường sẽ tăng nhanh, cuối cùng làm giảm chính lợi thế của cực tăng trưởng.

Do đó, cấu trúc hợp lý là một mạng lưới gồm các cực tăng trưởng, những trung tâm chuyên môn hóa và các không gian bổ trợ. Một đô thị lõi có thể tập trung tài chính, R&D, dịch vụ chuyên môn và quản trị; các địa phương lân cận có thể đảm nhận sản xuất, logistics, công nghiệp hỗ trợ, nhà ở và đào tạo nghề; những khu vực xa hơn có thể cung cấp nguyên liệu, năng lượng, du lịch hoặc các dịch vụ hệ sinh thái. Nhưng tất cả những vai trò đó phải được kết nối bằng hạ tầng, thị trường lao động, dữ liệu và chuỗi cung ứng. Nếu không có kết nối thì “phân vai” sẽ trở thành chia cắt.

Căn cứ đầu tiên của phân vai phải là dữ liệu về lợi thế so sánh và năng suất, chứ không phải mong muốn chủ quan của địa phương. Phải nhìn xem doanh nghiệp thực tế đang tập trung ở đâu, hàng hóa đi theo hướng nào, lao động dịch chuyển ra sao, thời gian tiếp cận cảng và sân bay bao lâu, quỹ đất và năng lượng còn dư địa ở đâu.

Căn cứ thứ hai là ngoại tác. Cần trả lời một chức năng đặt tại vị trí nào sẽ tạo lợi ích cho nhiều địa phương nhất. Một trung tâm logistics đặt đúng nút giao của nhiều hành lang có thể hiệu quả hơn rất nhiều so với việc mỗi tỉnh đều xây một trung tâm riêng.

Căn cứ thứ ba là sức chịu tải của môi trường và hạ tầng. Không phải địa phương nào có khả năng thu hút công nghiệp cũng nên tiếp tục tăng mật độ công nghiệp nếu nguồn nước, điện, giao thông hoặc môi trường đã tiến sát ngưỡng chịu tải.

Liên kết vùng trong mô hình phát triển mới: Từ phối hợp địa phương đến phân bổ nguồn lực theo không gian kinh tế - Ảnh 7.

Khu công nghệ cao Hòa Lạc. (Ảnh: UBND TP. Hà Nội)

Quan trọng hơn, phân vai phải có khả năng thay đổi theo thời gian. Nghị quyết số 19 nhấn mạnh đổi mới mô hình phát triển lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Điều đó có nghĩa lợi thế của địa phương cũng sẽ thay đổi. Một địa phương từng là vệ tinh sản xuất hoàn toàn có thể dịch chuyển lên khâu thiết kế, nghiên cứu hoặc dịch vụ kỹ thuật khi tích lũy đủ doanh nghiệp và nhân lực. Vì thế, quy hoạch nên tạo ra một “khung chức năng” và những ngưỡng phát triển, không nên đóng cứng cơ cấu ngành của một địa phương trong thời gian quá dài.

Để sự phân vai thực sự tạo quan hệ bổ trợ thì phải có cơ chế chia sẻ giá trị. Nếu một địa phương dành quỹ đất cho một trung tâm logistics phục vụ cả vùng thì cần có cơ chế để địa phương đó được hưởng lợi hợp lý. Nếu một địa phương bảo vệ lưu vực nước để cung cấp nguồn nước cho đô thị hạ nguồn thì cần có hình thức bù đắp tương xứng. Nếu một tuyến giao thông đi qua nhiều tỉnh thì cần có một kế hoạch sử dụng đất và phát triển không gian tương đối thống nhất để giá trị tăng thêm không chỉ tập trung tại một vài nút giao.

Đó cũng là lý do Nghị quyết 27 yêu cầu các địa phương trong những công trình liên vùng phải cùng quyết định, cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi. Quy hoạch thuần túy sẽ khó tạo ra phân vai thực chất nếu không có những công cụ tài chính và thể chế đi kèm.

Tôi cũng cho rằng về dài hạn nên có cách đánh giá đóng góp của địa phương đối với hệ thống vùng, chứ không chỉ nhìn vào GRDP của chính địa phương đó. Một nơi có thể không phải địa điểm đặt trụ sở của những tập đoàn lớn, nhưng lại cung cấp nhà ở, lao động, năng lượng, logistics hay xử lý môi trường cho cả vùng. Những chức năng đó có giá trị kinh tế thực.

Khi hệ thống chỉ tiêu và cơ chế tài chính ghi nhận được giá trị đó, địa phương sẽ có động lực thực hiện vai trò bổ trợ. Phân vai như vậy không làm giảm tính chủ động của địa phương; ngược lại, giúp mỗi địa phương tập trung vào những năng lực mình có thể làm tốt nhất và từng bước nâng vị thế trong chuỗi giá trị.

- Hạ tầng liên vùng thường nhanh chóng làm gia tăng giá trị đất đai và mở rộng không gian phát triển đô thị, nhưng không phải lúc nào cũng đồng thời hình thành được các chuỗi sản xuất, dịch vụ và việc làm tương ứng. Theo bà, cần tổ chức quy hoạch đất đai, đô thị và thị trường bất động sản như thế nào để phần giá trị gia tăng từ hạ tầng được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển, thay vì chủ yếu dẫn đến tăng giá đất, đầu cơ hoặc phát triển dự án manh mún?

PGS. TS. Ngô Thị Phương Thảo: Đây là một vấn đề rất quan trọng của liên kết hạ tầng. Một tuyến metro, cao tốc, vành đai hay một đầu mối giao thông lớn thường làm tăng giá trị đất tại khu vực xung quanh ga, nút giao và những nơi có khả năng tiếp cận tốt hơn. Phần tăng giá trị đó không hoàn toàn do bản thân người sở hữu đất tạo ra, mà một phần đáng kể được hình thành từ đầu tư công và các quyết định quy hoạch. Nếu Nhà nước không thu hồi được một phần giá trị tăng thêm thì có thể xảy ra tình trạng lợi ích do đầu tư công tạo ra được tư nhân hóa, trong khi chi phí hạ tầng vẫn do ngân sách và xã hội gánh chịu.

Vì vậy, nguyên tắc đầu tiên là phải tích hợp quy hoạch giao thông với quy hoạch sử dụng đất và phát triển đô thị ngay từ đầu. Không nên xây đường trước, sau đó mới bắt đầu tính xem đất quanh tuyến sẽ phát triển như thế nào.

Đối với một công trình hạ tầng lớn, cần đồng thời xác định các khu vực phát triển đô thị, công nghiệp và logistics; mật độ và hệ số sử dụng đất; nhà ở; trường học, bệnh viện; không gian công cộng; hệ thống điện, nước và môi trường. Khi những yếu tố đó được thiết kế như một gói hoàn chỉnh thì hạ tầng mới tạo ra việc làm, doanh nghiệp và hoạt động kinh tế thực, thay vì chủ yếu tạo kỳ vọng tăng giá đất.

Việt Nam đã có một số cơ sở pháp lý để đi theo hướng này. Nghị quyết số 98/2023/QH15 cho phép TP.HCM triển khai cơ chế phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), trong đó có việc sử dụng nguồn lực địa phương để thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại khu vực phụ cận các nhà ga đường sắt và nút giao Vành đai 3, tạo quỹ đất để phát triển đô thị, thương mại và dịch vụ.

Đáng chú ý, Nghị quyết 98 sau khi được sửa đổi cuối năm 2025 đã tiếp tục hoàn thiện cơ chế TOD, trong đó TP.HCM được giữ lại 100% nguồn thu từ khai thác quỹ đất trong các khu vực TOD để tái đầu tư cho chính các dự án TOD và hạ tầng giao thông liên quan. Đây là một bước tiến quan trọng của cơ chế “thu hồi giá trị gia tăng từ đất đai”: Hạ tầng công tạo ra giá trị đất mới và một phần giá trị đó được quay trở lại để tài trợ cho hạ tầng và phát triển đô thị.

Luật Đất đai 2024 và các văn bản liên quan cũng tạo thêm khuôn khổ cho phát triển quỹ đất, đấu giá quyền sử dụng đất và khai thác nguồn lực đất đai. Nhưng vấn đề quan trọng là quản trị đúng thời điểm. Nếu thông tin quy hoạch được công bố nhưng Nhà nước chưa có kế hoạch chuẩn bị quỹ đất và nguồn lực thực hiện thì giá đất có thể tăng trước dự án, làm tăng chi phí bồi thường và khiến một phần địa tô chênh lệch bị thất thoát. Vì vậy, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chuẩn bị dự án và kế hoạch tài chính phải được triển khai đồng bộ.

Nguyên tắc thứ hai là hạ tầng phải đi cùng một “kịch bản kinh tế” cho khu vực hưởng lợi. Chẳng hạn, quanh một nút giao cao tốc phải xác định khá rõ nơi đó sẽ phát triển theo chức năng nào: Đô thị ở, logistics, công nghiệp công nghệ cao hay dịch vụ thương mại. Mỗi chức năng đòi hỏi cơ cấu lao động, hạ tầng và dịch vụ khác nhau.

Nếu chỉ mở đường rồi phân lô và phát triển bất động sản nhà ở mà không tạo không gian việc làm thì khu vực mới có thể làm tăng nhu cầu đi lại vào đô thị lõi, cuối cùng gây thêm áp lực giao thông. TOD đúng nghĩa cũng không phải đơn thuần là xây nhiều nhà quanh ga; đó là mô hình phát triển đô thị hỗn hợp, mật độ hợp lý, trong đó nhà ở, việc làm, thương mại, dịch vụ, không gian công cộng và giao thông công cộng được tổ chức đồng bộ.

Nguyên tắc thứ ba là cần sử dụng nhiều công cụ để thu hồi một phần giá trị tăng thêm từ hạ tầng: Đấu giá quỹ đất công, các khoản thu phù hợp từ đất đai, đóng góp của chủ đầu tư hưởng lợi, khai thác không gian trên và quanh các nhà ga và hợp tác công - tư. Quan trọng là nguồn lực thu được nên được quay trở lại cho hạ tầng, tái định cư, nhà ở xã hội và không gian công cộng. Khi đó, tăng giá đất không chỉ được nhìn như một hệ quả cần kiểm soát, mà trở thành một nguồn lực có thể được quản trị và tái đầu tư cho phát triển.

Cuối cùng, phải kiểm soát phát triển manh mún ở quy mô vùng. Một nút giao hoặc một hành lang hạ tầng nằm sát ranh giới hai địa phương có thể dẫn đến hai mô hình sử dụng đất rất khác nhau nếu mỗi nơi lập quy hoạch riêng. Vì vậy, với các hành lang cao tốc, vành đai và đường sắt liên vùng, cần có các nguyên tắc chung về tổ chức không gian hai bên tuyến, các nút phát triển và những khu vực TOD.

Nói cách khác, bài toán không chỉ là xây dựng hạ tầng để mở thêm đất phát triển, mà phải chủ động tổ chức lại không gian kinh tế được hình thành từ hạ tầng đó. Khi Nhà nước chủ động quản trị đất đai, quy hoạch đô thị và thị trường bất động sản quanh các công trình kết nối, phần giá trị gia tăng do đầu tư hạ tầng tạo ra mới có khả năng được chuyển hóa trở lại thành nguồn lực cho tăng trưởng, thay vì chủ yếu trở thành tăng giá đất hoặc lợi nhuận đầu cơ.

Liên kết vùng trong mô hình phát triển mới: Từ phối hợp địa phương đến phân bổ nguồn lực theo không gian kinh tế - Ảnh 8.

- Liên kết vùng lâu nay thường được nhìn từ góc độ quy hoạch, hạ tầng và sự phối hợp giữa các chính quyền địa phương. Tuy nhiên, các dòng vốn, chuỗi cung ứng, công nghệ và hoạt động sản xuất trên thực tế lại chủ yếu được hình thành thông qua doanh nghiệp. Theo bà, khu vực doanh nghiệp cần giữ vai trò như thế nào để liên kết vùng thực sự trở thành một liên kết kinh tế?

PGS. TS. Ngô Thị Phương Thảo: Theo tôi, nếu Nhà nước tạo ra khung thể chế và không gian cho liên kết vùng thì doanh nghiệp chính là một trong những chủ thể quan trọng biến những kết nối đó thành các quan hệ kinh tế thực. Một vùng thực sự vận hành như một không gian kinh tế khi giữa các địa phương hình thành được mạng lưới doanh nghiệp có quan hệ với nhau về đầu vào, sản xuất, dịch vụ, công nghệ và thị trường.

Vì vậy, trước hết cần nhìn doanh nghiệp không chỉ là đối tượng đến đầu tư sau khi quy hoạch và hạ tầng đã hoàn thành, mà còn là một nguồn thông tin rất quan trọng trong quá trình xác định chức năng và chuỗi giá trị của vùng. Doanh nghiệp hiểu khá rõ nhà cung cấp cần đặt ở đâu, một mắt xích logistics đang vướng ở điểm nào, thị trường đang thiếu loại lao động nào, hay những tiêu chuẩn kỹ thuật nào khiến doanh nghiệp trong nước chưa tham gia được vào chuỗi. Nếu những thông tin đó được phản ánh tốt hơn trong quá trình xây dựng và điều chỉnh chính sách, quy hoạch vùng sẽ sát hơn với logic vận hành thực tế của nền kinh tế.

Vai trò thứ hai, và theo tôi là quan trọng hơn, là doanh nghiệp cần trở thành hạt nhân hình thành các cụm liên kết ngành. Một vùng kinh tế mạnh không chỉ cần có những doanh nghiệp lớn, mà cần một mạng lưới gồm doanh nghiệp đầu đàn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhà cung cấp, cơ sở đào tạo, nghiên cứu và các dịch vụ hỗ trợ. Doanh nghiệp lớn, kể cả doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân trong nước, có thể tạo ra sức lan tỏa nếu phát triển được hệ thống nhà cung cấp tại vùng, chuyển giao tiêu chuẩn sản xuất, công nghệ và năng lực quản trị cho các doanh nghiệp nhỏ hơn.

Đây hiện vẫn là một dư địa đáng kể của Việt Nam. Báo cáo Việt Nam 2045: Nâng cao vị thế thương mại trong một thế giới đang thay đổi của Ngân hàng Thế giới cho thấy khu vực doanh nghiệp nước ngoài chiếm khoảng 73% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu giảm từ khoảng 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023. Điều đó cho thấy thu hút được một dự án lớn chưa đồng nghĩa với tạo được hiệu ứng lan tỏa nếu các doanh nghiệp xung quanh không tham gia được vào mạng lưới cung ứng. Ngược lại, khi một doanh nghiệp đầu đàn kéo theo được nhiều nhà cung cấp ở các địa phương khác nhau cùng tham gia thì giá trị của dự án được lan tỏa rộng hơn trong toàn vùng.

Từ góc độ đó, tôi cho rằng chính sách phát triển vùng cũng cần chuyển một phần trọng tâm từ “thu hút từng dự án” sang “phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp vùng”. Thay vì các địa phương cùng cạnh tranh để thu hút những dự án tương tự nhau, cần quan tâm hơn đến việc xác định trong chuỗi giá trị của vùng đang thiếu mắt xích nào, doanh nghiệp nào có khả năng dẫn dắt và các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được hỗ trợ gì để trở thành nhà cung cấp.

Có thể hình thành cơ sở dữ liệu nhà cung cấp dùng chung cho cả vùng; các chương trình kết nối doanh nghiệp đầu đàn với doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ doanh nghiệp đạt các tiêu chuẩn về công nghệ, chất lượng, môi trường và quản trị; đồng thời phát huy vai trò của hiệp hội ngành nghề trong việc nhận diện nhu cầu chung của doanh nghiệp vượt qua ranh giới một địa phương. Đây là những liên kết mà Nhà nước khó có thể tạo ra chỉ bằng mệnh lệnh hành chính, nhưng có thể kiến tạo điều kiện để thị trường hình thành.

Theo tôi, thước đo quan trọng không chỉ là một vùng thu hút được bao nhiêu dự án lớn, mà còn là một dự án lớn tạo ra được bao nhiêu nhà cung cấp mới trong vùng, doanh nghiệp địa phương tham gia được đến đâu trong chuỗi giá trị và giá trị gia tăng được giữ lại trong nền kinh tế vùng như thế nào. Khi doanh nghiệp ở các địa phương khác nhau có quan hệ ngày càng chặt chẽ về sản xuất, công nghệ và thị trường, liên kết vùng mới thực sự có nền tảng kinh tế và có khả năng duy trì lâu dài.

- Xin trân trọng cảm ơn PGS. TS. Ngô Thị Phương Thảo đã có những chia sẻ và góc nhìn sâu sắc, qua đó gợi mở thêm nhiều vấn đề đáng suy ngẫm. Với mục tiêu tăng trưởng hai con số đã đề ra, yêu cầu giờ đây không chỉ là đi nhanh mà còn phải đi xa và bền vững; điều này đòi hỏi các địa phương phải cùng đi trong một không gian phát triển có liên kết, phân vai và bổ trợ lẫn nhau./.

 

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top