Nguồn nhân lực chất lượng cao: Yếu tố quyết định năng lực thực thi các quyết sách phát triển

Nguồn nhân lực chất lượng cao: Yếu tố quyết định năng lực thực thi các quyết sách phát triển

Hà Thương (Thực hiện)
Hà Thương (Thực hiện) ngthuongreatimes@gmail.com
Thứ Sáu, 06/02/2026 - 06:08

Với mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và vươn lên trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định 3 đột phá chiến lược, trong đó có yêu cầu đột phá về nguồn nhân lực.

Nếu đột phá về thể chế khai mở khung khổ hoạt động, đột phá về cơ sở hạ tầng tạo không gian và sức bật thì đột phá về nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định năng lực thực thi chính sách, tốc độ và chất lượng phát triển. Báo cáo các văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XIV nêu rõ, đột phá về nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, phải gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động; tăng cường năng lực số; hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia, doanh nhân, nhà khoa học giỏi, công nhân kỹ thuật cao, đáp ứng yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước.

Chia sẻ với Reatimes, TS. Nguyễn Văn Đáng, nhà nghiên cứu quản trị công và chính sách, Viện Lãnh đạo học và Hành chính công, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng nguồn nhân lực chất lượng cao, khi được vận hành trong một điều kiện thể chế thông thoáng, minh bạch, cùng với hệ thống hạ tầng hiện đại, sẽ có thể cải thiện năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới, sáng tạo của toàn xã hội. Qua đó, góp phần giúp Việt Nam từng bước dịch chuyển lên các nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao vị thế quốc gia và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển mà Đại hội XIV đã đề ra.

- Theo ông, vì sao nguồn nhân lực chất lượng cao lại trở thành một trong những đột phá chiến lược trong tiến trình phát triển đất nước?

TS. Nguyễn Văn Đáng: Trước hết, phải nhấn mạnh rằng, ba đột phá chiến lược về thể chế, cơ sở hạ tầng, và nguồn nhân lực đã được nêu ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới với những mục tiêu đầy thách thức, Đại hội XIV đã thể hiện rõ nhận thức về sự cần thiết phải xác lập một mô hình tăng trưởng mới, trong đó coi khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực trung tâm cho khả năng bứt phá phát triển của đất nước. Chính vì vậy, Đại hội Đảng lần thứ XIV tiếp tục đặt ra yêu cầu phát triển đột phá với nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này cho thấy Đại hội đã nhận thức sâu sắc vai trò đặc biệt quan trọng của yếu tố "nhân lực" trong sự nghiệp phát triển quốc gia.

Nhìn lại tiến trình phát triển của xã hội loài người, có thể dễ dàng nhận thấy năng lực của con người, chất lượng của nguồn lực lao động luôn là một trong những điều kiện tiên quyết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo ra những chuyển biến sâu rộng trên nhiều phương diện của đời sống xã hội.

Tìm hiểu những thành công bứt phá của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc hay Đài Loan (Trung Quốc) kể từ nửa sau thế kỷ XX cho thấy dấu ấn rõ nét và vai trò nổi bật của các đột phá về chính sách. Ở đó, chính phủ và doanh nghiệp có sự phối hợp chặt chẽ, cùng nhận diện được những "khoảng trống" trên thị trường thế giới, từ đó đề ra các chính sách ưu tiên phát triển quốc gia phù hợp. Sản phẩm của những chính sách đúng đắn ấy đã góp phần tạo dựng nên các "ấn tượng quốc gia" trong tiến trình phát triển. Đối với Nhật Bản và Hàn Quốc, đó là sự trỗi dậy của các doanh nghiệp dân tộc như Keiretsu và Chaebol, vươn lên trở thành những tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới chỉ sau vài thập kỷ. Với Trung Quốc, đó là mô hình các khu kinh tế mở, nơi thu hút nguồn lực quốc tế để từng bước phát triển doanh nghiệp trong nước. Còn với Singapore, đó là nỗ lực bền bỉ nhằm trở thành trung tâm dịch vụ của khu vực và thế giới.

Nguồn nhân lực chất lượng cao: Yếu tố quyết định năng lực thực thi các quyết sách phát triển- Ảnh 1.

Để Việt Nam có thể tăng tốc phát triển trong giai đoạn tới, một trong những yêu cầu bức thiết là phải nhanh chóng cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. (Ảnh minh hoạ: Báo Đại biểu Nhân dân)

Vậy, chính sách tốt, những chính sách "đúng và trúng" ấy bắt nguồn từ đâu? Hiển nhiên, chính sách là sản phẩm của nhận thức và tư duy của con người đặt trong một bối cảnh cụ thể. Thành công "thần kỳ" của một số quốc gia trong khu vực Đông Á in đậm dấu ấn của đội ngũ lãnh đạo chính trị có tầm nhìn xa, lực lượng công chức chuyên nghiệp và mẫn cán, có khát khao đưa đất nước phát triển bứt phá, thay đổi vị thế quốc gia.

Thực tế này gợi ra rằng, để Việt Nam có thể tăng tốc phát triển trong giai đoạn tới, một trong những yêu cầu bức thiết là phải nhanh chóng cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Cụ thể, đó là nhu cầu nâng tầm cả về tư duy và hành động với đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước, lực lượng lãnh đạo, hoạch định và thực thi chính sách. Bên cạnh đó, lực lượng lao động trong nước cũng phải đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao của thị trường việc làm hiện nay, vốn đang trở nên khắt khe hơn và cạnh tranh ngày càng gay gắt.

- Từ yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để tạo động lực cho phát triển đất nước, đâu là những điểm mới trong tư duy và cách tiếp cận về phát triển nguồn nhân lực được thể hiện tại Đại hội XIV, thưa ông?

TS. Nguyễn Văn Đáng: Có thể thấy, tư duy và cách tiếp cận đối với phát triển nguồn nhân lực tại Đại hội XIV vừa kế thừa những thành tựu và quan điểm đã được xác lập tại các kỳ Đại hội trước, vừa có sự nhấn mạnh và làm nổi bật hơn một số nội dung quan trọng.

Chẳng hạn, đối với đội ngũ cán bộ, công chức, bên cạnh những yêu cầu truyền thống, Đại hội XIV đã nêu rõ những quan điểm cụ thể, sát thực tiễn hơn như: "Chọn đúng người, giao đúng việc; đánh giá cán bộ bằng sản phẩm, bằng hiệu quả, bằng uy tín trong nhân dân". Đồng thời, Đại hội cũng nhận thức rõ hệ lụy của những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ thời gian gần đây, và yêu cầu kiên quyết: "Không để những phần tử 'cơ hội', 'chạy chức, chạy quyền' len lỏi vào tổ chức, bộ máy trong hệ thống chính trị"; "mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ mình trước cám dỗ; phải biết xấu hổ khi dân còn khó khăn, nghèo đói; phải coi danh dự là điều thiêng liêng, cao quý; coi liêm chính là phẩm chất nền tảng của đạo đức công vụ". Nhìn chung, việc nhấn mạnh liêm chính, tinh thần phục vụ nhân dân, yêu cầu dám nghĩ mới, dám làm và dám hành động quyết liệt, dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển của đất nước, cùng với việc coi trọng kết quả thực thi nhiệm vụ, có thể xem là những điểm mới đáng chú ý trong tư duy về phát triển đội ngũ cán bộ, công chức tại Đại hội XIV.

Đại hội XIV cũng khẳng định văn hóa và con người là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh, đồng thời là nguồn lực và động lực quan trọng cho phát triển đất nước. Để phát triển lực lượng sản xuất và nhanh chóng cải thiện năng suất lao động, Đại hội nhấn mạnh yêu cầu phải "nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, trọng dụng nhân tài". Những quan điểm này phản ánh rõ nhận thức của Đảng về những giới hạn của mô hình phát triển dựa trên lực lượng lao động đông và giá rẻ, vốn đã từng phát huy hiệu quả trong các giai đoạn trước đây nhưng đang dần bộc lộ những hạn chế.

Nguồn nhân lực chất lượng cao: Yếu tố quyết định năng lực thực thi các quyết sách phát triển- Ảnh 2.

TS. Nguyễn Văn Đáng, nhà nghiên cứu quản trị công và chính sách, Viện Lãnh đạo học và Hành chính công, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Đại hội XIV cũng đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong những năm tới, với tâm thế chủ động hơn trong hội nhập và phát triển, đặc biệt khi khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo ngày càng được coi trọng, việc cải thiện chất lượng nguồn lực lao động gắn với những yếu tố này trở thành yêu cầu tất yếu và cấp bách. Đây là điều kiện quan trọng để Việt Nam có thể nâng cao năng lực sản xuất, tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu có hàm lượng tri thức cao, qua đó tránh rơi vào vòng lặp phụ thuộc vào lao động giá rẻ và gia công, lắp ráp.

Có thể khẳng định rằng, Đại hội XIV đã xác quyết đúng đắn về vai trò quyết định của các năng lực nội sinh, trong đó năng lực của con người và chất lượng của lực lượng lao động giữ vị trí hàng đầu đối với khả năng thực thi các quyết sách, tạo bứt phá phát triển cho đất nước trong tương lai.

- Theo ông, vì sao Đại hội XIV lại đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số?

TS. Nguyễn Văn Đáng: Ngày 2/9/2025, trong diễn văn tại Lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: "Hướng tới tương lai, Đảng ta đặt mục tiêu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam là quốc gia hùng cường, hưng thịnh, hạnh phúc. Đó là khát vọng của cả dân tộc, là lời thề danh dự trước lịch sử, trước nhân dân".

Tinh thần và khát vọng đó tiếp tục được củng cố tại Đại hội Đảng XIV. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội đã nhấn mạnh: "Chưa bao giờ nguyện ước về một Việt Nam dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc lại gần với chúng ta như hôm nay".

Trên cơ sở những khát vọng phát triển, Đại hội XIV đã chỉ ra rất rõ ràng và chính xác những điều kiện then chốt để có thể thúc đẩy sự phát triển bứt phá - đó là coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là "động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; là phương thức để tạo ra các mô hình kinh doanh mới, việc làm mới và giá trị gia tăng mới". Vì vậy, Đại hội XIV đã nhấn mạnh yêu cầu "tập trung phát triển công nghệ chiến lược, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia toàn diện… tạo môi trường thử nghiệm, khuyến khích đổi mới, bảo vệ sáng tạo".

Văn kiện Đại hội cũng đồng thời chỉ rõ rằng: "Muốn đột phá về công nghệ, phải bắt đầu từ con người và cơ chế. Không thể chủ quan, duy ý chí. Phải có cơ chế trọng dụng nhân tài; cơ chế đánh giá dựa trên sản phẩm; cơ chế tài chính linh hoạt; cơ chế hợp tác công - tư; cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học gắn với yêu cầu phát triển. Khoa học, công nghệ phải đi vào đời sống, phục vụ người dân, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế".

Để khoa học, công nghệ, đổi mới và sáng tạo thực sự trở thành động lực phát triển của đất nước, thì điều kiện tiên quyết là phải có được đội ngũ chuyên gia, lực lượng kỹ sư, công nhân kỹ thuật trình độ cao - những người trực tiếp chuyển hóa các chủ trương, chính sách đúng đắn thành hành động cụ thể.
Nguồn nhân lực chất lượng cao: Yếu tố quyết định năng lực thực thi các quyết sách phát triển- Ảnh 3.TS. Nguyễn Văn Đáng

Rõ ràng, khi coi trọng sức mạnh của khoa học, kỹ thuật và công nghệ thì tất yếu phải đặt ra yêu cầu xây dựng một lực lượng lao động hiện đại, với những phẩm chất, năng lực và kỹ năng mới. Nói cách khác, để khoa học, công nghệ, đổi mới và sáng tạo thực sự trở thành động lực phát triển của đất nước, thì điều kiện tiên quyết là phải có được đội ngũ chuyên gia, lực lượng kỹ sư, công nhân kỹ thuật trình độ cao - những người trực tiếp chuyển hóa các chủ trương, chính sách đúng đắn thành hành động cụ thể, tạo ra những thay đổi thực chất trong đời sống kinh tế - xã hội. Đây cũng chính là một trong những điểm mới nổi bật trong cách tiếp cận phát triển nguồn nhân lực được thể hiện tại Đại hội XIV.

- Từ góc nhìn thực tiễn, ông đánh giá như thế nào về chất lượng và năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay trước yêu cầu phát triển mới của đất nước?

TS. Nguyễn Văn Đáng: Theo một số nghiên cứu gần đây, tính đến năm 2023, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của nước ta đạt khoảng 52,4 triệu người. Trong đó, lực lượng lao động khu vực thành thị chiếm 37,3%, khu vực nông thôn chiếm 62,7%. Tuy nhiên, xét về chất lượng, nguồn cung lao động hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Cụ thể, đang có khoảng 38 triệu người lao động chưa qua đào tạo từ trình độ sơ cấp trở lên. Thực trạng này cho thấy lực lượng lao động của Việt Nam hiện vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động hiện đại, linh hoạt và hội nhập sâu rộng.

Bên cạnh đó, năng suất lao động thấp cũng đang trở thành một rào cản lớn đối với khả năng phát triển của đất nước. Tháng 10/2025, khi trình bày tại diễn đàn Quốc hội, Báo cáo đánh giá tình hình và kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết số 31 của Quốc hội về cơ cấu lại nền kinh tế cho thấy năng suất lao động của Việt Nam cải thiện còn chậm. Bình quân giai đoạn 2021 - 2026, tốc độ tăng năng suất lao động chỉ đạt khoảng 5,24%, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu đề ra là 6,5% và kém xa nhiều quốc gia trong khu vực. Cụ thể, năm 2023, năng suất lao động của Việt Nam tính theo sức mua tương đương (PPP, năm 2021) chỉ bằng 11,2% so với Singapore; 27% so với Hàn Quốc; 28,6% so với Nhật Bản; 36,2% so với Malaysia; 64,6% so với Thái Lan; 57,3% so với Trung Quốc; 84,8% so với Indonesia và chỉ nhỉnh hơn Philippines, đạt khoảng 104,9%.

Một vấn đề đáng quan ngại khác là tình trạng chưa phát huy tối đa tiềm năng của lực lượng lao động. Theo số liệu của Cục Thống kê, năm 2023, số lao động không sử dụng hết tiềm năng vào khoảng 2,3 triệu người, chiếm 4,3% lực lượng lao động. Các nghiên cứu cho rằng, tỷ lệ lao động chưa sử dụng hết tiềm năng là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh mức độ "lệch pha" giữa cung và cầu lao động trên thị trường, đồng thời cho thấy tình trạng dư cung lao động. Tỷ lệ này luôn tồn tại ở một mức độ nhất định trong điều kiện bình thường nhưng khi gia tăng ở mức cao thì cũng là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế - xã hội có thể đang nảy sinh những vấn đề cần xem xét kỹ.

Nhìn chung, mặc dù có lợi thế về quy mô lực lượng lao động, song chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, năng suất lao động còn thấp, và tình trạng chưa phát huy hết tiềm năng của nguồn lực con người vẫn là những vấn đề nổi bật của Việt Nam hiện nay. Đây là những thách thức rất lớn cần sớm được giải quyết, để nguồn lực con người thực sự trở thành động lực nội sinh cho các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn sắp tới.

Nguồn nhân lực chất lượng cao: Yếu tố quyết định năng lực thực thi các quyết sách phát triển- Ảnh 4.

Không thể xóa nhòa khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường nhưng một nền giáo dục, đào tạo hiện đại, hiệu quả thì tất yếu phải có thể thu hẹp khoảng cách đó. (Ảnh minh hoạ: Tạp chí Cộng sản)

- Theo nhiều đánh giá, một trong những "điểm nghẽn" lớn nhất của phát triển nguồn nhân lực nước ta là sự không tương thích giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động. Theo ông, căn nguyên của tình trạng này là gì?

TS. Nguyễn Văn Đáng: Khoảng cách lớn giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động trong nước là vấn đề đã được nhận biết từ lâu nhưng đến nay vẫn chưa khắc phục được. Chúng ta có thể thấy khoảng cách đó trên nhiều phương diện: Về số lượng, tức là đào tạo vượt quá hoặc không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường lao động; và chênh lệch về chất lượng, tức là đào tạo không đáp ứng đúng nhu cầu và yêu cầu của thị trường lao động.

Bất kể khoảng cách hay sự lệch pha nào cũng dẫn đến sự lãng phí nguồn lực con người và tình trạng này có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Trên cấp độ quốc gia, hệ thống chính sách giáo dục, đào tạo có thể chưa bám sát sự vận động của nền kinh tế, đặc biệt là các xu hướng mới, liên tục xuất hiện trên thị trường lao động. Với mỗi cơ sở đào tạo, đó là tình trạng chậm đổi mới triết lý, mô hình quản lý, và nội dung của các chương trình đào tạo. Với mỗi cá nhân, đó là sự thụ động, thiếu tính toán thận trọng khi quyết định theo học những chương trình đào tạo mà không cân nhắc đến nhu cầu và sự vận động của thị trường lao động, khả năng tìm việc làm trong tương lai.

Nhìn chung, tình trạng lệch pha như đề cập trên đây là một chỉ báo đáng lo ngại, cần đặc biệt quan tâm để đổi mới nền giáo dục và đào tạo. Hướng về tương lai, chúng ta không thể xóa nhòa khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường nhưng một nền giáo dục, đào tạo hiện đại, hiệu quả thì tất yếu phải có thể thu hẹp khoảng cách đó.

- Việc "đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động" được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIV có ý nghĩa như thế nào, theo nhìn nhận của ông?

TS. Nguyễn Văn Đáng: Việc coi trọng và gắn đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động là một quan điểm rất đúng đắn, rất thực tế và rất hiện đại. Bởi lẽ, giáo dục và đào tạo sẽ chưa thể phát huy đầy đủ vai trò, cũng như chưa thể chứng minh được sự đóng góp của mình vào tiến trình phát triển của đất nước, nếu sản phẩm mà nó tạo ra không đáp ứng được các yêu cầu của thị trường lao động. Khi người lao động có đầy đủ bằng cấp nhưng lại không tìm được việc làm, hoặc tìm được việc làm nhưng lại không đáp ứng được yêu cầu công việc thì sẽ không chỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn có thể dẫn đến những hệ lụy tiêu cực cho cả cá nhân, tổ chức, và xã hội. Vì thế, việc nhấn mạnh yêu cầu đào tạo phải đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường lao động cho thấy một tinh thần nổi bật của Đại hội XIV, đó là coi trọng tính hiệu quả của nền giáo dục và đào tạo.

Không chỉ dừng lại ở khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường, thời gian gần đây, các chủ trương của Đảng về giáo dục và đào tạo còn đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của "nhân lực chất lượng cao". Trước Đại hội XIV, vào tháng 8 năm 2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW, trong đó xác định giáo dục và đào tạo là lĩnh vực then chốt của mọi then chốt, là động lực căn cơ để tăng năng suất, bứt phá năng lực cạnh tranh quốc gia và nuôi dưỡng khát vọng phát triển. Bên cạnh việc đặt ra yêu cầu bức thiết về hiện đại hóa nền giáo dục và đào tạo, Nghị quyết cũng nhấn mạnh nhu cầu phát triển "nhân lực chất lượng cao". Theo đó, nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định phải trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh cốt lõi của đất nước.

Coi trọng nhu cầu của thị trường, đề cao vai trò của nhân lực chất lượng cao là những tinh thần, quan điểm không hoàn toàn mới. Tuy nhiên, trong bối cảnh cả nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc nêu bật những vấn đề này càng cho thấy tính cấp thiết rõ rệt hơn. Để chuyển hóa những nhận thức và quan điểm đúng đắn đó thành kết quả cụ thể, thì điều quan trọng tiếp theo là cần hành động đồng bộ. Trong những năm sắp tới, cả hệ thống chính trị phải cùng vào cuộc, thông qua việc ban hành và tổ chức thực thi các chính sách cụ thể, thì mới có thể sớm tạo ra những chuyển biến tích cực và thuyết phục trong thực tiễn.

- Vậy theo ông, để những quan điểm, định hướng nêu trong Nghị quyết Đại hội XIV thực sự đi vào cuộc sống, cần tập trung vào những giải pháp hành động cụ thể nào trong thời gian tới?

TS. Nguyễn Văn Đáng: Trước hết, cần rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về giáo dục và đào tạo theo hướng đồng bộ, thống nhất, bảo đảm mọi khâu từ xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo đến đánh giá kết quả đều bám sát nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động và mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Bên cạnh đó, cần tăng cường sự gắn kết thực chất giữa các cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, khu vực sản xuất - kinh doanh và các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, coi đây là yêu cầu bắt buộc chứ không chỉ dừng lại ở những thỏa thuận mang tính hình thức. Việc đặt hàng đào tạo, tham gia của doanh nghiệp vào quá trình xây dựng chương trình, tổ chức thực tập, thực hành và tuyển dụng cần được thể chế hóa bằng những cơ chế, chính sách cụ thể, đủ mạnh.

Một nhiệm vụ rất quan trọng khác là nâng cao năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và đội ngũ giảng viên, cần coi đây là khâu then chốt quyết định hiệu quả của mọi chủ trương, chính sách. Cùng với đó, cần có cơ chế giám sát, đánh giá khách quan, dựa trên các tiêu chí đầu ra rõ ràng, gắn trách nhiệm của từng chủ thể với kết quả thực hiện. Chỉ khi các giải pháp được triển khai đồng bộ, kiên quyết và có lộ trình rõ ràng, những định hướng lớn của Nghị quyết Đại hội XIV về đổi mới giáo dục và đào tạo mới có thể thực sự tạo ra những chuyển biến rõ nét về nguồn nhân lực trong thực tiễn.

Nguồn nhân lực chất lượng cao: Yếu tố quyết định năng lực thực thi các quyết sách phát triển- Ảnh 5.

Khi đột phá về nguồn nhân lực được triển khai hiệu quả và đồng bộ với đột phá về thể chế và hạ tầng, Việt Nam có cơ sở vững chắc để kỳ vọng về khả năng thành công của các quyết sách, cải thiện chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. (Ảnh minh hoạ: Ninh Tiến Đạt)

- Khi đột phá về nguồn nhân lực được triển khai hiệu quả, đồng bộ với đột phá về thể chế và hạ tầng, ông kỳ vọng như thế nào về việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển mà Đại hội XIV đã đề ra?

TS. Nguyễn Văn Đáng: Khi đột phá về nguồn nhân lực được triển khai hiệu quả và đồng bộ với đột phá về thể chế và hạ tầng, chúng ta có cơ sở vững chắc để kỳ vọng về khả năng thành công của các quyết sách, cải thiện chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Nguồn nhân lực có chất lượng cao, được vận hành trong một khung khổ thể chế thông thoáng, minh bạch, công bằng, và được hỗ trợ bởi hệ thống hạ tầng hiện đại chính là những điều kiện then chốt cho sự gia tăng bền vững về năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn lực, và khả năng đổi mới sáng tạo của toàn xã hội.

Bên cạnh đó, sự kết nối đồng bộ giữa ba trọng tâm đột phá sẽ giúp rút ngắn đáng kể khoảng cách giữa chủ trương, chính sách và thực tiễn triển khai. Các mục tiêu phát triển không chỉ dừng lại ở văn bản hay kế hoạch, mà sẽ được hiện thực hóa thông qua các chính sách, chương trình cụ thể, hiệu quả và những kết quả có thể đo lường được. Điều này cũng góp phần hình thành một môi trường phát triển năng động, trong đó doanh nghiệp, người lao động và các cơ sở đào tạo đều có động lực và điều kiện để phát huy tối đa năng lực của mình.

Về lâu dài, những chuyển biến đó sẽ tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam từng bước dịch chuyển lên các nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao vị thế quốc gia và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển mà Đại hội XIV đã đề ra.

- Trân trọng cảm ơn những chia sẻ của ông!

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top