PGS. TS. Phạm Trung Lương: Đà Nẵng cần chuyển sức hút điểm đến thành năng lực dẫn dắt của một cực tăng trưởng du lịch
Từ vị thế "cửa ngõ" và trung tâm du lịch lớn của miền Trung, Đà Nẵng đang được định vị một vai trò mới lớn hơn trong cấu trúc phát triển du lịch quốc gia. Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định đến năm 2030 phát triển mạnh 3 cực tăng trưởng du lịch Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng; đồng thời yêu cầu các cực tăng trưởng cùng các đô thị di sản trở thành những trung tâm du lịch trọng điểm, đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt phát triển du lịch vùng.
Vị thế ấy cũng được đặt trên một nền tảng tăng trưởng và kết nối khá rõ. Năm 2025, các cơ sở lưu trú trên địa bàn phục vụ hơn 17,3 triệu lượt khách, trong đó hơn 7,6 triệu lượt khách quốc tế. Chỉ trong 8 tháng năm 2026, lượng khách lưu trú đã đạt khoảng 14,25 triệu lượt, tăng 24,9% so với cùng kỳ; khách quốc tế đạt gần 6,88 triệu lượt, tăng 26,3%. Cùng với mạng lưới hàng không ngày càng mở rộng, Đà Nẵng tiếp tục khẳng định vai trò cửa ngõ du lịch quan trọng của khu vực miền Trung.
Từ nền tảng tăng trưởng đó, yêu cầu phát triển du lịch Đà Nẵng trong giai đoạn tới cần được đặt trong định hướng chung của Nghị quyết số 26-NQ/TW: Chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh và sáng tạo; lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh; đồng thời phát triển du lịch theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, tạo động lực cho thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải, công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, nông nghiệp, kinh tế số, kinh tế đêm và các ngành, lĩnh vực khác; vừa cộng hưởng nâng cao giá trị gia tăng, vừa bảo đảm sự gắn kết, phát triển bền vững các trụ cột kinh tế - văn hoá - xã hội - môi trường, củng cố quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng ngoại giao văn hoá, hội nhập quốc tế…
Với Đà Nẵng, đó là bước chuyển từ một điểm đến có sức hút lớn sang một cực tăng trưởng có khả năng tạo giá trị mới, dẫn dắt thị trường và lan tỏa động lực phát triển ra toàn vùng. Từ góc nhìn đó, trao đổi với Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam (Reatimes.vn), PGS. TS. Phạm Trung Lương, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, thành viên Tổ chuyên gia Tư vấn Quy hoạch Quốc gia đã phân tích những nền tảng làm nên vị thế của Đà Nẵng, đồng thời chỉ ra những điều kiện để thành phố hiện thực hóa vai trò mới này.
PGS. TS. Phạm Trung Lương, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, thành viên Tổ chuyên gia Tư vấn Quy hoạch Quốc gia.
- Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định phát triển mạnh 3 cực tăng trưởng du lịch Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng, đồng thời đặt yêu cầu các cực tăng trưởng cùng các đô thị di sản trở thành những trung tâm du lịch trọng điểm, đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt phát triển du lịch vùng. Từ định hướng này, theo ông, nên hiểu khái niệm “cực tăng trưởng du lịch” như thế nào? Một địa phương cần hội đủ những điều kiện gì để không chỉ có sức hút lớn về khách, đầu tư và sản phẩm, mà còn thực sự tạo ra động lực và sức lan tỏa đối với các ngành, lĩnh vực và không gian xung quanh?
PGS. TS. Phạm Trung Lương: Cực tăng trưởng du lịch phải là một đơn vị hành chính giữ vai trò trọng tâm trong tăng trưởng du lịch của một khu vực, một vùng, có khả năng thu hút khách và mức đóng góp cao về kinh tế, đồng thời đủ sức thu hút và dẫn dắt các nguồn lực phát triển. Quan trọng hơn, từ sự hội tụ đó phải tạo ra những động lực mới và khả năng lan tỏa đối với các khu vực xung quanh.
Tôi cho rằng để hình thành một cực tăng trưởng du lịch cần một số điều kiện nền tảng.
Đầu tiên là vị trí cửa ngõ và khả năng kết nối với các thị trường lớn, đặc biệt là thị trường quốc tế. Một cực tăng trưởng phải có khả năng tiếp nhận những dòng khách lớn và giữ vai trò cửa ngõ không chỉ của riêng địa phương mà của cả một vùng. Vì vậy, sân bay quốc tế, cảng biển và các tuyến kết nối trực tiếp với những thị trường nguồn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Thứ hai là hạ tầng phải đủ mạnh để tạo ra kết nối và sự lan tỏa. Cực tăng trưởng không thể tồn tại như một “ốc đảo”, khách du lịch đến đó phải có khả năng tiếp tục di chuyển thuận lợi tới những địa phương khác; ngược lại, lao động, hàng hóa, dịch vụ và các nguồn lực từ khu vực xung quanh cũng phải có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị du lịch của trung tâm đó. Khi đó, hạ tầng mới thực sự tạo ra sự liên kết thay vì chỉ phục vụ cho riêng một điểm đến.
Thứ ba là phải có hệ thống sản phẩm và dịch vụ đủ hấp dẫn, đa dạng để tạo sức hút ở quy mô lớn. Một vài sản phẩm đơn lẻ rất khó làm nên vai trò dẫn dắt. Cực tăng trưởng thường phải có một hệ sinh thái gồm lưu trú, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, thương mại, văn hóa, sự kiện, ẩm thực, vận tải và nhiều loại hình dịch vụ bổ trợ khác. Các cấu phần này phải có khả năng hỗ trợ và tạo cầu cho nhau, qua đó hình thành một trung tâm hoạt động du lịch đủ lớn để tiếp tục thu hút khách và đầu tư.
Một góc Đà Nẵng nhìn từ trên cao. (Ảnh: Kim Liên/danangfantasticity.com)
Đi cùng với đó là nguồn nhân lực và năng lực quản trị tương xứng. Khi quy mô khách, đầu tư và hoạt động kinh tế ngày càng lớn, quản trị du lịch không thể chỉ dừng ở từng doanh nghiệp hay từng sản phẩm riêng lẻ, mà phải đủ khả năng điều phối cả một hệ sinh thái có quan hệ chặt chẽ với giao thông, thương mại, môi trường, dịch vụ đô thị và đời sống cộng đồng.
Nhìn rộng ra, tôi cho rằng khả năng lan tỏa là dấu hiệu quan trọng nhất để nhận diện một cực tăng trưởng du lịch. Đó không phải là nơi hút mọi dòng khách, dòng vốn và hoạt động kinh tế về mình, mà phải từ chính sức hút đó tạo thêm thị trường, cơ hội phát triển và động lực tăng trưởng cho một không gian rộng hơn.
- Vậy cụ thể với Đà Nẵng, đâu là lợi thế để thành phố được đặt ngang hàng với 2 đô thị lớn nhất cả nước, thưa ông?
PGS. TS. Phạm Trung Lương: Việc Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt Đà Nẵng cùng Hà Nội và TP.HCM vị trí là ba cực tăng trưởng du lịch trước hết phải nhìn từ vai trò của Đà Nẵng đối với cả khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Đây là địa phương có vị trí và những điều kiện để trở thành đầu mối tổ chức không gian du lịch của cả vùng.
Trước đây, một trong những chức năng nổi bật của Đà Nẵng là cửa ngõ và trung chuyển. Khách quốc tế đến sân bay Đà Nẵng rồi từ đây đi Hội An, Mỹ Sơn, Huế và nhiều điểm đến khác ở miền Trung. Nhưng nếu chỉ làm chức năng trung chuyển thì giá trị giữ lại cho Đà Nẵng sẽ có giới hạn. Vì vậy, điều Đà Nẵng đã và đang làm là từng bước biến mình từ một cửa ngõ thành một điểm đến, tức là không chỉ đưa khách đến miền Trung mà phải tạo ra đủ lý do để khách ở lại chính Đà Nẵng.
Sau khi hợp nhất với Quảng Nam, lợi thế này được mở rộng đáng kể. Trong cùng một không gian phát triển, Đà Nẵng hiện có Đô thị cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn - hai Di sản văn hóa thế giới, cùng Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm. Như vậy, Đà Nẵng không còn chỉ có biển, Sơn Trà hay một đô thị dịch vụ hiện đại, mà có thêm một lớp tài nguyên rất dày về di sản, văn hóa, sinh thái và không gian nông thôn.
Đây là một lợi thế rất đặc biệt. Bởi trong một địa bàn, có thể tổ chức những hành trình hoàn chỉnh từ đô thị hiện đại, nghỉ dưỡng biển, vui chơi giải trí đến di sản, văn hóa và sinh thái.


Trong cùng một không gian phát triển, Đà Nẵng hiện có Đô thị cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn - hai Di sản văn hóa thế giới. (Ảnh: danangfantasticity.com)
Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm. (Ảnh: danangfantasticity.com)
Một lợi thế khác mà tôi cho rằng Đà Nẵng đã thể hiện khá rõ là khả năng sáng tạo ra sản phẩm du lịch mới. Lễ hội pháo hoa quốc tế (DIFF) là một ví dụ. Pháo hoa vốn không phải là tài nguyên tự nhiên hay di sản có sẵn của thành phố, nhưng qua nhiều năm tổ chức, Đà Nẵng đã từng bước biến DIFF thành một sự kiện thường niên có thương hiệu, tạo thêm một lý do đủ sức thuyết phục du khách lựa chọn thời điểm đến thành phố. Bà Nà cũng cho thấy một hướng tương tự. Từ điều kiện sẵn có, thông qua đầu tư và sáng tạo sản phẩm có thể hình thành một điểm đến mới với sức hút riêng.
Năng lực đó trong thời gian tới còn có thể tiếp tục được mở rộng sang kinh tế đêm, sự kiện, công nghiệp văn hóa, thể thao và du lịch biển. Về đường biển, thành phố đang định hướng chuyển dần Tiên Sa sang chức năng cảng du lịch khi Liên Chiểu đảm nhận ngày càng rõ hơn vai trò cảng hàng hóa. Việc sớm hoàn thiện quá trình chuyển đổi này rất quan trọng, bởi Tiên Sa có thể trở thành một hạ tầng phục vụ trực tiếp cho phát triển du lịch biển của Đà Nẵng và rộng hơn là miền Trung.
Ở không gian đường thủy, trong quá trình thẩm định Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075, Hội đồng thẩm định đề nghị làm sâu sắc hơn vị thế văn hóa đặc sắc của Hội An và Mỹ Sơn, đồng thời định hướng trục sông Cổ Cò - Thu Bồn - Trường Giang trở thành không gian mặt nước, sinh thái và văn hóa bản sắc. Đây là một dư địa đáng chú ý để tổ chức lại các không gian du lịch gắn với sông nước, sinh thái, văn hóa và di sản.
Cùng với đó, theo Quy hoạch Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, sân bay được quy hoạch đạt công suất khoảng 20 triệu hành khách/năm và 100.000 tấn hàng hóa/năm trong giai đoạn đến 2030.
Bến cảng Tiên Sa. (Ảnh: Báo Đà Nẵng)
Ngoài ra, Đà Nẵng đang có định hướng phát triển mạnh thể thao biển, du lịch thể thao và các sự kiện quốc tế. Nếu khai thác tốt không gian mặt nước, bờ biển và hệ thống cảng, đây có thể trở thành một dòng sản phẩm mới, bổ sung cho những thế mạnh đã có về nghỉ dưỡng, giải trí và sự kiện.
Vì vậy, tôi cho rằng lợi thế của Đà Nẵng hiện nay nằm ở sự kết hợp của ba lớp năng lực: Vị trí cửa ngõ của miền Trung; một không gian tài nguyên được mở rộng rất đặc sắc, đa dạng sau hợp nhất; và đặc biệt là năng lực tạo ra sản phẩm, sự kiện và những sức hút mới bằng đầu tư và sáng tạo. Chính sự kết hợp đó tạo nền tảng quan trọng để Đà Nẵng đảm nhiệm vai trò của một cực tăng trưởng mà Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt ra.
- Nghị quyết số 26-NQ/TW yêu cầu quản trị hệ thống du lịch dựa trên đánh giá năng lực phát triển điểm đến du lịch gắn với các tiêu chí về khách du lịch, tổng thu, mức chi tiêu, thời gian lưu trú, chất lượng điểm đến, an toàn, môi trường, chuyển đổi số và mức độ hài lòng của du khách. Theo ông, sự thay đổi này sẽ tác động như thế nào đến cách Đà Nẵng đặt mục tiêu và phân bổ nguồn lực trong giai đoạn tới?
PGS. TS. Phạm Trung Lương: Thực tế, tư duy chuyển từ chú trọng số lượng sang nâng cao chất lượng đã được ngành du lịch đặt ra từ khá sớm ngay từ trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và từng bước được hoàn thiện qua các chủ trương, chính sách trước đây. Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2017 cũng đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển du lịch theo hướng hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm và nâng cao sức cạnh tranh. Nghị quyết số 26-NQ/TW lần này tiếp tục kế thừa và khẳng định tinh thần đó trong bối cảnh đất nước chuyển mình bước vào kỷ nguyên mới, đồng thời đặt ra yêu cầu rõ hơn về cách đo lường và đánh giá hiệu quả phát triển du lịch.
Điểm tôi đánh giá cao là Nghị quyết mới đã chuyển yêu cầu nâng cao chất lượng từ một định hướng chung thành những tiêu chí có thể theo dõi và đánh giá. Hiệu quả phát triển du lịch không còn được nhìn chủ yếu qua số lượt khách, mà phải đặt trong tương quan với tổng thu, mức chi tiêu, thời gian lưu trú, chất lượng điểm đến, an toàn, môi trường, chuyển đổi số và mức độ hài lòng của du khách. Lượng khách vẫn là một chỉ tiêu cần thiết, nhưng không thể tiếp tục là thước đo trung tâm để đánh giá thành công của một điểm đến.
Bởi nếu chỉ nhìn vào số lượng rất dễ rơi vào tư duy chạy theo thành tích. Một địa phương năm nay đón nhiều khách hơn năm trước chưa chắc đã tạo ra hiệu quả kinh tế cao hơn. Điều quan trọng là khách ở lại bao lâu, chi tiêu bao nhiêu, tạo thêm bao nhiêu việc làm và đem lại giá trị gì cho kinh tế - xã hội địa phương. Ngược lại, nếu lượng khách tăng nhanh nhưng kéo theo quá tải hạ tầng, ùn tắc, ô nhiễm, rác thải, suy giảm tài nguyên và trải nghiệm của du khách thì đó không thể coi là tăng trưởng tốt.
Khi thước đo thay đổi, cách các địa phương đặt mục tiêu cũng buộc phải thay đổi. Thay vì lấy mức tăng lượt khách làm đích đến, mỗi địa phương phải xác định rõ mình cần cải thiện chỉ tiêu nào và đâu là điểm nghẽn đang hạn chế hiệu quả phát triển du lịch. Khi đó, mục tiêu phát triển sẽ cụ thể và thực chất hơn, đồng thời tạo cơ sở để lựa chọn đúng những lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư.
Sự thay đổi ấy sẽ tác động trực tiếp đến cách phân bổ nguồn lực. Nếu thời gian lưu trú ngắn, nguồn lực phải được dành cho việc bổ sung sản phẩm, hoạt động về đêm, sự kiện và những trải nghiệm có thể giữ khách ở lại. Nếu mức chi tiêu thấp, phải xem lại hệ thống mua sắm, giải trí, văn hóa, ẩm thực và các dịch vụ có khả năng tạo thêm giá trị. Nếu mức độ hài lòng thấp thì phải đầu tư vào chất lượng dịch vụ, nhân lực, vệ sinh, an toàn và môi trường điểm đến.


Hiệu quả phát triển du lịch không còn được nhìn chủ yếu qua số lượt khách, mà phải đặt trong tương quan với tổng thu, mức chi tiêu, thời gian lưu trú, chất lượng điểm đến, an toàn, môi trường, chuyển đổi số và mức độ hài lòng của du khách. (Ảnh minh họa: Quang Việt/ Lam Phương - Báo Đà Nẵng)
Tương tự, một điểm đến đã có dấu hiệu quá tải thì không thể tiếp tục chỉ tăng chi tiêu cho quảng bá để kéo thêm khách. Khi đó, ưu tiên phải chuyển sang giao thông, xử lý nước thải, rác thải, quản lý sức chứa, phân luồng khách và nâng cao năng lực vận hành điểm đến.
Nói cách khác, khi cách đánh giá thay đổi thì cách đầu tư cho du lịch cũng phải thay đổi. Nguồn lực dành cho xúc tiến, hạ tầng hay phát triển sản phẩm phải được tính toán dựa trên hiệu quả thực tế mà nó mang lại cho điểm đến.
Tuy nhiên, muốn quản trị theo cách đó thì trước hết phải đo được cho đúng. Đây vẫn là một điểm nghẽn của du lịch Việt Nam. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp; tiền của du khách không dừng ở khách sạn hay công ty lữ hành mà đi vào vận tải, ăn uống, mua sắm, vui chơi, văn hóa và rất nhiều hoạt động khác. Nếu hệ thống thống kê không nhìn thấy đầy đủ những dòng giá trị ấy, chúng ta sẽ rất khó đánh giá chính xác đóng góp thực sự của du lịch.
Bởi vậy, việc hoàn thiện phương pháp thống kê theo mô hình Tài khoản vệ tinh du lịch, kết nối các nguồn dữ liệu và chuẩn hóa cách đo lường theo thông lệ quốc tế là rất quan trọng. Khi có dữ liệu đủ chính xác về khách đến từ đâu, ở bao lâu, chi tiêu vào đâu, mức độ hài lòng thế nào và điểm đến đang chịu sức ép ở đâu, địa phương mới có cơ sở để phân bổ nguồn lực đúng chỗ.
Nghị quyết số 26-NQ/TW đã xác định khá rõ hướng đi, vấn đề là phải vượt qua được "bệnh" thành tích, xây dựng dữ liệu đủ chính xác, phương pháp thống kê phù hợp và cơ chế tổ chức thực hiện đủ tốt. Chỉ khi đo đúng thì mới có thể đặt mục tiêu đúng, phân bổ nguồn lực đúng và đánh giá đúng hiệu quả phát triển du lịch.
- Ông có nhắc đến vai trò của sự kiện và các sản phẩm mới trong việc kéo dài thời gian lưu trú, nâng mức chi tiêu của du khách. Riêng DIFF 2026, trong khoảng 6 tuần diễn ra lễ hội, thành phố đón khoảng 2,72 triệu lượt khách, tăng gần 45% so với kỳ trước; riêng 5 đêm vòng loại ghi nhận hơn 557.000 lượt khách lưu trú, tăng 34%. Đêm chung kết, công suất phòng toàn thành phố đạt khoảng 85%, riêng khu vực trung tâm lên tới 95 - 98%; lượng khách quốc tế trong ngày này tăng 27% so với cùng kỳ.
Việc Nghị quyết số 26-NQ/TW chính thức xác lập định hướng phát triển các mô hình như đô thị lễ hội, phố lễ hội, tổ hợp biểu diễn nghệ thuật, trung tâm hòa nhạc và các sản phẩm kinh tế đêm có ý nghĩa như thế nào đối với thành phố? Từ sức hút của DIFF, theo ông, một sự kiện lễ hội thường niên có khả năng đóng góp ra vào tăng trưởng kinh tế của một đô thị du lịch?
PGS. TS. Phạm Trung Lương: Nhìn vào những con số của DIFF có thể thấy sức hút của lễ hội đã tạo ra tác động khá rõ đối với hoạt động du lịch và dịch vụ của thành phố. Khi một sự kiện đủ sức hút, du khách có thể lựa chọn thời điểm đến theo lịch sự kiện, doanh nghiệp điều chỉnh công suất và sản phẩm theo dòng khách, còn các hoạt động thương mại - dịch vụ cũng được kích hoạt theo.
Ở góc độ kinh tế, giá trị của một lễ hội nằm ở khả năng chuyển dòng khách thành dòng chi tiêu. Khách đến xem pháo hoa, nhưng nếu họ ở lại lâu hơn, sử dụng thêm dịch vụ lưu trú, ăn uống, mua sắm, vận tải, vui chơi, biểu diễn nghệ thuật và trải nghiệm văn hóa thì giá trị của sự kiện sẽ lan sang nhiều ngành khác. Khi đó, một lễ hội có thể trở thành điểm khởi phát cho cả một chuỗi hoạt động kinh tế.


Nhìn vào những con số của DIFF có thể thấy sức hút của lễ hội đã tạo ra tác động khá rõ đối với hoạt động du lịch và dịch vụ của thành phố. (Ảnh: Nhiếp ảnh gia Lê Quang Thiện/ Nhiếp ảnh gia Quán Chúng)
Việc Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định rõ định hướng phát triển đô thị lễ hội, phố lễ hội, tổ hợp biểu diễn nghệ thuật, trung tâm hòa nhạc và kinh tế đêm đã tạo thêm cơ sở để Đà Nẵng tiếp tục phát huy những nền tảng sẵn có, đồng thời nâng tầm từ một lễ hội tạo sức hút thành những không gian và chuỗi hoạt động có khả năng tạo giá trị thường xuyên cho kinh tế đô thị.
Kinh tế đêm cũng cần được đặt trong mạch phát triển đó. Đà Nẵng cần hình thành những tổ hợp dịch vụ có khả năng kết nối vui chơi giải trí, ẩm thực, mua sắm với biểu diễn nghệ thuật, văn hóa, chăm sóc sức khỏe và các trải nghiệm đặc thù. Trong đó, các mô hình mua sắm chất lượng cao, kể cả hệ thống cửa hàng và tổ hợp mua sắm miễn thuế tại những khu vực đủ điều kiện cũng có thể góp phần nâng mức chi tiêu, nhất là với khách quốc tế.
Ở góc độ rộng hơn, kinh tế đêm còn là câu chuyện tổ chức không gian đô thị. Tôi từng gợi ý Đà Nẵng nghiên cứu khai thác một phần không gian ngầm cho những hoạt động phù hợp. Quan trọng hơn là phải tổ chức được những không gian đủ sức kết nối vui chơi, mua sắm, biểu diễn, ẩm thực và các dịch vụ khác. Khi được liên kết và vận hành đồng bộ, các không gian này có thể tạo thành một chuỗi trải nghiệm ban đêm đủ sức giữ khách và mở rộng giá trị mà du lịch đóng góp cho kinh tế đô thị.
Nói cách khác, khi dòng khách do sự kiện tạo ra được chuyển hóa thành dòng chi tiêu rộng hơn, lễ hội mới thực sự trở thành một động lực của kinh tế đô thị.
- Từ sức hút mà DIFF đã tạo ra, Đà Nẵng đang đầu tư thêm những điều kiện để nâng năng lực tổ chức sự kiện của thành phố. Tháng 7/2026, địa phương khởi công một tổ hợp hơn 210.000m2 ven sông Hàn, trong đó có khán đài ngoài trời gần 20.000 chỗ hướng ra khu vực trình diễn pháo hoa, cùng tháp thương mại 47 tầng, tổng vốn khoảng 10.750 tỷ đồng. Theo ông, việc một lễ hội có hạ tầng chuyên dụng sẽ mở rộng khả năng khai thác kinh tế của sự kiện như thế nào?
PGS. TS. Phạm Trung Lương: Tôi cho rằng điều đáng chú ý ở đây là cách nhìn về hạ tầng sự kiện đang thay đổi. Đây không còn chỉ là hạ tầng phục vụ cho một lễ hội cụ thể, mà có thể trở thành một loại hạ tầng kinh tế của đô thị, có khả năng tạo cầu, tổ chức dòng khách và mở ra những hoạt động dịch vụ mới.
Một không gian gần 20.000 chỗ có thể phục vụ pháo hoa, nhưng cũng có thể tiếp nhận đại nhạc hội, biểu diễn nghệ thuật, lễ hội văn hóa, sự kiện thể thao, hội nghị, triển lãm hay MICE quy mô lớn. Khi có một hạ tầng đủ chuẩn, thành phố sẽ chủ động hơn về địa điểm, kỹ thuật, dịch vụ hỗ trợ và khả năng tiếp nhận những chương trình có yêu cầu cao.
Điều này rất quan trọng bởi kinh tế sự kiện không thể chỉ dựa vào một thương hiệu đã có mà phải luôn tự làm mới. Muốn hình thành một thị trường sự kiện thực sự, thành phố phải có khả năng liên tục thu hút và tổ chức những nội dung mới như âm nhạc, điện ảnh, thể thao, văn hóa, hội nghị, triển lãm hay các chương trình quốc tế. Khi tần suất hoạt động sự kiện đủ "dày", hạ tầng được sử dụng thường xuyên hơn, doanh nghiệp có cơ sở xây dựng kế hoạch dài hạn và dòng khách cũng bớt phụ thuộc vào một vài mùa cao điểm.


Với lợi thế nằm ngay cạnh khán đài pháo hoa quốc tế DIFF và cấu nối hai bờ sông bằng các công trình biểu tượng mới, Sun Galaxy Complex chính là tâm điểm hội tụ dòng người, dòng tiền và định hình tương lai phát triển của đô thị trung tâm Đà Nẵng trong nhiều thập kỷ tới.
Hạ tầng chuyên dụng còn giúp Đà Nẵng nâng sức cạnh tranh trong việc thu hút các nhà tổ chức chuyên nghiệp. Một sự kiện lớn cần địa điểm đạt chuẩn, hệ thống kỹ thuật, khả năng vận hành, dịch vụ hỗ trợ và một hệ sinh thái doanh nghiệp đủ năng lực tham gia. Khi những điều kiện ấy có sẵn, thành phố sẽ có lợi thế lớn hơn trong việc đưa các sự kiện quy mô quốc gia và quốc tế về Đà Nẵng.
Tuy nhiên, một công trình lớn chỉ tạo ra giá trị khi được khai thác với tần suất đủ cao và có nội dung đủ hấp dẫn. Vì vậy, cùng với đầu tư hạ tầng phải là năng lực xây dựng chương trình, thu hút nhà tổ chức và hình thành một lịch sự kiện có tính liên tục.
Theo tôi, đây mới là bước chuyển đáng chú ý: Từ có một sự kiện mang thương hiệu thành phố sang có một hạ tầng và năng lực đủ sức tạo ra nhiều sự kiện mới. Khi đó, Đà Nẵng mới thực sự có nền tảng để phát triển kinh tế sự kiện như một cấu phần lâu dài của kinh tế đô thị.
- Khi các đô thị du lịch ngày càng có thể đầu tư những sản phẩm tương tự nhau như resort cao cấp, concert, trung tâm mua sắm hay kinh tế đêm, đâu sẽ là yếu tố tạo khác biệt dài hạn cho Đà Nẵng, thưa ông? Thành phố có thể đưa những giá trị của Hội An, Mỹ Sơn, văn hóa Chăm, Xứ Quảng, sông nước và biển vào các sản phẩm hiện đại như thế nào để mang dấu ấn riêng của điểm đến?
PGS. TS. Phạm Trung Lương: Càng hội nhập, càng hiện đại thì một điểm đến càng phải có bản sắc. Bởi thứ khó sao chép nhất vẫn là những giá trị được hình thành từ lịch sử, văn hóa, con người và không gian sống của chính điểm đến đó.
Với Đà Nẵng hôm nay, nguồn lực tạo nên sự khác biệt đã phong phú hơn rất nhiều so với hình ảnh của một thành phố biển trước đây. Hội An, Mỹ Sơn, văn hóa Chăm, văn hóa Xứ Quảng, hệ thống sông nước, biển và đời sống cộng đồng tạo nên nhiều lớp giá trị. Nhưng điều quan trọng là phải biết biến những giá trị ấy thành trải nghiệm mà du khách có thể nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận và ghi nhớ.
Bản sắc di sản vì vậy phải đi vào kiến trúc, âm nhạc, ẩm thực, nghệ thuật trình diễn, lễ hội, cách tổ chức không gian và cả cách kể câu chuyện của điểm đến. Khi đó, một sản phẩm dù sử dụng công nghệ hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế vẫn có thể khiến người ta nhận ra ngay đây là Đà Nẵng, đây là Việt Nam.
Ngay với DIFF, chúng ta đã thấy bản sắc có thể được đưa vào một sản phẩm mang tầm quốc tế theo cách khá rõ. Năm 2025, qua các vòng thi, đội Việt Nam đã sử dụng những ca khúc như: Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, Hào khí Việt Nam, Khát vọng hòa bình, đồng thời đưa vào màn trình diễn những hiệu ứng gợi hình ảnh cờ đỏ sao vàng, hoa sen và các biểu tượng mang dấu ấn Việt Nam. Đến DIFF 2026, Z121 tiếp tục xây dựng màn trình diễn “Gìn giữ bản sắc - Kiến tạo tương lai”, đưa hình ảnh cây cọ của vùng Đất Tổ lên bầu trời bằng công nghệ pháo hoa hiện đại và tạo cao trào trên nền Nối vòng tay lớn.
Đây là một hướng đi đáng chú ý: Tiêu chuẩn tổ chức, công nghệ và kỹ thuật có thể ở tầm quốc tế, nhưng câu chuyện được kể phải có bản sắc riêng có của mình. Bản sắc không nhất thiết được thể hiện bằng việc phục dựng nguyên vẹn những yếu tố truyền thống, mà có thể được chuyển hóa bằng nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, hình ảnh, công nghệ và ngôn ngữ nghệ thuật đương đại.
Đây cũng là hướng Đà Nẵng cần tiếp tục phát huy. Thành phố đã bước đầu cho thấy khả năng chuyển hóa những giá trị di sản văn hóa vào các sản phẩm hiện đại, giai đoạn tới cần làm sâu hơn để bản sắc không chỉ tạo nên sự nhận diện mà trở thành một nguồn lực kinh tế thực sự của du lịch. Khi một sản phẩm đủ khác biệt để khó bị sao chép, đủ giàu cảm xúc để chạm đến trái tim, được ghi nhớ và đủ hấp dẫn để khiến du khách muốn quay trở lại, khi đó bản sắc mới thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh dài hạn của điểm đến.
- Những giá trị riêng có thể giúp Đà Nẵng tạo sức hút và nâng cao sức cạnh tranh cho chính điểm đến, nhưng ở một tầng phát triển cao hơn, vai trò của một cực tăng trưởng còn được thể hiện ở khả năng tạo sức lan tỏa. Nghị quyết số 26-NQ/TW cũng yêu cầu các cực tăng trưởng cùng các đô thị di sản trở thành trung tâm du lịch trọng điểm, “đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt phát triển du lịch vùng”. Theo Phó Giáo sư, Đà Nẵng cần làm gì để thực hiện vai trò dẫn dắt ấy một cách hiệu quả?
PGS. TS. Phạm Trung Lương: Vai trò dẫn dắt của Đà Nẵng trước hết phải được nhìn ở khả năng mở đường cho những cách làm mới trong phát triển du lịch. Quy mô khách hay doanh thu là kết quả của tăng trưởng, còn năng lực của một “đầu tàu” nằm ở chỗ có thể tạo ra những ý tưởng, sản phẩm và mô hình mới, từ đó hình thành động lực để cả không gian du lịch xung quanh cùng chuyển động.
Với Đà Nẵng, tôi cho rằng sự dẫn dắt trước hết phải bắt đầu từ ý tưởng và đổi mới sáng tạo. Thành phố có thể đi trước trong việc tạo sản phẩm mới, tổ chức sự kiện, phát triển kinh tế đêm, công nghiệp văn hóa, ứng dụng công nghệ hay đổi mới phương thức quản trị điểm đến trên nền tảng chuyển đổi số. Giá trị của một mô hình thành công không chỉ nằm ở kết quả mà Đà Nẵng thu được mà còn có thể trở thành một cách làm mới, một kinh nghiệm mới, thậm chí tạo động lực để các điểm đến khác cùng thay đổi.
Bên cạnh đó, tính dẫn dắt còn phải thể hiện ở khả năng tổ chức lại dòng khách và thị trường du lịch của cả vùng. Đà Nẵng có lợi thế về khả năng tiếp cận, hệ thống dịch vụ, sự kiện và sức hút đô thị; trong khi các không gian lân cận lại có những giá trị rất khác về di sản, sinh thái, văn hóa và cộng đồng. Khi được kết nối thành những hành trình bổ trợ cho nhau, một dòng khách đến Đà Nẵng có thể tiếp tục được phân bổ sang những không gian khác, kéo dài thời gian lưu trú và mở rộng phạm vi hưởng lợi từ du lịch.
Vì vậy, vai trò đầu tàu không có nghĩa là tập trung ngày càng nhiều nguồn lực và dòng khách về một trung tâm. Ngược lại, một cực tăng trưởng mạnh phải có khả năng tạo thị trường cho khu vực xung quanh. Đà Nẵng càng phát triển mạnh về hàng không, sự kiện, giải trí, MICE hay dịch vụ chất lượng cao thì càng cần kết nối những lợi thế đó với các sản phẩm di sản, sinh thái, làng nghề, ẩm thực và văn hóa của các không gian trong vùng. Khi ấy, sức hút của trung tâm mới chuyển hóa thành sức lan tỏa.
Điều này cũng đòi hỏi một cách nhìn khác về cạnh tranh giữa các điểm đến. Một vùng du lịch mạnh phải là nơi mỗi điểm đến có một vai trò riêng, nơi mạnh về đô thị và sự kiện, nơi nổi bật về di sản, nơi có lợi thế sinh thái, nghỉ dưỡng hay văn hóa cộng đồng.
Theo tôi, thước đo cuối cùng của vai trò dẫn dắt chính là giá trị Đà Nẵng có thể tạo ra bên ngoài phạm vi của mình. Khi một sản phẩm mới, một sự kiện lớn hay một dòng khách đến Đà Nẵng có thể mở thêm thị trường, việc làm và cơ hội kinh doanh cho những không gian xung quanh, ở những địa phương phụ cận trong vùng Nam Trung Bộ - Tây Nguyên và rộng hơn là cả khu vực miền Trung -Tây Nguyên, lúc đó “đầu tàu” mới thực sự kéo được cả vùng cùng đi lên. Và đó cũng là ý nghĩa đầy đủ nhất của chữ “dẫn dắt” trong phát triển du lịch vùng.
- Có thể nói vai trò dẫn dắt cũng cần được thể hiện trong cách tổ chức không gian tăng trưởng. Thực tế, mỗi khu vực của thành phố có điều kiện và giới hạn rất khác nhau: Trung tâm đô thị, các không gian sự kiện, giải trí có thể tiếp tục tăng cường độ hoạt động, trong khi Hội An, Mỹ Sơn, Cù Lao Chàm hay Sơn Trà lại chịu những giới hạn rõ hơn về sức chứa, môi trường và bảo tồn. Theo ông, thành phố có cần áp dụng những mô hình tăng trưởng khác nhau cho từng khu vực, nơi tăng khách, tăng chi tiêu trên mỗi khách, nhưng có nơi phải chủ động giới hạn lượng khách?
PGS. TS. Phạm Trung Lương: Đây là một thay đổi rất cần thiết trong tư duy phát triển. Không thể dùng một công thức tăng trưởng cho tất cả các không gian du lịch, bởi mỗi nơi có một giá trị, một chức năng và một ngưỡng chịu tải khác nhau.
Ở những khu vực đô thị trung tâm, không gian sự kiện, thương mại, giải trí hay kinh tế đêm, thành phố vẫn có thể tăng cường độ hoạt động, tạo thêm sản phẩm, kéo dài thời gian khai thác và thu hút nhiều dòng khách hơn nếu hạ tầng cho phép. Nhưng với những nơi như Hội An, Mỹ Sơn, Cù Lao Chàm hay Sơn Trà, mục tiêu không thể chỉ là tiếp tục tăng số lượng khách. Đây là những không gian có giới hạn rõ về sức chứa, môi trường, di sản và khả năng chịu tải. Nếu vượt quá ngưỡng, tăng trưởng về lượng rất dễ làm suy giảm chính tài nguyên tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến.
Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “mỗi điểm đến đều phải tăng lượng khách” sang tư duy mỗi không gian phải tạo ra giá trị phù hợp với khả năng chịu tải của mình.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu phân vai rõ hơn trong toàn bộ không gian du lịch. Khu vực trung tâm có thể đảm nhiệm vai trò tạo sự kiện, giải trí, mua sắm, MICE và các hoạt động có cường độ cao; các không gian di sản cần chú trọng chiều sâu văn hóa và trải nghiệm; còn những khu vực sinh thái nhạy cảm phải ưu tiên bảo tồn, kiểm soát sức chứa và nâng giá trị thu được trên mỗi lượt khách thay vì tiếp tục gia tăng số lượng.
Muốn làm được như vậy thì quản lý sức chứa phải trở thành một công cụ thực sự trong điều hành điểm đến. Thành phố phải biết ở từng khu vực, từng thời điểm, lượng khách bao nhiêu là phù hợp; hạ tầng đang chịu áp lực ở đâu; môi trường, di sản và đời sống cộng đồng đang bị tác động đến mức nào. Trên cơ sở đó mới có thể điều tiết dòng khách, tổ chức thời gian tham quan, phân bổ hoạt động và thiết kế sản phẩm phù hợp.
Nhưng quản lý sức chứa mới chỉ là một phần của bài toán. Về lâu dài, Đà Nẵng còn phải chuyển sang mô hình mà tăng trưởng du lịch không kéo theo mức tiêu hao tài nguyên và chi phí môi trường tăng tương ứng, hướng đến mô hình du lịch tái tạo. Những bước đi gần đây cho thấy Đà Nẵng đã bắt đầu cụ thể hóa yêu cầu phát triển xanh. Tháng 8/2026, thành phố công bố Bộ tiêu chí Cơ sở lưu trú du lịch xanh - Da Nang Green Stay với 219 tiêu chí thuộc 9 nhóm, qua đó từng bước đưa “xanh” từ một thông điệp quảng bá thành tiêu chuẩn trong vận hành và nâng cao chất lượng dịch vụ. Xa hơn, cần tiến từ những cơ sở du lịch xanh tới một điểm đến xanh, nơi chất lượng môi trường trở thành một phần của chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh.
Tôi cho rằng biết lựa chọn đúng nhịp tăng trưởng cho từng không gian, đồng thời tạo ra nhiều giá trị và ít áp lực hơn lên tài nguyên và môi trường, tái sử dụng các giá trị tài nguyên du lịch chính là cách Đà Nẵng vừa khai thác được dư địa phát triển, vừa giữ được những tài sản làm nên sức hấp dẫn lâu dài của điểm đến.
- Chính sự khác biệt về mô hình phát triển và ngưỡng chịu tải giữa các không gian đang đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực quản trị điểm đến. Theo ông, Đà Nẵng cần xây dựng cơ chế quản trị điểm đến như thế nào, đặc biệt trong việc kết nối dữ liệu về dòng khách, giao thông, sức chứa, môi trường, chi tiêu và phản hồi du khách, để có thể dự báo, điều tiết và ra quyết định gần với thời gian thực?
PGS. TS. Phạm Trung Lương: Tôi cho rằng điểm cốt lõi là phải chuyển từ cách quản lý tương đối phân tán theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị điểm đến dựa trên nền tảng chuyển đổi số, dữ liệu và cơ chế phối hợp liên ngành. Du lịch là một hệ sinh thái, nên một quyết định về dòng khách cũng đồng thời liên quan đến giao thông, môi trường, lưu trú, thương mại, di sản và đời sống cộng đồng.
Ở đây, dữ liệu có vai trò rất quan trọng. Thành phố cần biết khách đang tập trung ở đâu, di chuyển theo hướng nào, thời gian lưu trú bao lâu, mức chi tiêu ra sao, khu vực nào bắt đầu có dấu hiệu quá tải, môi trường đang chịu sức ép ở đâu và du khách đang phản hồi điều gì. Nếu những thông tin này nằm rời rạc ở từng ngành, từng đơn vị thì rất khó tạo ra một bức tranh chung để ra quyết định.
Vì vậy, Đà Nẵng cần tiến tới một hệ thống dữ liệu điểm đến được kết nối và cập nhật thường xuyên, trong đó dữ liệu du lịch có thể liên thông với giao thông, môi trường, lưu trú, thương mại, sự kiện và phản hồi của du khách. Điều quan trọng không phải là có thật nhiều dữ liệu, mà là biến dữ liệu thành khả năng nhận biết, dự báo và phản ứng nhanh của bộ máy quản lý.
Chẳng hạn, khi một khu vực bắt đầu tiến gần ngưỡng sức chứa, hệ thống phải đủ khả năng cảnh báo để thành phố điều tiết dòng khách, phân luồng giao thông, điều chỉnh lịch hoạt động hoặc giới thiệu những không gian thay thế. Khi một sự kiện lớn diễn ra, dữ liệu cũng phải giúp dự báo trước lượng khách, nhu cầu lưu trú, vận tải, dịch vụ và những áp lực có thể phát sinh. Quản trị điểm đến hiện đại phải chuyển dần từ phản ứng sau sự việc sang dự báo và chủ động điều hành.
Nhưng bên cạnh công nghệ, quan trọng hơn vẫn là cơ chế phối hợp. Du lịch không thể tự mình giải quyết bài toán giao thông, môi trường, an ninh, văn hóa hay thương mại. Vì vậy, cần một cơ chế điều phối đủ mạnh để dữ liệu từ các lĩnh vực được chia sẻ, cùng được phân tích và cuối cùng dẫn tới một quyết định thống nhất. Nếu dữ liệu được kết nối nhưng mỗi ngành vẫn vận hành theo một mục tiêu riêng thì hiệu quả quản trị sẽ không thay đổi nhiều.
Nói cách khác, đây là bước chuyển từ quản lý các hoạt động du lịch sang quản trị cả hệ sinh thái điểm đến. Khi thành phố có thể nhìn thấy dòng khách, dòng chi tiêu, sức ép lên hạ tầng và môi trường gần với thời gian thực, đồng thời có cơ chế đủ linh hoạt để điều phối thì mới có thể vừa khai thác tốt cơ hội tăng trưởng, vừa giữ được chất lượng và khả năng chịu tải của điểm đến.
- Một cơ chế quản trị tốt tạo nền tảng để hệ sinh thái du lịch vận hành hiệu quả, nhưng để liên tục hình thành những sản phẩm, thị trường và động lực tăng trưởng mới còn cần những chủ thể đủ năng lực dẫn dắt. Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định doanh nghiệp là lực lượng tiên phong trong phát triển du lịch, đồng thời đặt yêu cầu thu hút các nhà đầu tư chiến lược tham gia phát triển hạ tầng du lịch, hạ tầng tiếp cận điểm đến, hạ tầng phi lợi nhuận và hạ tầng xã hội gắn với các dự án du lịch trọng điểm.
Thưa ông, vai trò của những doanh nghiệp dẫn dắt cần được nhìn nhận như thế nào trong giai đoạn Đà Nẵng hướng tới một cực tăng trưởng du lịch? Làm thế nào để năng lực đầu tư và sáng tạo của doanh nghiệp có thể tạo ra những động lực mới cho cả hệ sinh thái du lịch thành phố?
PGS. TS. Phạm Trung Lương: Trong phát triển du lịch, vốn tài chính lớn có thể tạo ra một dự án lớn, nhưng đổi mới sáng tạo mới có thể tạo ra một thị trường mới. Vì vậy, vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt không nên được nhìn trước hết ở số vốn đầu tư hay số lượng dự án, mà cần nhìn thấu đáo hơn ở khả năng tạo ra những thứ trước đó điểm đến chưa có: Một sản phẩm mới, một lý do mới để du khách tìm đến, một chuẩn dịch vụ mới, thậm chí một cách trải nghiệm và tiêu dùng du lịch mới.
Nhìn vào Đà Nẵng có thể thấy khá rõ sự thay đổi này. Sun World Ba Na Hills là một ví dụ về việc từ đầu tư và sáng tạo có thể hình thành một điểm hút khách mới; DIFF cho thấy doanh nghiệp có thể tham gia cùng thành phố xây dựng một sự kiện trở thành thương hiệu của điểm đến; còn những dự án như Da Nang Downtown hay Sun Galaxy Complex lại đi thêm một bước khi gắn sản phẩm du lịch với hạ tầng sự kiện, thương mại, giải trí và kinh tế đêm. Nghĩa là vai trò của doanh nghiệp đang dần mở rộng từ phát triển một dự án sang tham gia kiến tạo những cấu phần của cả hệ sinh thái du lịch.





Sun World Ba Na Hills được ví như “Disneyland” tại Việt Nam.
Đây là điều rất cần đối với một cực tăng trưởng. Bởi Nhà nước có vai trò hoạch định chính sách, định hướng phát triển, xây dựng thể chế và hạ tầng nền tảng, nhưng thị trường cần những doanh nghiệp đủ năng lực để biến các định hướng đó thành sản phẩm cụ thể, chấp nhận đầu tư lớn, thử nghiệm những mô hình mới và tổ chức vận hành ở quy mô chuyên nghiệp. Chính khu vực tư nhân có thể rút ngắn khoảng cách từ một ý tưởng phát triển đến một sản phẩm thực sự đi vào thị trường.
Nhưng giá trị của doanh nghiệp dẫn dắt không dừng ở sản phẩm mà họ trực tiếp tạo ra. Một dự án mới, một sự kiện lớn hay một không gian giải trí mới, nếu đủ sức hút sẽ kéo theo nhu cầu về lưu trú, vận tải, thương mại, ẩm thực, văn hóa và nhiều dịch vụ khác. Khi đó, tác động của doanh nghiệp đã vượt ra ngoài phạm vi của chính dự án và bắt đầu tạo thêm động lực cho cả hệ sinh thái du lịch.
- Khi những doanh nghiệp lớn ngày càng tham gia sâu vào việc tạo sản phẩm, sự kiện, hạ tầng và sức hút cho điểm đến, vấn đề tiếp theo là làm thế nào để những động lực đó lan tỏa rộng hơn trong nền kinh tế địa phương. Theo Phó Giáo sư, cần những cơ chế kết nối như thế nào để doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh, làng nghề và cộng đồng địa phương có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị được tạo ra từ các dự án và dòng khách lớn, qua đó cùng hưởng lợi từ sự phát triển của một cực tăng trưởng du lịch?
PGS. TS. Phạm Trung Lương: Đây chính là “phép thử” thực sự của sức lan tỏa. Nghị quyết số 26-NQ/TW cũng nhấn mạnh Nhân dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng. Vì vậy, giá trị của một cực tăng trưởng nằm ở khả năng từ những điểm sáng đã hình thành tiếp tục mở rộng thị trường, việc làm, sinh kế và cơ hội kinh doanh cho nhiều chủ thể khác.
Muốn vậy, trước hết phải biến dòng khách thành dòng giá trị cho địa phương. Một khu nghỉ dưỡng, một tổ hợp giải trí hay một sự kiện lớn có thể đưa hàng triệu lượt khách đến, nhưng sức lan tỏa sẽ còn hạn chế nếu phần lớn nhu cầu của dòng khách ấy được đáp ứng trong một chuỗi khép kín. Ngược lại, khi thực phẩm, ẩm thực, hàng thủ công, quà tặng, vận tải, biểu diễn nghệ thuật, hướng dẫn hay những trải nghiệm văn hóa được cung cấp bởi nhiều chủ thể địa phương, giá trị từ du lịch sẽ được giữ lại và phân bổ rộng hơn trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, không thể chỉ yêu cầu doanh nghiệp lớn “mua hàng địa phương” hay đưa cộng đồng vào chuỗi giá trị một cách hình thức. Doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và làng nghề cũng phải được hỗ trợ để nâng chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn dịch vụ, kỹ năng số, khả năng kể câu chuyện và năng lực tham gia vào những chuỗi cung ứng có yêu cầu ngày càng cao. Ở đây, doanh nghiệp lớn có thể dẫn dắt về tiêu chuẩn, thị trường và đào tạo; Nhà nước tạo cơ chế và nền tảng kết nối; còn các chủ thể địa phương phải tự nâng năng lực để thực sự trở thành một mắt xích có giá trị trong chuỗi.
Sự kết nối đó cũng cần được mở rộng từ chuỗi cung ứng sang chính hành trình của du khách. Khách đến một khu vui chơi, một lễ hội hay một tổ hợp nghỉ dưỡng cần có thêm lý do để tiếp tục đi tới làng nghề, không gian ẩm thực, khu vực nông thôn, sinh thái hay những điểm văn hóa cộng đồng. Khi dòng khách được kết nối thành nhiều lớp trải nghiệm, giá trị kinh tế cũng theo đó được phân bổ rộng hơn thay vì tập trung tại một vài dự án hay một vài khu vực.
Tôi đặc biệt cho rằng cộng đồng địa phương cũng cần được nhìn như một chủ thể tạo ra giá trị. Chính đời sống, văn hóa, nghề truyền thống, ẩm thực và những câu chuyện của cộng đồng tạo nên phần bản sắc mà các dự án lớn rất khó tự mình tạo ra. Nếu người dân có thể tham gia bằng sản phẩm, dịch vụ và tri thức bản địa của mình, thì họ vừa có thêm sinh kế, vừa trở thành lực lượng trực tiếp gìn giữ những giá trị làm nên sức hấp dẫn lâu dài của điểm đến.
Khi doanh nghiệp lớn có thể dẫn dắt, doanh nghiệp nhỏ có thể tham gia, cộng đồng có thể tạo giá trị và cùng được hưởng lợi, khi đó tăng trưởng mới có chiều sâu, có sức lan tỏa và có khả năng bền vững lâu dài.
Xét đến cùng, vai trò tiên phong của doanh nghiệp trong giai đoạn tới cần được nhìn ở ba khả năng: Dám tạo ra sản phẩm mới, đủ năng lực nâng chuẩn điểm đến và đủ sức kéo rộng chuỗi giá trị. Nếu ba yếu tố này được phát huy tốt, nguồn lực tư nhân sẽ không chỉ bổ sung vốn đầu tư cho du lịch mà còn trở thành một trong những động lực giúp Đà Nẵng liên tục làm mới mình và củng cố vai trò của một cực tăng trưởng du lịch.
- Xin trân trọng cảm ơn PGS. TS. Phạm Trung Lương về những chia sẻ và gợi mở đối với hành trình Đà Nẵng phát huy vai trò cực tăng trưởng du lịch theo hướng tạo giá trị, lan tỏa và phát triển bền vững!


Gần hai thập kỷ diễn ra, DIFF với sự đồng hành tài trợ và tổ chức của Sun Group vẫn cho thấy sức hút chưa bao giờ hạ nhiệt. (Ảnh: DIFF 2026)












