PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan: Doanh nghiệp tư nhân là lực lượng quan trọng trong quá trình hình thành các cực tăng trưởng mạnh
Mục tiêu tăng trưởng trên 10%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030 đang đặt ra yêu cầu hình thành các cực tăng trưởng mạnh và mở rộng không gian phát triển. Trong bối cảnh đó, khu vực doanh nghiệp tư nhân đang chuyển dịch từ vai trò tham gia sang chủ động dẫn dắt, góp phần hình thành các cực tăng trưởng mới và mở rộng dư địa cho nền kinh tế.
Ngày 24/4, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030, đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên. Đến năm 2030, Việt Nam hướng tới trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng này, một trong những động lực quan trọng là hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu, đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Chia sẻ với Reatimes, PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan, Ủy viên BCH Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, nguyên Phó Cục trưởng Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) cho rằng, doanh nghiệp tư nhân ngày càng được nhìn nhận là lực lượng quan trọng trong huy động nguồn lực, mở rộng không gian và dư địa phát triển của nền kinh tế.
- Thưa PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan, trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, việc hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu là một trong những nhiệm vụ trọng yếu. Vì sao yêu cầu này lại trở nên cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, thưa bà?
PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan: Nền kinh tế đang theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nhanh, nhưng phải bền vững và duy trì được mức tăng trưởng cao trong một thời gian tương đối dài. Điều này đòi hỏi phải tạo ra những “đầu tàu” kinh tế, những khu đô thị đủ sức lan tỏa, kéo theo các khu vực khác cùng phát triển; cũng như các đặc khu kinh tế đủ tầm để thu hút nguồn lực từ bên ngoài.
Hơn nữa, khi dư địa tăng trưởng theo chiều rộng dần thu hẹp, việc tạo ra những không gian phát triển mới có tính đột phá, trở thành điều kiện để duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững.
Thực tế, nguồn lực phát triển hiện vẫn có xu hướng phân tán, trong khi khả năng đầu tư của Nhà nước và xã hội là có hạn. Nếu tiếp tục phát triển dàn trải, rất khó hình thành các trung tâm kinh tế đủ quy mô để tạo ra sức lan tỏa. Vì vậy, việc hình thành các cực tăng trưởng mạnh chính là cách để tập trung nguồn lực, nâng cao hiệu quả đầu tư và tạo ra những "đầu kéo" đóng vai trò dẫn dắt.
Ở góc độ cạnh tranh, xu hướng thu hút đầu tư hiện nay cũng đòi hỏi phải có những không gian phát triển đủ lớn, đủ hạ tầng và đủ kết nối. Các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư quốc tế, thường lựa chọn những khu vực có khả năng cung cấp đồng bộ về hạ tầng, logistics, lao động và thị trường. Điều này càng cho thấy vai trò của các cực tăng trưởng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Vì vậy, định hướng phát triển mà Đại hội XIV của Đảng đặt ra được xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong thời gian tới. Thực chất, đó là cách tổ chức lại nền kinh tế, tổ chức lại không gian phát triển, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế, tạo thêm dư địa phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng trên 10%.
Trong đó, việc sáp nhập, sắp xếp lại đơn vị hành chính, tăng cường liên kết vùng, hình thành các thực thể kinh tế có quy mô lớn hơn là để tạo ra những không gian phát triển mới, kết nối và khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực. Ví dụ, khi các địa phương được “tái cấu trúc” theo hướng tích hợp, có cả vùng đồng bằng, trung du, miền núi, ven biển, thì dư địa phát triển cũng mở rộng, tập trung bổ trợ lẫn nhau về lợi thế về đất đai, tài nguyên, logistics, công nghiệp, du lịch…
Có thể nói, việc hình thành các cực tăng trưởng mạnh là một cách tiếp cận để tổ chức lại không gian phát triển, tập trung nguồn lực và tạo ra dư địa mới cho nền kinh tế.
- Bên cạnh ý nghĩa kinh tế, việc hình thành các cực tăng trưởng trước hết gắn với việc tổ chức lại không gian phát triển. Vậy từ góc nhìn quy hoạch, bà đánh giá như thế nào về vai trò của quy hoạch không gian, bao gồm hệ thống đô thị, các hành lang kinh tế và trục phát triển, trong việc định hình và vận hành các cực tăng trưởng?
PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan: Theo tôi, quy hoạch không gian phát triển giữ vai trò rất quan trọng, vì nó quyết định cách nền kinh tế được tổ chức trên thực tế. Quy hoạch trước hết xác định chức năng phát triển của từng khu vực và tổ chức hệ thống hạ tầng kết nối. Khi quy hoạch rõ ràng và môi trường đầu tư ổn định, nguồn lực xã hội sẽ tìm đến, qua đó hình thành các không gian phát triển, như các cụm công nghiệp, đô thị, dịch vụ hay logistics.
Thực tế cho thấy, mỗi giai đoạn phát triển đòi hỏi một cách tiếp cận quy hoạch phù hợp với năng lực kinh tế và nguồn lực xã hội. Nếu đặt mục tiêu quá cao trong khi tiềm lực còn hạn chế, quy hoạch sẽ khó khả thi. Trước đây, chúng ta từng mở rộng không gian phát triển ở quy mô lớn, nhưng do nguồn lực phân tán nên việc triển khai gặp nhiều trở ngại.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế đa thành phần phát triển mạnh mẽ hơn, nguồn lực không còn dựa chủ yếu vào ngân sách nhà nước, mà đã có sự tham gia mạnh mẽ của khu vực tư nhân, vốn đầu tư nước ngoài và nhiều nguồn lực xã hội khác. Chính sự đa dạng hóa này là căn cứ để chúng ta mạnh dạn hơn trong việc xây dựng các cực tăng trưởng, các hành lang kinh tế…
Ở tầm quốc gia, xu hướng phát triển theo vùng, theo trục đang ngày càng rõ hơn. Chẳng hạn, việc Đồng Nai chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 30/4, cùng với định hướng thúc đẩy một số địa phương như Quảng Ninh, Bắc Ninh, Khánh Hòa hay Ninh Bình phát triển theo mô hình đô thị trung tâm, cho thấy vai trò của các đô thị động lực trong cấu trúc tăng trưởng mới ngày càng được nhấn mạnh.
Đồng Nai chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 30/4, được xác định là cửa ngõ logistics và phát triển theo hướng kinh tế công nghiệp - nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất chế tạo xanh. (Ảnh đồ hoạ)
Ở cấp độ từng đô thị, việc tổ chức không gian bên trong cũng rất quan trọng. Hà Nội mở rộng theo các trục đô thị mới; Hải Phòng phát triển gắn với cảng biển, khu kinh tế và khu công nghiệp… Khi các trục phát triển, vùng động lực và hạ tầng kết nối được tổ chức hợp lý, đô thị không chỉ mở rộng về quy mô, mà còn hình thành các cực tăn trưởng mạnh có sức lan tỏa lớn trong nội vùng và liên vùng.
Khi không gian phát triển được định hình rõ, Nhà nước có thể tập trung đầu tư vào hạ tầng khung như giao thông, tiện ích công, năng lượng để tạo nền tảng. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân sẽ đóng vai trò phát triển các dự án chức năng cụ thể, tạo ra giá trị cho nền kinh tế.
Có thể nói, quy hoạch là công cụ tổ chức, kiến tạo không gian phát triển. Khi được thiết kế hợp lý và gắn với năng lực thực thi, nó sẽ tạo điều kiện để các cực tăng trưởng hình thành và tạo sức lan tỏa thực sự trong nền kinh tế.
- Chuyên gia vừa phân tích vai trò của các cực tăng trưởng mạnh trong không gian phát triển quốc gia, đồng thời cũng đề cập đến khu vực kinh tế tư nhân như một động lực quan trọng. Vậy trong cấu trúc mô hình tăng trưởng mới, bà nhìn nhận thế nào về vai trò của lực lượng tư nhân?
PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan: Qua một chặng đường phát triển kéo dài nhiều thập kỷ, đến nay, kinh tế tư nhân đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng nhất của nền kinh tế. Các số liệu thống kê cho thấy khu vực này đóng góp hơn 50% GDP, tạo ra khoảng 85% việc làm cho xã hội. Nhưng điều quan trọng hơn, tư nhân không chỉ đóng góp về quy mô, mà còn tạo ra sự năng động, đổi mới, sức cạnh tranh cùng khát vọng vươn ra thế giới. Chính từ nền tảng đó, vai trò của khu vực tư nhân đã chuyển từ “tham gia” sang “dẫn dắt” ở nhiều lĩnh vực.
Trong bối cảnh hiện nay, khi Nhà nước tập trung đầu tư hạ tầng khung và định hình không gian phát triển, khu vực tư nhân có điều kiện tham gia sâu hơn vào việc phát triển các dự án quy mô lớn, như xây dựng các đại đô thị, khu công nghiệp, dịch vụ và hạ tầng. Ở nhiều nơi, chính doanh nghiệp tư nhân là lực lượng tiên phong, góp phần quan trọng hình thành các trung tâm kinh tế mới, qua đó định hình các cực tăng trưởng mạnh. Như vậy có thể nói, sự phát triển của khu vực tư nhân là điều kiện cần trong quá trình hình thành mô hình tăng trưởng mới.
- Từ góc độ thực tiễn, bà có thể chia sẻ rõ hơn khu vực doanh nghiệp tư nhân hiện nay đang tham gia vào nhiệm vụ kiến tạo các cực tăng trưởng mạnh như thế nào? Cụ thể hơn, vai trò của họ thể hiện ra sao trong việc hình thành các khu đô thị mới, khu công nghiệp xanh hay các tổ hợp dịch vụ - công nghệ cao?
PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan: Nếu nhìn từ thực tiễn phát triển, có thể thấy sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân vào việc hình thành các cực tăng trưởng mạnh ngày càng rõ nét và mang tính dẫn dắt ở nhiều địa phương.
Tại nhiều tỉnh, thành phố, sự xuất hiện của các tập đoàn tư nhân gắn với các dự án quy mô lớn đã trực tiếp tạo ra những không gian phát triển mới. Đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp, các khu công nghiệp, tổ hợp sản xuất - dịch vụ được hình thành đã trở thành hạt nhân tăng trưởng. Những địa phương như Bình Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên hay Vĩnh Phúc (cũ) là những ví dụ điển hình.
Điều đáng chú ý là, chỉ cần một hoặc một vài dự án quy mô lớn được triển khai, có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa rất nhanh. Các dự án này không chỉ đóng góp trực tiếp vào GRDP của địa phương, mà còn kéo theo sự phát triển của hạ tầng, dịch vụ, logistics và thị trường lao động. Nhờ đó, cấu trúc kinh tế địa phương được tái định hình, phát triển đột phá hơn.
Ở lĩnh vực đô thị, vai trò của doanh nghiệp tư nhân cũng rất rõ ràng. Nhiều khu đô thị quy mô lớn không chỉ cung cấp nhà ở mà còn hình thành hệ sinh thái dịch vụ, thương mại, giáo dục, y tế…, qua đó tạo ra một không gian đô thị hiện đại, năng động.
Tại nhiều tỉnh, thành phố, sự xuất hiện của các tập đoàn tư nhân gắn với các dự án quy mô lớn đã trực tiếp tạo ra những không gian phát triển mới. (Ảnh minh hoạ)
Bên cạnh đó, với sự linh hoạt và tầm nhìn xa của mình, doanh nghiệp tư nhân cũng đang là chủ các khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái, gắn với tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và liên kết chuỗi. Điều này giúp nâng cao chất lượng tăng trưởng và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Tương tự, các dự án đô thị mới cũng đang phát triển theo hướng tích hợp đa chức năng, không chỉ là nơi ở mà còn gắn với thương mại, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và công nghệ. Một số khu vực đã hình thành các tổ hợp dịch vụ - công nghệ cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn và việc làm chất lượng cao, qua đó đóng vai trò ngày càng rõ nét trong cấu trúc tăng trưởng.
Các dự án của khu vực tư nhân cũng thường gắn với việc phát triển hạ tầng kết nối giao thông, tiện ích đô thị. Khi các dự án được liên kết với nhau, chúng hình thành nên các cụm phát triển, tạo ra động lực tăng trưởng mới cho cả khu vực.
Có thể thấy, mỗi dự án lớn của doanh nghiệp tư nhân, nếu được đặt đúng vị trí trong quy hoạch, đều có thể trở thành một “cực tăng trưởng” thu nhỏ. Khi nhiều cực như vậy được hình thành và kết nối sẽ tạo ra sức bật tổng thể cho một đô thị, một khu vực và lan toả ra cả nền kinh tế.
Do đó, trong bối cảnh hiện nay, khu vực tư nhân vừa là lực lượng tham gia, vừa là lực lượng kiến tạo không gian phát triển và định hình các cực tăng trưởng. Trong đó, mỗi dự án của doanh nghiệp là một phần của không gian phát triển đang được hình thành trên thực tế.
- Những năm qua, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển các dự án hạ tầng phát triển quốc gia ngày càng rõ nét, thậm chí đảm nhận những dự án quan trọng mà trước nay chủ yếu do Nhà nước triển khai. Theo chuyên gia, sự chuyển dịch này có ý nghĩa như thế nào đối với việc hình thành các cực tăng trưởng?
PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan: Thực tế lâu nay, Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư hạ tầng khung, đặc biệt là các công trình có tính nền tảng như giao thông, năng lượng hay hạ tầng kỹ thuật. Đây là điều kiện cần để hình thành các không gian phát triển. Trên nền tảng đó, khu vực tư nhân tham gia phát triển các dự án cụ thể, từ đô thị, công nghiệp đến dịch vụ.
Tuy nhiên, với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, đặc biệt là đòi hỏi nguồn lực rất lớn (ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong nhiệm kỳ 2025 - 2030), cách phân bổ trách nhiệm đang có sự điều chỉnh rõ nét. Theo đó, Nhà nước đang từng bước mở rộng không gian cho khu vực tư nhân tham gia vào các lĩnh vực hạ tầng trọng điểm trước đây chủ yếu do vốn đầu tư công đảm nhiệm, như sân bay, cảng biển, đường cao tốc, đường sắt cao tốc... Đây là hướng đi cần thiết, bởi nếu chỉ dựa vào ngân sách thì rất khó đáp ứng nhu cầu đầu tư lớn trong thời gian ngắn.
Trên thực tế, Việt Nam đã triển khai một số mô hình hợp tác công - tư (PPP), nhưng hiệu quả chưa đồng đều. Vấn đề không nằm ở chủ trương, mà chủ yếu ở cơ chế thực hiện, đặc biệt là phân chia lợi ích và rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Các nguyên tắc này chưa rõ ràng thì dự án dễ phát sinh chi phí cao, tiến độ hoặc chất lượng chưa đạt kỳ vọng.
Nếu xử lý được điểm này, việc thu hút khu vực tư nhân tham gia phát triển hạ tầng sẽ tạo ra lợi ích kép. Một mặt, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước; mặt khác, tạo thêm dư địa phát triển và nâng cao vai trò của doanh nghiệp. Khi tham gia vào hạ tầng, doanh nghiệp không chỉ hướng đến lợi nhuận trước mắt, mà còn quan tâm đến hiệu quả dài hạn, uy tín và vị thế trên thị trường.
Khu vực tư nhân cũng thường chủ động tiếp cận công nghệ mới, tiêu chuẩn cao, do đó sẽ góp phần nâng chất lượng hạ tầng và không gian đô thị. Trong bối cảnh nguồn lực nhà nước còn hạn chế, tôi cho là việc tạo cơ chế để khu vực tư nhân tham gia sâu hơn vào phát triển hạ tầng là rất cần thiết nhằm kiến tạo không gian phát triển và thúc đẩy các cực tăng trưởng trên thực tế.
- Theo bà, những rào cản nào đang hạn chế khu vực doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào quá trình kiến tạo không gian phát triển và các động lực tăng trưởng hiện nay?
PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan: Có thể thấy, về mặt chủ trương, định hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân hiện nay là rất rõ ràng khi đã mở đường, trao cơ hội, khuyến khích và cổ vũ doanh nghiệp.
Tuy nhiên, không phải lúc nào các cơ chế, chính sách cũng được triển khai một cách đầy đủ và hiệu quả. Đơn cử, dù chúng ta đã có định hướng giao quyền sử dụng đất, ưu đãi thuế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận cơ hội đầu tư…, nhưng khi triển khai trên thực tế vẫn phải tuân theo các trình tự, thủ tục nhất định để kiểm soát rủi ro. Nhưng đồng thời, điều đó cũng có thể làm giảm tính linh hoạt và tốc độ triển khai của doanh nghiệp.
Ở một số lĩnh vực, khi cơ chế chưa hoàn thiện, quá trình triển khai có thể phát sinh sai phạm. Khi đó, hoạt động thanh tra, kiểm tra được siết chặt hơn, khiến môi trường đầu tư trở nên thận trọng và doanh nghiệp e ngại hơn khi tham gia các dự án lớn, dài hạn.
Vì vậy, bài toán đặt ra là phải “mở” nhưng có kiểm soát. Mở để tạo cơ hội cho doanh nghiệp phát triển, đồng thời phải có cơ chế quản lý minh bạch, hiệu quả để hạn chế thất thoát nguồn lực và phát sinh tiêu cực. Doanh nghiệp cần một môi trường ổn định, có thể dự đoán được rủi ro để yên tâm đầu tư dài hạn. Đồng thời, Nhà nước cũng cần đổi mới phương thức quản lý, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm hiệu quả hơn, ứng dụng công nghệ để giám sát, chứ không phụ thuộc nhiều vào thủ tục hành chính.
- Từ những “nút thắt” bà vừa nêu, cần điều kiện và cơ chế như thế nào để khu vực doanh nghiệp tư nhân không chỉ tham gia, mà còn có thể chủ động góp phần định hình các không gian phát triển?
PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan: Trước hết, nếu môi trường đầu tư minh bạch và ổn định, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc lựa chọn cơ hội và triển khai dự án, nhất là đối với các dự án có vòng đời đầu tư dài và quy mô lớn.
Ở góc độ thị trường, khu vực doanh nghiệp tư nhân vận hành trên cơ sở tự chủ, tự quyết và theo đuổi hiệu quả đầu tư. Khi môi trường đầu tư kinh doanh đủ rõ ràng và ổn định, doanh nghiệp sẽ chủ động tìm kiếm và đề xuất các cơ hội phát triển. Như vậy, điều quan trọng ở đây là khơi dậy được khát vọng phát triển và tinh thần đóng góp của họ.
Thứ hai, là thiết kế được cơ chế phân bổ nguồn lực và chia sẻ rủi ro hợp lý. Đối với các dự án quy mô lớn, đặc biệt là hạ tầng, nếu toàn bộ rủi ro dồn về phía doanh nghiệp thì khó thu hút đầu tư. Vì vậy, cần cơ chế chia sẻ phù hợp giữa Nhà nước và doanh nghiệp, như hỗ trợ giải phóng mặt bằng, hoặc bảo đảm đầu ra trong một số trường hợp.
Thứ ba, Nhà nước tiếp tục đầu tư và hoàn thiện hạ tầng khung như giao thông, năng lượng... để tạo nền tảng để hình thành các không gian phát triển. Khi Nhà nước tập trung tốt vào các nhiệm vụ này sẽ hình thành được không gian để khu vực tư nhân phát triển các hiệu quả dự án cụ thể. Thực tế tại nhiều địa phương mạnh về công nghiệp như Hải Phòng, Bắc Ninh... cho thấy, khi hạ tầng được hoàn thiện, khu vực tư nhân đã nhanh chóng tham gia phát triển khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ, từ đó hình thành các không gian và dư địa tăng trưởng mới.
Ngoài ra, xu hướng mới cũng cho thấy khi có cơ chế phù hợp, khu vực tư nhân sẵn sàng tham gia cả vào những lĩnh vực hạ tầng quy mô lớn. Việc triển khai các dự án giao thông, đô thị hay tổ hợp công nghiệp - dịch vụ theo hướng xã hội hóa đang mở ra dư địa mới cho khu vực này, đồng thời nâng chất lượng đầu tư thông qua việc áp dụng công nghệ và tiêu chuẩn quốc tế.
- Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của bà!


