Tại họp báo cung cấp thông tin về các vấn đề kinh tế - xã hội trên địa bàn TP.HCM, liên quan về việc triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp đã thông tin cụ thể về định hướng thu hút FDI, thực trạng hoạt động của các khu chế xuất, khu công nghiệp, những khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư nước ngoài cũng như các giải pháp tháo gỡ trong thời gian tới.
TP.HCM tái cấu trúc không gian công nghiệp, nâng cao chất lượng thu hút FDI
Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp cho biết, đối với thành phố Hồ Chí Minh, việc triển khai Nghị quyết này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Thành phố đang tái cấu trúc không gian phát triển công nghiệp, nâng cao chất lượng các khu chế xuất, khu công nghiệp và định hướng thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài thế hệ mới.
Theo các quy hoạch được phê duyệt, thành phố Hồ Chí Minh có 105 khu chế xuất, khu công nghiệp với tổng diện tích 50.288,14 ha, chiếm 7,4% diện tích tự nhiên. Trong đó, 67 khu chế xuất, khu công nghiệp đã có quyết định thành lập. Cụ thể, 3 khu chế xuất và 55 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích 22.410,28 ha, chiếm 44,6% quy mô diện tích quy hoạch dự kiến dành cho các khu chế xuất, khu công nghiệp; tỷ lệ lấp đầy đạt khoảng 80%.
Ngoài ra, thành phố có 9 khu công nghiệp và 5 khu công nghiệp mở rộng đã thành lập nhưng chưa đi vào hoạt động, với tổng diện tích 4.930 ha; 38 khu công nghiệp đã có trong quy hoạch nhưng chưa được thành lập, với tổng diện tích 23.018 ha.

Thành phố Hồ Chí Minh có 105 khu chế xuất, khu công nghiệp với tổng diện tích 50.288,14ha.
Các khu chế xuất, khu công nghiệp đang hoạt động của thành phố có tỷ lệ lấp đầy đạt khoảng 80%; trong đó, khu vực thành phố Hồ Chí Minh đạt 80%, khu vực Bình Dương đạt 87%, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu đạt 70%. Đa số các khu chế xuất, khu công nghiệp đang hoạt động có mức lấp đầy trên 90%.
Hiện nay, các khu chế xuất, khu công nghiệp có 5.380 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 79,22 tỷ USD. Suất đầu tư trung bình đạt 7,62 triệu USD/ha. Trong đó, khu vực đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng cao với 3.510 dự án, tổng vốn đăng ký 57,51 tỷ USD, tập trung chủ yếu từ các quốc gia và vùng lãnh thổ như Đài Loan chiếm 7,19%, Hàn Quốc chiếm 14,87%, Nhật Bản chiếm 16,81%, Trung Quốc chiếm 4,6%, Hồng Kông chiếm 8,52%, Singapore chiếm 11,6%, Samoa chiếm 6,04% và một số đối tác khác chiếm 30,37%.
Về cơ cấu ngành nghề, các khu chế xuất, khu công nghiệp có cơ cấu đầu tư đa dạng. Các ngành công nghiệp truyền thống gồm cơ khí chiếm 6,32%, dệt may - da giày chiếm 10,72%, điện tử chiếm 4,88%, nhựa - cao su chiếm 11,01%, chế biến gỗ - nội thất chiếm 2,01%, bao bì - in ấn giấy chiếm 6,02%, dịch vụ - dịch vụ công nghiệp chiếm 2,42%, chế biến thực phẩm chiếm 5,51% và các ngành nghề khác chiếm 51,11%.
Tập trung thu hút dự án công nghệ cao
Để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi từ lượng sang chất, nâng cao giá trị và độ lan tỏa, Thành phố đang triển khai các chiến lược trọng tâm:
Về thu hút dự án chiến lược, thành phố tập trung thu hút có chọn lọc các dự án có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, thân thiện với môi trường; ưu tiên các lĩnh vực điện tử - bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng tái tạo và công nghiệp môi trường.
Về tái cấu trúc không gian công nghiệp, thành phố rà soát, sắp xếp không gian phát triển công nghiệp theo hướng phân vùng, phân vai chức năng; trong đó thành phố Hồ Chí Minh cũ là trung tâm tài chính - dịch vụ - công nghệ cao, Bình Dương là thủ phủ công nghiệp - công nghệ cao, Bà Rịa - Vũng Tàu là trung tâm kinh tế biển và khu thương mại tự do.
Về chuyển đổi KCN thế hệ cũ, thành phố xây dựng lộ trình chuyển đổi các KCN thế hệ cũ phù hợp quy hoạch và thực tiễn; nghiên cứu thu hồi các KCN nhỏ trong nội thành để phát triển công trình công cộng, đồng thời nâng cấp các KCN lớn thành KCN công nghệ cao, KCN sinh thái, trung tâm logistics hoặc phát triển theo mô hình TOD.

TP.HCM tập trung thu hút dự án công nghệ cao, tăng cường liên kết và nâng cao hiệu quả lan tỏa của FDI
Về tăng cường hiệu quả lan tỏa của khu vực FDI, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước; hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, qua đó thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh.
Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn những khó khăn, vướng mắc. Về thủ tục hành chính, pháp lý, một số dự án còn gặp khó khăn, chậm tiến độ trong quá trình triển khai do thay đổi các quy định liên quan đến quy hoạch, xây dựng, môi trường và địa giới hành chính.
Về hạ tầng và quỹ đất, quỹ đất công nghiệp sẵn sàng cho thuê còn hạn chế; công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và định giá đất còn gặp khó khăn. Hạ tầng tại một số khu công nghiệp chưa đồng bộ, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu tiếp nhận các dự án quy mô lớn, công nghệ cao.
Về tác động từ thị trường quốc tế, nhu cầu thị trường suy giảm; các tập đoàn đa quốc gia có xu hướng thắt chặt đầu tư, tái cơ cấu chuỗi cung ứng. Một số chính sách thương mại quốc tế làm gia tăng chi phí, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
TP.HM đưa ra giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc như tiếp tục hoàn thiện mô hình "một cửa tại chỗ", đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tích hợp các thủ tục về đầu tư, xây dựng, môi trường, phòng cháy, chữa cháy theo hướng rút gọn, thống nhất nhằm giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho nhà đầu tư.
Tập trung hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng logistics và tăng cường kết nối liên vùng; nghiên cứu quy hoạch hành lang công nghiệp kết nối Bình Dương - thành phố Hồ Chí Minh - Bà Rịa - Vũng Tàu nhằm giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Song song đó là nghiên cứu, đề xuất chính sách hỗ trợ đặc thù đối với doanh nghiệp trong đổi mới công nghệ, đào tạo tay nghề, hỗ trợ di dời; đồng thời rà soát cơ chế, chính sách liên quan đến giá thuê đất nhà nước theo hướng phù hợp, linh hoạt. Quan tâm phát triển hạ tầng xã hội trong khu công nghiệp, trong đó có nhà lưu trú công nhân và các thiết chế phục vụ người lao động, góp phần ổn định và giữ chân nguồn nhân lực.
Phát huy lợi thế liên kết vùng, hướng đến phát triển các khu công nghiệp xanh, thông minh và hiện đại
Sau sáp nhập (thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu), TP.HCM có hệ thống 105 KCX, KCN được phân bổ theo định hướng "Một không gian - Ba vùng - Một đặc khu", tạo ra sự bổ trợ hoàn hảo giữa Trung tâm tài chính, Thủ phủ công nghiệp và Trung tâm kinh tế biển.
Về hạ tầng, Thành phố sở hữu hệ thống cảng biển nước sâu Cái Mép - Thị Vải kết nối với sân bay Long Thành. Đặc biệt, việc hình thành Khu thương mại tự do gắn với cảng biển Cái Mép Hạ, tích hợp cộng hưởng với Trung tâm Tài chính Quốc tế, sẽ tạo lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút dòng vốn logistics và công nghệ cao.
Thành phố sở hữu vị trí địa lý đắc địa, kết nối thuận lợi với hệ thống cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế và các tuyến giao thông huyết mạch của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Các KCN hiện hữu đang có tỷ lệ lấp đầy rất cao (đa số trên 90%), giữ vững được các thị trường xuất khẩu truyền thống như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và có khả năng ứng dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển các KCX, KCN của Thành phố cho thấy một số KCN hiện nằm ở khu vực trung tâm, có diện tích nhỏ, được bao bọc bởi khu dân cư; vận hành theo mô hình cũ, chưa bắt kịp với xu thế của Cách mạng công nghiệp 4.0; chưa khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế sẵn có, đặc biệt là lợi thế về vị trí địa lý, giá trị sử dụng đất và nguồn nhân lực chất lượng cao.

TP.HCM hướng đến phát triển các khu công nghiệp xanh, thông minh và hiện đại
Mô hình KCN thế hệ cũ có hiệu quả đầu tư chưa xứng với tiềm năng (về cơ cấu đầu tư, giá trị gia tăng của sản phẩm, sử dụng hiệu quả tài nguyên, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội).
Hạ tầng kỹ thuật tại các KCX, KCN cơ bản đáp ứng nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp, nhưng vẫn còn thiếu đồng bộ giữa các khu vực và chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghiệp. Nhiều KCX, KCN hình thành từ giai đoạn đầu chưa bố trí đầy đủ quỹ đất cho các công trình hạ tầng xã hội như nhà lưu trú công nhân, y tế, giáo dục, văn hóa và dịch vụ, dẫn đến khả năng đáp ứng nhu cầu của lực lượng lao động, đặc biệt là lao động ngoại tỉnh, còn hạn chế.
Bên cạnh đó, hệ thống giao thông kết nối với các KCX, KCN tuy đã được cải thiện nhưng chưa được quy hoạch và đầu tư đồng bộ với quá trình phát triển công nghiệp và đô thị. Một số khu vực còn xảy ra tình trạng quá tải cục bộ, ảnh hưởng đến vận chuyển hàng hóa, logistics và việc đi lại của người lao động.
Một số khu sắp đến hạn sử dụng đất như Tân Thuận năm 2041, Tân Bình năm 2047, Bình Chiểu năm 2048, Hiệp Phước (giai đoạn 1) năm 2048, đòi hỏi phải có lộ trình chuyển đổi.
Trong thời gian tới, Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp sẽ tiếp tục phối hợp với các sở, ngành và địa phương liên quan để triển khai hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW; đồng hành cùng nhà đầu tư; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; nâng cao chất lượng thu hút FDI. TP.HCM sẽ phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp theo hướng xanh, thông minh, hiện đại, có giá trị gia tăng cao và đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững của thành phố Hồ Chí Minh./.