Trục cảnh quan sông Hồng: Đằng sau giấc mơ nghìn tỷ
Con số 737 nghìn tỷ đồng trải dài trong khung thời gian 12 năm, hướng tới mốc cán đích năm 2038, đặt Hà Nội trước một trong những phương trình kinh tế đô thị phức tạp bậc nhất lịch sử phát triển của mình. Khi nhìn vào những bản vẽ phối cảnh 3D lộng lẫy về một trục đại lộ cảnh quan thênh thang, những dải công viên ngút ngàn và chuỗi đô thị nén soi bóng xuống mặt nước mênh mông, cảm xúc tự hào cùng sự kỳ vọng về một kỳ tích ven sông là điều tự nhiên. Khát vọng đưa sông Hồng trở về đúng vị thế trái tim sinh thái, chấm dứt hàng thế kỷ đô thị quay lưng lại dòng sông Mẹ là một định hướng chiến lược đúng đắn. Tuy nhiên, một dự án tầm vóc thế kỷ không nên và không thể được thẩm định bằng sự lãng mạn chính sách hay những mỹ cảm đồ họa. Siêu đồ án này còn cần được cẩn trọng và bình tĩnh để nhìn dưới góc nhìn kinh tế học đô thị, tài chính công và lý thuyết địa tô… để lượng hóa những thách thức, rủi ro trước khi thực hiện.
Trước khi bàn sâu về những biến số kinh tế, cần nhắc lại rằng sông Hồng chưa bao giờ là một dòng sông hiền hòa, tĩnh tại như sông Seine ở Paris hay sông Thames ở London. Tính khí thất thường của một dòng sông châu thổ cuồn cuộn phù sa cùng những cơn lũ dữ nghìn năm đặt ra ranh giới kỹ thuật tối thượng mà Luật Đê điều và Quy hoạch phòng chống lũ lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình đã vạch sẵn: hành lang thoát lũ phải tuyệt đối thông suốt cho lưu lượng cực hạn 37.000 mét khối mỗi giây. Cùng với đó, bức tranh pháp lý đất đai chồng chéo qua nhiều thời kỳ lịch sử và bài toán sinh kế của gần 280.000 con người nơi bãi bồi là những nút thắt xã hội cực kỳ nhạy cảm. Chỉ một bước đi chệch khỏi quy luật tự nhiên hay coi nhẹ quyền lợi dân sinh, mọi toan tính phát triển đều sẽ phải trả giá đắt.
Vượt lên trên những rào cản tự nhiên và xã hội ấy, chính các thách thức kinh tế đô thị mới là thước đo quyết định đồ án này sẽ trở thành một kỳ tích vươn mình hay một cái bẫy tài khóa kéo dài qua nhiều thế hệ.
Thách thức kinh tế đầu tiên và căn bản nhất nằm ở tính khả thi của nguồn lực công. Quy mô 737 nghìn tỷ đồng, tương đương gần 30 tỷ USD, trải trong 12 năm đồng nghĩa với việc mỗi năm thành phố phải bố trí dòng tiền giải ngân trung bình hơn 61 nghìn tỷ cho dự án.
Đặt con số này vào bức tranh tài khóa thực tế để thấy rõ khoảng cách vời vợi. Cả giai đoạn 2021 - 2025, tổng vốn đầu tư công trung hạn của toàn thành phố Hà Nội chỉ là hơn 321 nghìn tỷ, tức bình quân mỗi năm ngân sách Thủ đô chỉ có thể bố trí khoảng 64,2 nghìn tỷ cho tất cả các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục trên toàn địa bàn. Dù kế hoạch vốn giai đoạn 2026 - 030 dự kiến mở rộng lên hơn 864 nghìn tỷ, thì riêng đồ án sông Hồng đã chiếm tới hơn 85% tổng nguồn lực đầu tư công của cả một nhiệm kỳ năm năm.
Phối cảnh Dự án đầu tư xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.
Thành phố, tất nhiên, không thể dốc toàn bộ túi tiền của mình cho một dự án dù là trọng điểm. Trong thập niên tới, Hà Nội đang đứng trước những đòi hỏi đầu tư hạ tầng khung mang tính sống còn đối với năng lực cạnh tranh đô thị. Đó là việc dồn lực hoàn thành Vành đai 3.5, Vành đai 4 và giải phóng mặt bằng cho Vành đai 5; đó là mạng lưới hàng trăm kilômét đường sắt đô thị với tổng vốn hàng chục tỷ USD nhằm giải cứu nội đô khỏi vấn nạn ùn tắc giao thông; đó là các chương trình cải tạo chung cư cũ nguy hiểm, di dời bệnh viện, trường đại học và xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chống ngập úng…
Nếu dòng tiền công bị hút cạn vào sông Hồng, hiệu ứng chèn lấn đầu tư sẽ lập tức xuất hiện, đẩy hàng loạt công trình dân sinh cấp thiết khác vào cảnh đói vốn triền miên. Trần nợ công của địa phương dù có được nới rộng theo các cơ chế vượt trội của Luật Thủ đô cũng khó lòng gánh vác nổi một sự thâm hụt tài khóa lớn đến vậy.
Khi ngân sách công không thể cáng đáng, người ta thường hướng ánh nhìn về khu vực tư nhân thông qua các hình thức đối tác công tư hoặc đấu giá đất dự án để lấy kinh phí làm hạ tầng. Tuy nhiên, triết lý "lấy đất nuôi hạ tầng" nếu không được tính toán thấu đáo sẽ trở thành một cái bẫy nguy hiểm. Nó vận hành dựa trên một giả định mong manh: hạ tầng mở ra sẽ đẩy giá trị địa tô khu vực này tăng vọt, và việc thương mại hóa bất động sản ven sông sẽ mang lại dòng tiền dồi dào để bù đắp chi phí ban đầu.
Giả định ấy nếu triển khai thì nhất định không được bỏ quên quy luật chu kỳ của thị trường bất động sản. Thị trường không bao giờ tăng trưởng tịnh tiến theo một đường thẳng, mà luôn vận động theo đồ thị hình sin với những giai đoạn thăng hoa xen lẫn các khoảng lặng đóng băng kéo dài khi chính sách tiền tệ đảo chiều hoặc các van tín dụng bị siết lại.
Để hấp thụ một lượng sản phẩm thương mại khổng lồ nhằm thu hồi 30 tỷ USD cùng lãi vay tích tụ theo thời gian, thị trường cần một sức mua phi thường và một chu kỳ tăng trưởng hoàn hảo liên tục suốt hơn một thập kỷ. Đây là một kịch bản quá lý tưởng. Nhưng, chỉ cần thị trường rơi vào một nhịp điều chỉnh sâu, thanh khoản đóng băng, bài toán tài chính của các nhà đầu tư sẽ lập tức đổ vỡ, kéo theo nguy cơ biến đại công trường sông Hồng thành những bãi đất hoang hóa, cày xới nham nhở năm này qua năm khác.
Áp lực tài chính ghê gớm từ chi phí đầu tư ban đầu và lãi vay ngân hàng thường dẫn đến một hệ quả khó tránh khỏi: sự biến dạng của các bản quy hoạch dưới sức ép thương mại.
Khi các nhà phát triển dự án đối mặt với nguy cơ đứt gãy dòng tiền, bản năng sinh tồn sẽ thúc đẩy họ tìm kiếm lợi nhuận bằng cách tối đa hóa hệ số sử dụng đất. Áp lực vận động hành lang sẽ xuất hiện nhằm nâng tầng cao công trình, cơi nới mật độ xây dựng, thu hẹp diện tích cây xanh mặt nước và chuyển đổi các lô đất công cộng thành đất ở thương mại cao tầng.
Nếu chính quyền đô thị không giữ được sự kiên định, bản quy hoạch trục cảnh quan sinh thái nhân văn sẽ nhanh chóng bị biến dạng thành một đại dự án kinh doanh địa ốc thuần túy. Khi ấy, mặt nước sông Hồng - tài sản công cộng vô giá thuộc về toàn thể cộng đồng - sẽ bị biến thành giá trị gia tăng độc quyền cho những khối nhà bê tông san sát phục vụ một nhóm cư dân thượng lưu. Đó là sự tư nhân hóa địa tô công cộng, đẩy mọi rủi ro về ngập lụt, tắc nghẽn giao thông và quá tải hạ tầng lại cho xã hội gánh chịu.
Song hành với áp lực thương mại hóa là rủi ro đến từ điểm nghẽn giải phóng mặt bằng. Nhìn vào dải đất 40 km qua 16 xã, phường, bất kỳ ai hiểu thực tiễn quản lý đất đai Hà Nội đều thấy rõ đây là một ma trận pháp lý. Sự đan xen giữa đất thổ cư làng cổ, đất nông nghiệp theo Nghị định 64, đất công ích, đất lấn chiếm và giao dịch ngầm qua giấy viết tay sẽ tạo ra những cuộc giằng co không hồi kết. Khi áp dụng các quy định mới của Luật Đất đai với nguyên tắc bồi thường sát giá thị trường, tổng chi phí đền bù giải tỏa sẽ là một ẩn số tài chính khó lường.
Trong kinh tế học dự án, thời gian chính là tiền bạc, và sự chậm trễ mặt bằng là kẻ hủy diệt dòng tiền tàn nhẫn nhất. Mỗi năm dự án bị kéo dài, chi phí trượt giá vật liệu, lãi vay thương mại và giá bồi thường thực tế sẽ tăng theo cấp số nhân. Con số 737 nghìn tỷ đồng hoàn toàn có thể bị thổi phồng vượt ngưỡng một triệu tỷ đồng chỉ sau vài năm bế tắc, biến mốc đích năm 2038 thành điều bất khả thi.
Chưa dừng lại ở đó, bài toán tài chính còn tiềm ẩn gánh nặng vận hành dài hạn sau đầu tư. Để duy trì sự tồn tại an toàn của một chuỗi đô thị ven sông, chi phí duy tu hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội sẽ là những khoản chi thường xuyên khổng lồ bào mòn ngân sách thành phố hàng năm. Chưa kể, nếu thiên tai vượt ngưỡng thiết kế xảy ra, tổn thất kinh tế để phục hồi sẽ là một con số không thể đong đếm.
Nhận diện những rủi ro kinh tế đô thị không phải để chùn bước hay từ bỏ khát vọng ngàn năm của Thủ đô, mà để chúng ta có một cách tiếp cận tỉnh táo, khoa học và kỷ luật hơn trong khâu tổ chức thực thi. Hà Nội rất cần dứt khoát rũ bỏ tâm lý nóng vội muốn làm tất cả trong một lần trên toàn bộ chiều dài 40km bờ sông.
Hà Nội rất cần dứt khoát rũ bỏ tâm lý nóng vội muốn làm tất cả trong một lần trên toàn bộ chiều dài 40 km bờ sông. (Ảnh minh hoạ)
Sự khả thi của đồ án chỉ có thể đạt được khi thành phố áp dụng nguyên tắc phân kỳ đầu tư nghiêm ngặt. Toàn bộ nguồn lực công hạn hẹp trong giai đoạn đầu phải được ưu tiên tuyệt đối cho các công trình sinh thái và an toàn như củng cố đê điều, khơi thông dòng chảy, tạo lập các dải công viên mở ngập nước theo mùa và hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối xanh. Ở giai đoạn này, thành phố cần kiên quyết đóng băng các dự án phát triển bất động sản thương mại tại vùng bãi bồi để bảo toàn tuyệt đối không gian thoát lũ.
Bước tiếp theo, công tác tái thiết đô thị cần hướng tới việc chỉnh trang tại chỗ các làng xóm cổ truyền lâu đời như Nhật Tân, Tứ Liên hay Bát Tràng… Bằng cách bảo tồn văn hóa và chuyển dịch kinh tế nông nghiệp bãi bồi sang mô hình du lịch trải nghiệm sinh thái, chúng ta không chỉ giữ được bản sắc của dòng sông mà còn bảo toàn mạng lưới sinh kế bền vững cho người dân sở tại.
Việc khai thác quỹ đất thương mại dịch vụ chỉ nên là bước đi sau cùng, tại các vị trí tiếp giáp đô thị hiện hữu có nền địa chất cao ráo và sau khi hạ tầng giao thông kết nối đôi bờ đã hoàn chỉnh. Khi đó, Nhà nước phải nắm giữ vai trò chủ đạo trong việc bồi thường mặt bằng sạch và đầu tư hạ tầng khung rồi mới tổ chức đấu giá công khai, minh bạch. Toàn bộ nguồn tiền chênh lệch địa tô thu về cần được giữ lại trong một quỹ phát triển độc lập, phục vụ duy nhất cho công tác tái định cư, nâng cấp an sinh và tái đầu tư cho hệ thống an toàn lũ, thay vì hòa tan vào các khoản chi tiêu thông thường.
Để vượt qua tình trạng cát cứ và đùn đẩy trách nhiệm giữa các địa phương, Hà Nội cần một cơ chế điều hành đặc thù với một cơ quan quản lý phát triển sông Hồng đủ thẩm quyền, đủ tầm nhìn liên ngành để kiểm soát chặt chẽ từng biến số quy hoạch và kỷ luật dòng tiền.
Trục cảnh quan sông Hồng là một cơ hội lịch sử để viết lại không gian phát triển của Thủ đô trong kỷ nguyên mới. Nhưng tầm vóc của một công trình thế kỷ không nằm ở độ choáng ngợp của những con số đầu tư hàng trăm nghìn tỷ đồng, cũng không nằm ở số lượng những tòa tháp chọc trời mọc lên ven mép nước. Thước đo thực sự nằm ở sự tôn trọng quy luật tự nhiên, tính bền vững của nền tảng tài chính công và chiều sâu nhân văn trong việc chăm lo đời sống của người dân. Chỉ khi giải mã được bài toán kinh tế đô thị bằng sự cẩn trọng và bản lĩnh thực tế, giấc mơ đưa sông Hồng trở về đúng vị thế trái tim sinh thái mới có thể trở thành niềm tự hào bền vững cho các thế hệ mai sau./.

