Bài 1: Chuyển đổi xanh và vai trò chiến lược của thị trường bất động sản
LỜI TÒA SOẠN
Năm 2026 đánh dấu bước khởi đầu của giai đoạn phát triển mới khi là năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, với những yêu cầu ngày càng cao về tốc độ, chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Nghị quyết Đại hội XIV xác định xây dựng mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực chính, trong đó trọng tâm là phát triển kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Định hướng này đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng các nguồn lực đầu vào sang nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, đồng thời thúc đẩy sử dụng tiết kiệm tài nguyên, năng lượng và giảm tác động đến môi trường.
Tinh thần đó tiếp tục được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Nghị quyết chỉ đạo chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; lấy con người làm chủ thể trung tâm, mục tiêu, động lực và phát triển. Trên cơ sở nhận diện những hạn chế của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, Nghị quyết xác định, chuyển đổi xanh là một trong những trụ cột quan trọng trong nhiệm vụ xác lập mô hình tăng trưởng mới của nền kinh tế. Nghị quyết đồng thời yêu cầu thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 theo lộ trình phù hợp; thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế cácbon thấp, chuyển đổi xanh trong các ngành, lĩnh vực và có cơ chế hỗ trợ vùng sản xuất.
Kết luận số 106-KL/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV xác định mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2027, yêu cầu lấy hiệu quả thực chất, năng suất và đời sống nhân dân làm thước đo, đồng thời đặt ra yêu cầu tạo chuyển biến căn bản trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; vận hành hiệu quả thị trường carbon, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.[1] Đặt trong lộ trình thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, những định hướng trên cho thấy yêu cầu tăng trưởng cao phải gắn với đổi mới phương thức phát triển, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và từng bước giảm phát thải trong các hoạt động kinh tế.
Trong bối cảnh đó , bất động sản là một lĩnh vực cần được nhìn nhận đầy đủ trong chiến lược chuyển đổi xanh của nền kinh tế. Một mặt, sự chuyển đổi của lĩnh vực này có ý nghĩa đối với việc thực hiện các mục tiêu sử dụng hiệu quả nguồn lực, giảm phát thải và phát triển bền vững. Mặt khác, chính yêu cầu chuyển đổi xanh đang định hình lại tư duy đầu tư, phương thức phát triển và các yếu tố tạo nên giá trị bền vững của từng sản phẩm bất động sản và thị trường. Mối quan hệ hai chiều đó đặt ra yêu cầu nhìn nhận chuyển đổi xanh của bất động sản trong một phạm vi rộng hơn sự phát triển của những công trình, dự án đạt tiêu chuẩn xanh, gắn với chất lượng phát triển của thị trường và những đóng góp đối với nền kinh tế.
Những yêu cầu này đang từng bước được cụ thể hóa trong hệ thống chính sách, tạo cơ sở thúc đẩy các hoạt động đầu tư, kinh doanh theo hướng bền vững hơn. Tuy nhiên, từ định hướng đến thực tiễn vẫn còn không ít thách thức về tiêu chuẩn, cơ chế thực thi và nguồn lực tài chính. Bài toán đặt ra không chỉ là phát triển các dự án xanh mới, mà còn là cải tạo công trình hiện hữu và mở rộng chuyển đổi xanh trên toàn thị trường.
Trên tinh thần nghiên cứu, phản biện và đề xuất giải pháp, Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam (Reatimes.vn) triển khai chuyên đề "Thị trường bất động sản trong lộ trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế", tập trung làm rõ vai trò của bất động sản trong chiến lược chuyển đổi xanh quốc gia; nhận diện thực trạng chuyển đổi xanh đang thúc đẩy những chuyển biến thực chất trong mô hình phát triển và cách thức tạo lập giá trị của thị trường bất động sản; chỉ ra những điểm nghẽn về thể chế, tiêu chuẩn và nguồn lực; đồng thời đề xuất giải pháp để chuyển đổi xanh trở thành động lực nâng cao chất lượng tăng trưởng, giá trị tài sản, sức cạnh tranh và sự phát triển bền vững của thị trường.
Trân trọng giới thiệu cùng độc giả!
Quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hướng tới phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đã và đang làm thay đổi cách tạo lập, vận hành, định giá và phân bổ dòng vốn của thị trường bất động sản.
Bất động sản chịu tác động từ quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế, nhưng vừa có khả năng trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy quá trình này.
***
Trong tiến trình đổi mới mô hình phát triển, yêu cầu chuyển đổi xanh đang đặt ra một bài toán quan trọng đối với nền kinh tế: Làm thế nào để duy trì tốc độ tăng trưởng cao, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực và giảm áp lực lên môi trường. Khi quy mô đầu tư, sản xuất và tiêu dùng tiếp tục mở rộng, nhu cầu về tài nguyên, nguyên vật liệu và năng lượng cũng có xu hướng gia tăng. Nếu hiệu quả sử dụng không được cải thiện tương ứng, tăng trưởng sẽ kéo theo những sức ép ngày càng lớn đối với môi trường và khả năng đáp ứng của các nguồn lực phát triển. Vì vậy, chuyển đổi xanh đòi hỏi sự thay đổi trong cách thức đầu tư, tổ chức sản xuất và khai thác tài sản, hướng tới tạo ra nhiều giá trị kinh tế hơn từ những nguồn lực được sử dụng, đồng thời giảm tiêu hao tài nguyên, năng lượng và phát thải.
Yêu cầu chuyển đổi ấy còn gắn với lộ trình thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 mà Việt Nam đưa ra tại COP26. Để hiện thực hóa mục tiêu này, bên cạnh việc chuyển dịch sang các nguồn năng lượng ít phát thải, nền kinh tế cần cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng, nguyên vật liệu và tài nguyên trong từng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, động lực chuyển đổi xanh của Việt Nam không chỉ xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng và thực hiện cam kết khí hậu mà còn chịu tác động từ những thay đổi của môi trường kinh tế quốc tế.
Trong cuộc trao đổi với Reatimes, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia nhận định, chuyển đổi xanh là xu thế toàn cầu không thể đảo ngược, đồng thời là một "mệnh lệnh kép" đối với Việt Nam, với sức ép đến từ cả bên trong và bên ngoài.
Theo phân tích của chuyên gia, quá trình xanh hóa đang gắn với những thay đổi trong tiêu chuẩn thị trường, yêu cầu của đối tác và hoạt động đầu tư quốc tế. Khi các tiêu chí về môi trường, phát thải và phát triển bền vững ngày càng được coi trọng trong thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu, việc đáp ứng những yêu cầu này có ảnh hưởng đến khả năng tham gia thị trường, kết nối đối tác và tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp. Điều đó cũng có nghĩa, chuyển đổi xanh ngày càng gắn với năng lực thích ứng và duy trì lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
Dưới tác động của những yêu cầu đó, chuyển đổi xanh cần được cụ thể hóa trong các quyết định đầu tư, sản xuất và khai thác tài sản của từng ngành kinh tế. Đối với bất động sản, điều này càng có ý nghĩa khi những công trình, dự án được phát triển hôm nay có thể tiếp tục được sử dụng trong nhiều thập kỷ. Những lựa chọn về thiết kế, vật liệu, công nghệ xây dựng và phương thức vận hành vì thế có thể ảnh hưởng lâu dài đến nhu cầu tài nguyên, năng lượng và mức phát thải của công trình.
Nếu các yêu cầu xanh không được tính đến từ sớm, việc cải thiện hiệu quả sau khi tài sản đã hình thành có thể trở nên khó khăn và tốn kém hơn. Chính đặc thù ấy đặt ra yêu cầu nhìn nhận đầy đủ vai trò của bất động sản đối với tiến trình chuyển đổi xanh, từ những tác động trực tiếp tại công trình đến hiệu quả tổ chức không gian đô thị và sự chuyển đổi của các ngành kinh tế liên quan.
Trong số những lĩnh vực có mối liên hệ sâu rộng với việc sử dụng tài nguyên, năng lượng và phát thải, bất động sản có những đặc thù đáng chú ý. Quá trình phát triển một công trình nhà ở, thương mại, dịch vụ hay công nghiệp gắn với nhu cầu lớn về đất đai, nguyên vật liệu, năng lượng, đồng thời huy động hoạt động của nhiều ngành sản xuất, xây dựng và cung ứng thiết bị. Sau khi hoàn thành, các công trình tiếp tục tiêu thụ năng lượng, nước và những nguồn lực khác trong suốt thời gian khai thác, sử dụng. Vì vậy, tác động của bất động sản đối với môi trường cần được nhìn nhận trên toàn bộ vòng đời công trình, từ quá trình tạo lập đến vận hành và cải tạo.
Tác động của bất động sản đối với môi trường cần được nhìn nhận trên toàn bộ vòng đời công trình, từ quá trình tạo lập đến vận hành và cải tạo. (Ảnh minh họa: Reatimes)
Quy mô tác động của các hoạt động gắn với phát triển và khai thác bất động sản có thể được nhìn nhận qua những nghiên cứu quốc tế về lĩnh vực công trình và xây dựng. Theo Báo cáo hiện trạng toàn cầu về công trình và xây dựng 2025 - 2026, công bố tháng 5/2026 của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Liên minh Toàn cầu về Công trình và Xây dựng (GlobalABC), lĩnh vực công trình và xây dựng đóng góp khoảng 11 - 13% GDP toàn cầu, sử dụng khoảng 9% lực lượng lao động thế giới, đồng thời liên quan đến khoảng 37% lượng phát thải CO2 và gần 50% hoạt động khai thác nguyên vật liệu trên toàn cầu[2].
Những con số này cho thấy, bên cạnh đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, hoạt động xây dựng và khai thác công trình cũng tạo ra sức ép lớn đối với tài nguyên, năng lượng và môi trường. Trong bối cảnh nhu cầu phát triển nhà ở, hạ tầng và các không gian phục vụ sản xuất, kinh doanh tiếp tục gia tăng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và giảm phát thải trong lĩnh vực này trở thành yêu cầu quan trọng của quá trình chuyển đổi xanh.
Tại Việt Nam, yêu cầu này cũng được nhấn mạnh trong định hướng phát triển ngành xây dựng. Phát biểu tại Diễn đàn Phát triển bền vững ngành Xây dựng Việt Nam 2026 diễn ra ngày 16/7 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh đề cập vai trò của công trình xanh, vật liệu xanh và công nghệ xây dựng bền vững trong thúc đẩy phát triển ngành, nâng cao năng lực cạnh tranh và góp phần thực hiện mục tiêu Net Zero vào năm 2050.[3]
Đáng chú ý, tác động phát thải của công trình bắt đầu từ trước thời điểm tài sản được đưa vào sử dụng. Các hoạt động khai thác nguyên liệu, sản xuất vật liệu xây dựng, vận chuyển và thi công đều tiêu thụ năng lượng, tài nguyên và phát sinh khí nhà kính. Theo Báo cáo đánh giá lần thứ sáu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) công bố năm 2022, tổng phát thải khí nhà kính từ lĩnh vực công trình trên toàn cầu năm 2019 đạt khoảng 12 tỷ tấn CO2 tương đương, chiếm 21% tổng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Trong đó, phát thải từ quá trình sản xuất xi măng và thép phục vụ xây dựng, cải tạo công trình chiếm khoảng 18% tổng phát thải của lĩnh vực này[4].
Điều này cho thấy khả năng giảm phát thải của một công trình chịu ảnh hưởng đáng kể từ những quyết định được đưa ra ngay trong giai đoạn đầu tư, thiết kế và xây dựng. Việc lựa chọn vật liệu, kết cấu, công nghệ và phương án thi công phù hợp có thể góp phần giảm lượng tài nguyên, năng lượng sử dụng và phát thải phát sinh trước khi công trình đi vào vận hành.
Trong khi đó, quá trình khai thác công trình tiếp tục tạo ra nhu cầu năng lượng và phát thải trong thời gian dài. Theo UNEP, tổng diện tích sàn công trình toàn cầu năm 2024 đạt khoảng 273 tỷ m2, tăng 1,7% so với năm trước; trong đó, công trình nhà ở chiếm 77% tổng diện tích sàn và khoảng 70% nhu cầu năng lượng của các tòa nhà[5]. Cũng trong năm 2024, phát thải CO2 từ hoạt động vận hành công trình trên toàn cầu đạt khoảng 9,9 tỷ tấn, tăng 1% so với năm trước[6].
Những số liệu này phản ánh một thách thức của quá trình chuyển đổi xanh: Quỹ công trình tiếp tục mở rộng, đồng nghĩa với việc nhu cầu năng lượng cho vận hành cũng có khả năng gia tăng, trong khi hệ thống tài sản hiện hữu vẫn tiếp tục được sử dụng. Tuy nhiên, hiệu quả năng lượng có thể tạo ra sự khác biệt đáng kể. Cũng theo báo cáo của UNEP công bố tháng 5/2026, trong khoảng một thập kỷ kể từ năm 2015, tổng diện tích sàn công trình trên thế giới tăng 20%, trong khi nhu cầu năng lượng tăng 11%. UNEP nhận định nếu không có những cải thiện về hiệu quả năng lượng, mức tăng nhu cầu tiêu thụ có thể cao gấp khoảng hai lần[7].
Đối với lĩnh vực bất động sản, những cải thiện về hiệu quả năng lượng có thể được thúc đẩy thông qua thiết kế công trình, sử dụng thiết bị hiệu suất cao, tối ưu hệ thống kỹ thuật và áp dụng các giải pháp vận hành tiết kiệm năng lượng. Kết hợp với việc sử dụng các nguồn năng lượng ít phát thải, những giải pháp này giúp đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh với mức tiêu thụ năng lượng và phát thải thấp hơn. Trên phạm vi nền kinh tế, việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng tại các công trình còn góp phần hạn chế áp lực gia tăng nhu cầu điện và đầu tư mở rộng công suất cung ứng năng lượng.
Khả năng tiết kiệm tài nguyên, năng lượng từ những lựa chọn về thiết kế, vật liệu và công nghệ đã được đánh giá tại một số dự án bất động sản ở Việt Nam. Tại Flamingo Cát Bà Resorts, các giải pháp như kính cách nhiệt, hệ thống điều hòa hiệu suất cao, đèn LED và xử lý, tái sử dụng nước được tích hợp vào công trình. Theo thông tin Flamingo công bố tháng 6/2026 dựa trên đánh giá của SGS Việt Nam, dự án đạt mức tiết kiệm 29% năng lượng, 41% nước và giảm 29% năng lượng hàm chứa trong vật liệu so với phương án tham chiếu.[8]Trong lĩnh vực nhà ở, tại dự án Ecohome Sông Thương 2 của Capital House ở Bắc Ninh, việc áp dụng các giải pháp sử dụng tài nguyên hiệu quả cũng được thể hiện qua các chỉ tiêu công trình xanh EDGE. Theo thông tin chủ đầu tư công bố, dự án có mức tiết kiệm năng lượng dự kiến 23%, tiết kiệm nước 30% và chỉ tiêu tiết kiệm liên quan đến vật liệu đạt 40% theo đánh giá EDGE.[9]


Các giải pháp tiết kiệm năng lượng, nước và vật liệu góp phần tối ưu vận hành, đồng thời tạo thêm lợi thế cho Flamingo Cát Bà sau khi đi vào khai thác. (Ảnh: Flamingo Holding Group)


Ecohome Sông Thương 2 là nhà ở xã hội tại Bắc Ninh được xây dựng theo tiêu chí xanh EDGE của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC). (Ảnh: Capital House)
Những trường hợp này cho thấy, hiệu quả sử dụng tài nguyên của bất động sản có thể được cải thiện ngay từ giai đoạn thiết kế và lựa chọn công nghệ. Khi những giải pháp phù hợp được đưa vào sử dụng và duy trì hiệu quả trong quá trình vận hành, lợi ích tiết kiệm năng lượng, tài nguyên có thể tiếp tục được tích lũy trong suốt vòng đời công trình.
Một đặc điểm khác khiến bất động sản có vai trò quan trọng trong lộ trình Net Zero 2050 là vòng đời công trình. Trao đổi với Reatimes, PGS. TS. KTS. Hoàng Mạnh Nguyên, Chủ tịch Viện Khoa học Công nghệ Đô thị xanh cho rằng tùy theo cấp công trình, tuổi thọ của bất động sản có thể lên tới 100 năm, thậm chí lâu hơn. Với vòng đời kéo dài như vậy, tác động kinh tế, xã hội và môi trường của một công trình có thể tiếp diễn qua nhiều thế hệ, kể cả sau mốc Net Zero 2050.
"Nếu các yêu cầu về môi trường và phát triển bền vững không được tính đến ngay từ giai đoạn đầu tư, thiết kế, những hạn chế trong quá trình vận hành có thể kéo dài cùng vòng đời công trình", ông nhấn mạnh.
Ở quy mô toàn cầu, dư địa chuyển đổi xanh của lĩnh vực công trình còn được thể hiện qua dự báo về sự thay đổi của quỹ tài sản trong những thập kỷ tới. Theo UNEP, khoảng một nửa số công trình dự kiến tồn tại trên thế giới vào năm 2050 sẽ được xây dựng mới hoặc trải qua cải tạo trong giai đoạn từ nay đến thời điểm đó[10]. UNEP nhìn nhận đây là cơ hội quan trọng để thúc đẩy phát triển các công trình không phát thải, có khả năng chống chịu tốt hơn thông qua chính sách, tiêu chuẩn và đầu tư.
Tuy nhiên, nâng cao tiêu chuẩn đối với công trình xây dựng mới chỉ là một phần của quá trình chuyển đổi xanh trong lĩnh vực bất động sản. PGS. TS. KTS. Hoàng Mạnh Nguyên cho rằng nhiều công trình hiện hữu được hình thành trong những giai đoạn mà yêu cầu về môi trường và hiệu quả năng lượng chưa được chú trọng như hiện nay. Theo chuyên gia, đây là quỹ tài sản còn nhiều dư địa để cải tạo, nâng cấp nhằm giảm mức tiêu hao tài nguyên, năng lượng trong quá trình khai thác.
Điều đó đặt ra yêu cầu tiếp cận đồng thời đối với công trình mới và tài sản hiện hữu. Với những dự án phát triển mới, việc tích hợp tiêu chí môi trường, hiệu quả năng lượng và giảm phát thải ngay từ khâu thiết kế có thể hạn chế hình thành những công trình tiêu hao nhiều nguồn lực trong dài hạn. Đối với quỹ công trình hiện hữu, cải tạo hệ thống kỹ thuật, nâng cao hiệu suất thiết bị và tối ưu phương thức vận hành là những hướng đi có thể góp phần giảm nhu cầu năng lượng và phát thải.
Ở góc độ sử dụng tài nguyên, cải tạo công trình hiện hữu còn gắn với yêu cầu phát triển kinh tế tuần hoàn. Trong những trường hợp phù hợp, việc tiếp tục khai thác hoặc chuyển đổi công năng những công trình còn khả năng sử dụng có thể hạn chế nhu cầu phá dỡ, xây dựng mới, qua đó giảm lượng vật liệu phải khai thác, sản xuất và vận chuyển.
Xét trên toàn bộ vòng đời công trình, vai trò của bất động sản đối với mục tiêu giảm phát thải thể hiện ở cả việc phát triển các dự án đạt tiêu chuẩn xanh và đổi mới cách thức sử dụng tài nguyên, năng lượng trong suốt quá trình đầu tư, xây dựng và khai thác tài sản. Những cải thiện này nếu được triển khai trên phạm vi đủ rộng có thể góp phần giảm áp lực lên hệ thống cung ứng năng lượng, hạn chế phát thải và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của nền kinh tế.
Xét trên toàn bộ vòng đời công trình, vai trò của bất động sản đối với mục tiêu giảm phát thải thể hiện ở cả việc phát triển các dự án đạt tiêu chuẩn xanh và đổi mới cách thức sử dụng tài nguyên, năng lượng trong suốt quá trình đầu tư, xây dựng và khai thác tài sản. (Ảnh minh họa: Reatimes)
Bên cạnh những tác động trực tiếp từ quá trình xây dựng và vận hành công trình, vai trò của bất động sản trong chuyển đổi xanh còn thể hiện ở cách thức tổ chức không gian phát triển. Các quyết định về vị trí dự án, quy mô, mật độ xây dựng, phân bố dân cư và hoạt động kinh tế có mối liên hệ với nhu cầu sử dụng đất, giao thông, hạ tầng và năng lượng của cả khu vực. Vì vậy, hiệu quả chuyển đổi xanh của bất động sản cần được xem xét trong mối quan hệ với quy hoạch và vận hành đô thị thay vì chỉ đánh giá riêng từng công trình.
PGS. TS. KTS. Hoàng Mạnh Nguyên cho rằng đây là mối quan hệ hai chiều giữa phát triển quy hoạch và hạ tầng đô thị. "Các dự án bất động sản được hình thành trên cơ sở quy hoạch và điều kiện kết nối giao thông hiện có. Tuy nhiên, sự phát triển của những khu đô thị, khu dân cư mới cũng tạo thêm nhu cầu đầu tư, hoàn thiện hạ tầng và tổ chức các phương thức kết nối phù hợp", chuyên gia phân tích.
Mối quan hệ này cho thấy những quyết định phát triển bất động sản có thể ảnh hưởng lâu dài đến hiệu quả khai thác hạ tầng và nhu cầu di chuyển của người dân. Khi khu dân cư, nơi làm việc và các dịch vụ thiết yếu được bố trí hợp lý, có khả năng tiếp cận thuận tiện với giao thông công cộng, nhu cầu di chuyển bằng phương tiện cá nhân có thể được giảm bớt. Ngược lại, việc phát triển đô thị phân tán, thiếu kết nối giữa các khu chức năng có thể làm gia tăng quãng đường đi lại, nhu cầu mở rộng hạ tầng giao thông và mức tiêu thụ năng lượng.
Nhìn từ yêu cầu chuyển đổi xanh, bên cạnh phát triển thêm hạ tầng để đáp ứng sự mở rộng của các dự án bất động sản, điều quan trọng là tổ chức không gian đô thị theo hướng sử dụng hiệu quả hơn những nguồn lực đã được đầu tư. Việc gắn phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ với hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật phù hợp có thể góp phần giảm nhu cầu đi lại không cần thiết, nâng cao hiệu suất khai thác hạ tầng và hạn chế những sức ép về năng lượng, phát thải trong quá trình đô thị hóa.


Việc gắn phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ với hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật phù hợp có thể góp phần giảm nhu cầu đi lại không cần thiết, nâng cao hiệu suất khai thác hạ tầng và hạn chế những sức ép về năng lượng, phát thải trong quá trình đô thị hóa. (Ảnh minh họa: Phối cảnh tuyến đường sắt Bến Thành - Cần Giờ)
Ở một phương diện khác, chất lượng phát triển bất động sản còn gắn với khả năng thích ứng của đô thị trước tác động của biến đổi khí hậu. Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương trước rủi ro khí hậu.[11]Trong bối cảnh đó, những quyết định về vị trí dự án, sử dụng đất, tổ chức không gian xanh, mặt nước và phát triển hạ tầng có ảnh hưởng lâu dài đến khả năng chống chịu của đô thị và các công trình.
Thực tế, việc tổ chức không gian xanh và mặt nước trong các dự án bất động sản có thể góp phần cải thiện điều kiện môi trường ở quy mô đô thị. Tại khu đô thị Ecopark ở Hưng Yên, trên tổng diện tích gần 500ha, khoảng 100ha được dành cho cây xanh và mặt nước, tạo nên hệ thống không gian mở đan xen với các khu dân cư.[12]Việc phân bổ quỹ đất cho hạ tầng xanh và mặt nước tạo điều kiện cải thiện vi khí hậu và duy trì các không gian sinh thái trong quá trình phát triển đô thị.


Tại khu đô thị Ecopark ở Hưng Yên, việc phân bổ quỹ đất cho hạ tầng xanh và mặt nước tạo điều kiện cải thiện vi khí hậu và duy trì các không gian sinh thái trong quá trình phát triển đô thị. (Ảnh: Ecopark)
Tại Eco Central Park ở Nghệ An, những giải pháp này còn được triển khai gắn với đặc điểm khí hậu địa phương. Sau gần 3 năm thực hiện dự án, chủ đầu tư đã cải tạo gần 200ha đất nhiễm mặn, trồng khoảng 10.000 cây bóng mát, phủ xanh 180.000m2 và quy hoạch hệ thống mặt nước liên thông rộng 21ha. Việc kết hợp cây xanh và mặt nước được định hướng nhằm tăng khả năng làm mát, bổ sung độ ẩm và giảm tác động của gió nóng, khô đặc trưng tại khu vực[13]. Những giải pháp này góp phần tạo điều kiện cải thiện vi khí hậu, giảm ảnh hưởng của nắng nóng đối với không gian đô thị.
Eco Central Park là sự kết hợp hoàn hảo giữa không gian sống sinh thái trong lành và các sản phẩm mang kiến trúc xanh độc đáo. (Ảnh: Eco Central Park)
Bên cạnh việc cải thiện điều kiện môi trường tại các khu đô thị, khả năng thích ứng với rủi ro khí hậu cũng cần được tính đến trong thiết kế và vận hành từng công trình. Chia sẻ với Reatimes, ông Douglas Snyder, Giám đốc điều hành Hội đồng Công trình Xanh Việt Nam (VGBC) nhấn mạnh rằng khả năng thích ứng và phục hồi trước các rủi ro khí hậu đang trở thành một nội dung ngày càng quan trọng trong đánh giá công trình xanh. Theo ông, trước nguy cơ gia tăng của bão, lũ lụt và nắng nóng cực đoan, các giải pháp thiết kế cần chú trọng hơn đến khả năng bảo vệ công trình và duy trì điều kiện khai thác, sử dụng tài sản.
Đối với những khu vực tập trung dân cư, sản xuất và dịch vụ, nâng cao khả năng thích ứng với rủi ro khí hậu còn có ý nghĩa trong việc bảo vệ tài sản, hạn chế gián đoạn hoạt động kinh tế và giảm chi phí khắc phục thiệt hại. Khi các yếu tố này được tính đến ngay từ giai đoạn quy hoạch, đầu tư và thiết kế, phát triển bất động sản có thể góp phần nâng cao sức chống chịu của đô thị, qua đó hỗ trợ duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh và ổn định đời sống trước những tác động ngày càng phức tạp của biến đổi khí hậu.
Bên cạnh những tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng tại công trình và chất lượng không gian đô thị, chuyển đổi xanh trong bất động sản còn có khả năng thúc đẩy sự thay đổi ở nhiều ngành sản xuất, cung ứng và dịch vụ liên quan. Với đặc thù quá trình đầu tư, xây dựng và khai thác tài sản cần đến nhiều loại vật liệu, thiết bị, công nghệ và giải pháp vận hành, những yêu cầu mới trong phát triển bất động sản có thể tạo thêm nhu cầu thị trường đối với các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng tiêu chí môi trường và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.
Một trong những lĩnh vực chịu tác động trực tiếp từ sự thay đổi này là ngành vật liệu xây dựng. Phân tích về mối liên hệ này, PGS. TS. KTS. Hoàng Mạnh Nguyên cho rằng yêu cầu đối với vật liệu đang dần thay đổi cùng với xu hướng phát triển công trình xanh. Theo chuyên gia, bên cạnh các đặc tính cơ lý bảo đảm chất lượng, độ bền và an toàn của công trình, vật liệu xây dựng còn cần được xem xét về tác động đối với môi trường và xã hội trong suốt vòng đời.
Theo PGS. TS. KTS. Hoàng Mạnh Nguyên, bên cạnh các đặc tính cơ lý bảo đảm chất lượng, độ bền và an toàn của công trình, vật liệu xây dựng còn cần được xem xét về tác động đối với môi trường và xã hội trong suốt vòng đời. (Ảnh minh họa: Báo Chính phủ)
Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu rộng hơn đối với việc lựa chọn và sử dụng vật liệu trong phát triển bất động sản. Một sản phẩm đáp ứng tốt các yêu cầu kỹ thuật chưa đồng nghĩa có tác động môi trường thấp, bởi quá trình khai thác nguyên liệu, sản xuất, vận chuyển, sử dụng và xử lý sau khi hết vòng đời đều có thể tiêu thụ tài nguyên, năng lượng và phát sinh phát thải. Vì vậy, khi các chủ đầu tư quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả môi trường của công trình, những yếu tố như mức tiêu hao năng lượng trong sản xuất, hàm lượng vật liệu tái chế, độ bền và khả năng tái sử dụng cũng có cơ sở để được đưa vào tiêu chí lựa chọn vật liệu.
Sự thay đổi trong yêu cầu của bên mua có thể tạo ra tác động đối với hoạt động sản xuất và cung ứng. Khi những tiêu chí về hiệu quả tài nguyên, phát thải và tính bền vững được áp dụng trong nhiều dự án, các doanh nghiệp vật liệu sẽ có thêm động lực cải tiến quy trình sản xuất, đổi mới công nghệ và phát triển những sản phẩm đáp ứng yêu cầu môi trường cao hơn. Theo đó, đóng góp của bất động sản đối với chuyển đổi xanh không dừng ở việc lựa chọn vật liệu cho từng công trình, mà còn nằm ở khả năng tạo ra nhu cầu đủ lớn để khuyến khích sự thay đổi trong hoạt động của các nhà cung ứng.
Cùng với vật liệu xây dựng, sự phát triển của bất động sản còn tạo thêm nhu cầu đối với các ngành công nghệ và sản xuất thiết bị. Theo PGS. TS. KTS. Hoàng Mạnh Nguyên, so với trước đây, nhu cầu chất lượng sống của người sở hữu và sử dụng bất động sản ngày càng cao, kéo theo nhu cầu về các thiết bị hiện đại, giải pháp thông minh và công nghệ quản lý, bảo đảm an ninh, an toàn cho công trình. Theo ông, sự thay đổi này cũng góp phần thúc đẩy các ngành sản xuất thiết bị và cung cấp giải pháp công nghệ phát triển.
Đặt trong tiến trình chuyển đổi xanh, có thể thấy mối liên hệ đó còn mở ra nhu cầu đối với những thiết bị và giải pháp công nghệ giúp sử dụng tài nguyên hiệu quả, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải trong quá trình vận hành bất động sản. Từ các hệ thống điều hòa, chiếu sáng hiệu suất cao đến thiết bị quản lý năng lượng và công nghệ tối ưu vận hành, việc chú trọng hơn đến các tiêu chí môi trường trong phát triển dự án có thể tạo thêm thị trường cho những sản phẩm, dịch vụ này. Đối với doanh nghiệp cung ứng, nhu cầu gia tăng là một trong những động lực để đầu tư nghiên cứu, cải tiến công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Tác động của quá trình này còn thể hiện thông qua cách thức tổ chức đầu tư và phát triển dự án. Khi các tiêu chí về hiệu quả năng lượng, mức phát thải và sử dụng tài nguyên được đưa vào yêu cầu lựa chọn nhà thầu, nhà cung ứng và đơn vị vận hành, những doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị bất động sản cũng có thêm động lực điều chỉnh sản phẩm, công nghệ và phương thức cung cấp dịch vụ. Qua đó, yêu cầu chuyển đổi xanh có điều kiện lan tỏa từ hoạt động của chủ đầu tư sang các lĩnh vực sản xuất, cung ứng liên quan.
Tuy nhiên, để những tác động này vượt ra ngoài phạm vi một số dự án tiên phong, yếu tố quan trọng là hình thành được nhu cầu đủ lớn và ổn định đối với các sản phẩm, giải pháp đáp ứng tiêu chí xanh. Khi những yêu cầu về vật liệu ít phát thải, thiết bị tiết kiệm năng lượng và công nghệ vận hành hiệu quả được áp dụng ngày càng rộng rãi, doanh nghiệp cung ứng sẽ có thêm cơ sở để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm và mở rộng năng lực sản xuất, thay vì chỉ đáp ứng những đơn hàng riêng lẻ.
Ở góc độ đó, vai trò của bất động sản còn thể hiện ở khả năng tạo lập thị trường cho quá trình chuyển đổi xanh của các ngành kinh tế liên quan. Với quy mô đầu tư lớn và nhu cầu đa dạng về vật liệu, thiết bị, công nghệ, sự thay đổi trong tiêu chí phát triển dự án có thể tạo ra sức kéo từ phía thị trường, khuyến khích các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực và từng bước chuyển đổi phương thức sản xuất, kinh doanh theo hướng bền vững hơn.
Từ hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng tại từng công trình đến chất lượng không gian đô thị và sự chuyển đổi của các ngành kinh tế liên quan, những đóng góp của bất động sản cho tiến trình chuyển đổi xanh mang ý nghĩa lâu dài. Đặc biệt, khi các công trình và đô thị được kiến tạo hôm nay sẽ tiếp tục phục vụ đời sống, sản xuất và kinh doanh trong nhiều thập kỷ, những lựa chọn phát triển ở hiện tại cũng góp phần định hình chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế trong tương lai.
Tuy nhiên, để những tiềm năng ấy trở thành hiện thực, chuyển đổi xanh cần được thúc đẩy từ chính những quyết định của thị trường. Khi yếu tố xanh ngày càng được quan tâm trong phát triển dự án, một câu chuyện mới cũng mở ra: Liệu những lợi ích về tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí vận hành, nâng cao chất lượng môi trường sống có đang thực sự làm thay đổi cách doanh nghiệp đầu tư, người mua lựa chọn và thị trường đánh giá giá trị bất động sản? Đằng sau những công trình xanh đang xuất hiện ngày một nhiều hơn, đâu là những chuyển động thực chất, những giá trị mới và động lực có thể thúc đẩy thị trường phát triển theo hướng bền vững?
Mời quý độc giả đón đọc Bài 2: "Khi giá trị xanh tái định hình mô hình tăng trưởng của thị trường bất động sản"
[1] https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/chu-chuong-chinh-sach-moi/ket-luan-hoi-nghi-lan-thu-tu-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv-ve-tinh-hinh-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-thuc-hien-nga.html
[2] https://build-up.ec.europa.eu/en/resources-and-tools/publications/global-status-report-buildings-and-construction-2025-2026-key
[3] https://baochinhphu.vn/chuyen-doi-xanh-nganh-xay-dung-tu-cam-ket-den-hanh-dong-kien-tao-tuong-lai-ben-vung-10226071617354086.htm
[6] https://www.unep.org/en/news-and-stories/press-release/climate-action-key-affordable-housing-buildings-decarbonisation
[7] https://www.unep.org/en/news-and-stories/technical-highlight/cities-grow-and-climate-risks-rise-new-unep-report-shows-path
[8] https://bds.flamingogroup.vn/blog/tin-tuc/tieu-chuan-xanh-gop-phan-nang-suc-hut-cua-flamingo-cat-ba/
[10] https://www.unep.org/en/news-and-stories/press-release/climate-action-key-affordable-housing-buildings-decarbonisation
[11] https://www.worldbank.org/vi/country/vietnam/publication/viet-nam-2045-growing-greener-pathways-to-a-resilient-and-sustainable-future



