Bài 3: Đổi mới quản trị phát triển “tam nông”: Từ quyết sách chiến lược đến kết quả thực chất

Bài 3: Đổi mới quản trị phát triển “tam nông”: Từ quyết sách chiến lược đến kết quả thực chất

Nguyễn Thành Công
Nguyễn Thành Công Congnguyenthanhyb@gmail.com
Thứ Hai, 14/09/2026 - 14:00

LỜI TÒA SOẠN

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang được đặt vào một vị thế mới trong mô hình phát triển của đất nước. Nhưng từ vị thế chiến lược đến năng lực phát triển thực tế là một quá trình đòi hỏi một phương thức tổ chức đủ sức kết nối chính sách, nguồn lực và các chủ thể; cần thẩm quyền đi cùng trách nhiệm; và quan trọng nhất, cần đo được những thay đổi thực sự trong sản xuất, thu nhập và chất lượng sống của người dân.

Bởi "tam nông" hôm nay không còn là một không gian phát triển có thể được quản trị trong phạm vi riêng của ngành nông nghiệp. Một vùng nguyên liệu gắn với đất đai, nguồn nước, khoa học, công nghệ; một chuỗi giá trị nối từ hộ nông dân, hợp tác xã đến doanh nghiệp chế biến, logistics và thị trường; một miền quê đáng sống còn phụ thuộc vào giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường và các dịch vụ thiết yếu. Khi các quan hệ ấy ngày càng đan xen, cách tổ chức phát triển cũng phải vượt khỏi tư duy phân chia nhiệm vụ theo từng ngành, từng chương trình hay từng địa giới hành chính.

Từ góc nhìn thể chế và chính sách công, TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, cho rằng điểm then chốt nằm ở năng lực tổ chức thực hiện: Ai có quyền quyết định, ai phối hợp, nguồn lực được đặt ở đâu và ai phải chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả chung. "Phối hợp chỉ có ý nghĩa khi có người chịu trách nhiệm về kết quả chung", nhận định ấy cũng là một trong những mạch tư tưởng xuyên suốt cuộc trao đổi.

Từ vận hành chính quyền địa phương hai cấp, điều phối chuỗi giá trị liên tỉnh, lựa chọn đầu tư công, phát triển doanh nghiệp dẫn dắt đến đặt hàng khoa học từ bài toán của đồng ruộng, cuộc trao đổi đặt người nông dân vào đúng vị trí của một chủ thể phát triển có quyền tham gia, quyền lựa chọn, năng lực tiếp nhận tri thức và khả năng bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Đồng thời, thị trường, chuyển đổi xanh và văn hóa được nhìn nhận không phải như những lĩnh vực tách rời, mà như những không gian mới để "tam nông" tạo thêm giá trị cho nền kinh tế và xã hội.

Đi xa hơn câu chuyện "làm bao nhiêu việc", cuộc phỏng vấn đặt trọng tâm vào câu hỏi người dân thực sự nhận được gì từ chính sách. Một công trình chỉ có ý nghĩa khi được sử dụng hiệu quả; một chương trình khoa học chỉ có giá trị khi kết quả "sống được trên đồng ruộng"; một doanh nghiệp dẫn dắt chỉ thật sự dẫn dắt khi các chủ thể nhỏ trong chuỗi cùng trưởng thành; một chính sách chỉ hoàn thành khi những kết quả phát triển có thể được nhận diện và kiểm chứng trong đời sống.

Tiếp nối chuyên đề "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình phát triển mới của Việt Nam", chúng tôi thực hiện đối thoại với TS. Nguyễn Sĩ Dũng về một vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với giai đoạn mới: Làm thế nào xây dựng năng lực biến quyết sách thành kết quả, để "tam nông" không chỉ thích ứng với những thay đổi của thời đại mà thực sự trở thành một nguồn lực tạo giá trị mới cho đất nước.

Trân trọng giới thiệu cùng độc giả!

 - Thưa ông, Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 xác định đổi mới mô hình phát triển đất nước là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử, nhằm tạo ra năng lực phát triển mới, hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đặt yêu cầu này trong mối liên hệ với Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 - Nghị quyết chuyên đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, theo ông, điều gì cần thay đổi trước hết trong cách Nhà nước tổ chức phát triển "tam nông"? Và những vấn đề nào hiện đã vượt ra ngoài phạm vi của riêng ngành nông nghiệp, đòi hỏi một cơ chế phối hợp ở tầm rộng hơn?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Điều căn bản nhất phải thay đổi là chuyển từ tư duy phát triển "tam nông" như một lĩnh vực cần hỗ trợ sang tư duy coi "tam nông" là một cấu phần chiến lược của mô hình phát triển quốc gia. Nông nghiệp không chỉ tạo ra lương thực; nông thôn không chỉ là địa bàn cư trú; nông dân không chỉ là người sản xuất. Đây còn là không gian bảo đảm an ninh lương thực, cân bằng sinh thái, gìn giữ văn hóa, ổn định xã hội và tạo ra những động lực tăng trưởng mới.

Vì vậy, Nhà nước không thể tiếp tục tổ chức phát triển chủ yếu bằng các chương trình riêng lẻ và phân bổ nguồn lực theo ngành. Cần quản trị "tam nông" như một hệ sinh thái, kết nối sản xuất với chế biến, logistics, khoa học, công nghệ, tín dụng, thị trường và các dịch vụ thiết yếu ở nông thôn. Thước đo không phải là đã ban hành bao nhiêu chính sách hay giải ngân bao nhiêu ngân sách, mà là thu nhập của nông dân có tăng bền vững không, giá trị gia tăng có được giữ lại nhiều hơn ở nông thôn không và người dân có thực sự được hưởng thành quả phát triển không.

Nhiều vấn đề cốt lõi không thể giải quyết bằng nỗ lực riêng của ngành nông nghiệp. Quy hoạch đất đai thuộc nhiều cấp, nhiều ngành; hạ tầng logistics và công nghiệp chế biến liên quan đến công thương, giao thông và đầu tư; tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp cần khu vực tài chính; đào tạo nhân lực, y tế, văn hóa và chuyển đổi số đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ hệ thống.

Bởi vậy, đổi mới mô hình phát triển phải đi cùng đổi mới cơ chế phối hợp và trách nhiệm. Cần có một đầu mối đủ thẩm quyền điều phối theo vùng và chuỗi giá trị, đồng thời xác định rõ ai quyết định, ai thực hiện và ai chịu trách nhiệm về kết quả. Nếu vẫn giao mục tiêu liên ngành nhưng duy trì quyền hạn và nguồn lực chia cắt, "tam nông" sẽ tiếp tục có vị thế chiến lược trong văn kiện nhưng chưa có vị thế tương xứng trong thực tiễn phát triển.

Bài 3: Đổi mới quản trị phát triển “tam nông”: Từ quyết sách chiến lược đến kết quả thực chất - Ảnh 1.

- Nhìn vào "tam nông" hiện nay, có thể thấy đây gần như là điểm giao của nhiều quyết sách lớn: Nghị quyết số 57-NQ/TW về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045… Nhưng cũng từ đây đặt ra một yêu cầu: Nếu quá trình thể chế hóa và tổ chức thực hiện từng nghị quyết lại được triển khai thành những chương trình, nhiệm vụ và đầu mối riêng, chúng ta rất dễ rơi vào tình trạng từng phần đều đúng nhưng kết quả chung lại thiếu sự kết nối. Theo ông, cần thay đổi cách tổ chức thực hiện như thế nào để quá trình thể chế hóa và thực thi các nghị quyết cùng hội tụ vào những bài toán phát triển cụ thể của "tam nông"?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Muốn các nghị quyết cùng tạo ra một kết quả phát triển, phải đảo chiều cách tổ chức thực hiện. Không nên bắt đầu từ câu hỏi mỗi nghị quyết giao nhiệm vụ gì cho từng ngành, mà bắt đầu từ bài toán cụ thể của địa phương cần giải quyết là gì. Các nghị quyết xác lập những định hướng chính sách để huy động và phát huy các nguồn lực khác nhau; bài toán phát triển mới là nơi các nguồn lực ấy phải hội tụ.

Chẳng hạn, với một vùng nông sản gắn với chế biến và nghề truyền thống, bài toán không chỉ là tăng sản lượng, mà còn phải nâng giá trị sản phẩm, ứng dụng công nghệ và dữ liệu, tổ chức lại chuỗi cung ứng, phát huy bản sắc địa phương và nâng thu nhập của người dân.

Khi ấy, Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo động lực về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và khai thác dữ liệu để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của cả chuỗi; Nghị quyết số 68-NQ/TW thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, khuyến khích doanh nghiệp lớn dẫn dắt, liên kết với các chủ thể nhỏ hơn, đầu tư vào chế biến nông sản, thực phẩm và hỗ trợ chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực; còn Nghị quyết số 80-NQ/TW tạo cơ sở để phát huy di sản, nghề truyền thống, tri thức và bản sắc địa phương như những nguồn lực nội sinh cho phát triển, gắn văn hóa với du lịch, thương mại, công nghệ, phát triển sản phẩm đặc sắc và củng cố thương hiệu địa phương. Quá trình thể chế hóa và tổ chức thực hiện các Nghị quyết phải được tích hợp vào một nhiệm vụ phát triển, một kế hoạch hành động và một hệ thống kết quả chung cho "tam nông".

Ở cấp địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nên chịu trách nhiệm điều phối chung; một cơ quan chuyên môn được giao làm đầu mối thường trực theo tính chất của bài toán. Điều quan trọng là đầu mối này phải có quyền triệu tập, tổng hợp nguồn lực, theo dõi tiến độ và kiến nghị xử lý những xung đột về ưu tiên. Nếu nhiệm vụ vượt địa giới hành chính, cần có cơ chế điều phối vùng và một chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng, thay vì chỉ dựa vào sự tự nguyện phối hợp giữa các tỉnh.

Nguồn lực cũng phải được lập theo nhiệm vụ phát triển, không chia cắt hoàn toàn theo từng chương trình. Kết quả cần được đánh giá bằng một bộ chỉ số chung, gồm giá trị gia tăng, thu nhập của người dân, mức độ tham gia của doanh nghiệp, giá trị văn hóa được bảo tồn và khả năng tiếp cận thị trường. Khi các cơ quan có ưu tiên khác nhau, quyết định phải căn cứ vào kết quả chung ấy. Không thể để sự thuận tiện của từng ngành lấn át lợi ích phát triển của cả vùng và người dân.

Bài 3: Đổi mới quản trị phát triển “tam nông”: Từ quyết sách chiến lược đến kết quả thực chất - Ảnh 2.

Bản làng người H'Mông vắt vẻo trên sườn núi Khau Vai, nơi những chiếc lu cở bắt đầu hành trình từ ngưỡng cửa nhà ra đến nương xa. (Ảnh: Hoàng Yên - Thanh Miền)

- Nhưng khi đưa nguyên tắc ấy xuống một vùng sản xuất cụ thể thì câu hỏi rất thực tế lại xuất hiện: Ai sẽ là người "cầm trịch"? Nông nghiệp có ưu tiên của nông nghiệp, công thương có phần việc của công thương, khoa học, văn hóa, giao thông… cũng có những mục tiêu riêng. Nếu những ưu tiên ấy không hoàn toàn trùng nhau, theo ông, ai phải có quyền đưa ra quyết định cuối cùng và quyết định ấy phải dựa trên căn cứ nào?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi, "cầm trịch" trước hết không phải là có thêm một cơ quan đứng giữa để triệu tập các bên, mà là phải có một chủ thể đủ thẩm quyền và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng. Trong phạm vi một tỉnh, trách nhiệm đó cần được đặt ở cấp có khả năng điều phối các ngành và nguồn lực; nếu bài toán vượt qua địa giới hành chính thì phải có cơ chế điều phối ở tầm vùng tương ứng.

Điều quan trọng hơn là người chủ trì phải có một căn cứ chung để ra quyết định. Khi nông nghiệp muốn mở rộng vùng nguyên liệu, công thương quan tâm đến chế biến và thị trường, giao thông đặt vấn đề hạ tầng, còn văn hóa muốn bảo tồn nghề truyền thống, không thể giải quyết bằng cách chia đều nguồn lực hay cố làm hài lòng tất cả các bên. Phải quay trở lại mục tiêu phát triển cuối cùng, chọn phương án nào tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, nâng thu nhập của người dân, cải thiện sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm các giá trị văn hóa, xã hội và môi trường cần gìn giữ.

Vì vậy, một kế hoạch liên ngành phải xác định ngay từ đầu mục tiêu chung, phần việc của từng cơ quan, nguồn lực, tiến độ và kết quả cần đạt. Người chủ trì phải có quyền yêu cầu các bên điều chỉnh phần việc, kiến nghị điều chỉnh nguồn lực trong phạm vi được giao và đưa những bất đồng vượt thẩm quyền lên cấp có quyền quyết định trong một thời hạn rõ ràng. Nếu mọi việc vẫn phải quay về xin ý kiến từng ngành theo quy trình riêng thì thực chất chưa có điều phối.

Tôi vẫn muốn nhấn mạnh nguyên tắc phối hợp chỉ có ý nghĩa khi có người chịu trách nhiệm về kết quả chung. Nếu mỗi cơ quan đều hoàn thành phần việc của mình nhưng không ai chịu trách nhiệm xem toàn bộ chuỗi có vận hành tốt hay không, thì rất dễ xảy ra tình trạng từng phần đều "đúng quy trình", còn bài toán phát triển vẫn chưa được giải quyết.

- Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 yêu cầu trong năm 2026 cơ bản hoàn thành việc rà soát, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương về "tam nông" thành luật và văn bản hướng dẫn. Nhưng trong thực tế, một chính sách không đi được có thể vì thiếu quy định, quy định chưa thống nhất; cũng có thể vì người thực hiện không đủ thẩm quyền, nguồn lực hoặc năng lực tổ chức. Nếu mọi điểm nghẽn đều được gọi chung là "vướng thể chế", rất dễ dẫn đến tình trạng tiếp tục sửa văn bản mà vấn đề thực thi vẫn còn nguyên. Theo ông, cần rà soát theo cách nào để nhận diện đúng nguyên nhân của từng vướng mắc? Và sau khi đã nhận diện, trách nhiệm tháo gỡ phải được gắn với từng chủ thể ra sao?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Muốn thể chế hóa đi liền với khả năng thi hành, việc rà soát không thể chỉ là kiểm đếm văn bản còn thiếu hoặc tìm những điều khoản mâu thuẫn. Cần bắt đầu từ các nhiệm vụ phát triển cụ thể và lần theo toàn bộ quá trình thực hiện: ai có quyền quyết định, cần nguồn lực gì, phải phối hợp với ai, vướng ở công đoạn nào và kết quả cuối cùng có đạt được hay không. Nói cách khác, phải rà soát từ thực tiễn vận hành, không chỉ từ hồ sơ pháp lý.

Có thể phân loại vướng mắc theo bốn nhóm. Thứ nhất, nếu chưa có quy tắc để xử lý một quan hệ mới, đó là khoảng trống pháp luật. Thứ hai, nếu nhiều văn bản quy định khác nhau về cùng một vấn đề, đó là xung đột hoặc thiếu thống nhất. Thứ ba, nếu nhiệm vụ đã rõ nhưng chủ thể thực hiện không có quyền quyết định tương ứng, đó là thiếu thẩm quyền. Thứ tư, nếu đã có quy định và thẩm quyền nhưng công việc vẫn đình trệ, cần xem xét nguồn lực, dữ liệu, nhân lực, quy trình phối hợp và năng lực tổ chức thực hiện.

Mỗi vướng mắc phải được gắn với một địa chỉ xử lý. Quốc hội và Chính phủ chịu trách nhiệm khắc phục khoảng trống, mâu thuẫn ở cấp luật và chính sách; bộ quản lý ngành xử lý văn bản hướng dẫn, tiêu chuẩn và quy trình chuyên môn; chính quyền địa phương chịu trách nhiệm bố trí nguồn lực, tổ chức phối hợp và nâng cao năng lực thực thi. Trường hợp bất cập phát sinh từ việc phân quyền chưa hợp lý, cơ quan giao nhiệm vụ phải đồng thời điều chỉnh thẩm quyền, nguồn lực và cơ chế kiểm soát.

Quan trọng hơn, kết quả rà soát cần được công khai dưới dạng một danh mục hành động: vướng mắc nào, thuộc nhóm nào, ai xử lý, thời hạn bao lâu và tiêu chí nào xác nhận đã khắc phục. Không nên coi việc ban hành văn bản là hoàn thành nhiệm vụ. Một vướng mắc chỉ thực sự được tháo gỡ khi người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở có thể thực hiện công việc thuận lợi hơn và tạo ra kết quả phát triển tốt hơn.

- Kết luận số 219-KL/TW vừa đặt yêu cầu xây dựng cơ chế hợp tác đa ngành, chuỗi ngành hàng, vừa yêu cầu rà soát, quy định cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã trong thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời bảo đảm phát triển "tam nông" đồng bộ với vận hành hiệu quả chính quyền địa phương hai cấp. Vấn đề đặt ra, theo tôi, không phải là phân cấp càng nhiều càng tốt, mà là phân định đúng việc, đúng cấp, đi cùng đúng thẩm quyền và nguồn lực. Bởi trong "tam nông", có những vấn đề phát sinh trực tiếp ở cơ sở nhưng phạm vi tác động lại vượt khỏi một xã, từ vùng nguyên liệu, nguồn nước đến hạ tầng, chế biến, logistics và thị trường. Theo ông, cần dựa trên những nguyên tắc nào để xác định việc gì thuộc trách nhiệm và thẩm quyền của cấp xã, việc gì cấp tỉnh phải đứng ra điều phối? Và làm thế nào để tránh tình trạng giao thêm nhiệm vụ xuống dưới nhưng quyền quyết định, nguồn lực và công cụ thực hiện lại không đi cùng?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Việc phân định thẩm quyền nên tuân theo nguyên tắc bổ trợ, tức là việc nào cấp xã làm hiệu quả hơn, gần dân hơn thì giao cho cấp xã; việc nào vượt quá địa giới, năng lực hoặc tạo ra tác động liên địa bàn thì cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm. Không nên phân cấp theo mong muốn giảm việc cho cấp trên, mà phải dựa trên quy mô và tính chất của nhiệm vụ.

Cấp xã cần tập trung vào những công việc gắn trực tiếp với người dân và địa bàn như cập nhật dữ liệu hộ sản xuất, đất đai và vùng nguyên liệu; hỗ trợ tổ chức hợp tác; xác nhận, giám sát việc tuân thủ quy hoạch, tiêu chuẩn sản xuất và bảo vệ môi trường; tiếp nhận phản ánh; hòa giải những tranh chấp ban đầu; huy động sự tham gia của cộng đồng. Xã cũng phải có vai trò phát hiện sớm rủi ro dịch bệnh, thiên tai, đứt gãy sản xuất và báo cáo qua hệ thống dữ liệu dùng chung.

Cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm đối với những vấn đề có quy mô toàn chuỗi như quy hoạch vùng nguyên liệu; kết nối vùng sản xuất với chế biến, logistics và thị trường; xây dựng hạ tầng liên xã; thu hút doanh nghiệp; điều phối hợp đồng liên kết; quản lý rủi ro và xử lý các vấn đề vượt khả năng của một xã. Khi chuỗi ngành hàng vượt ra ngoài một tỉnh, cấp tỉnh không thể tự thỏa thuận theo từng vụ việc, mà cần tham gia một cơ chế điều phối vùng do Trung ương thiết lập hoặc ủy quyền rõ ràng.

Điều quan trọng là không giao nhiệm vụ đơn độc. Mỗi nhiệm vụ phải đi cùng năm điều kiện: Thẩm quyền quyết định, ngân sách, nhân lực, dữ liệu và công cụ thực hiện. Trước khi phân cấp cần đánh giá năng lực từng địa bàn; nơi chưa đáp ứng thì tổ chức đào tạo, hỗ trợ theo cụm xã hoặc cung cấp dịch vụ dùng chung.

Cuối cùng, cấp trên không được chuyển trách nhiệm xuống rồi đứng ngoài. Tỉnh phải thiết lập tiêu chuẩn, hỗ trợ kỹ thuật, giám sát kết quả và can thiệp khi rủi ro vượt quá khả năng của xã. Phân quyền đúng nghĩa là đưa quyết định đến gần người dân hơn, nhưng trách nhiệm bảo đảm năng lực thực thi vẫn phải được thiết kế trong toàn hệ thống.

- Nhưng phân định thẩm quyền giữa tỉnh và xã mới giải quyết được quan hệ trong phạm vi một địa phương. Trong thực tế, một chuỗi ngành hàng có thể trải trên nhiều tỉnh, ví dụ vùng nguyên liệu ở nơi này, nhà máy chế biến ở nơi khác, còn logistics, cửa khẩu hay thị trường lại nằm ở một địa bàn khác. Khi lợi ích, chi phí và cả rủi ro được phân bổ trên nhiều địa phương như vậy, nếu chỉ dựa vào sự phối hợp tự nguyện thì rất dễ xuất hiện khoảng trống trách nhiệm. Theo ông, cơ chế điều phối liên tỉnh cần được thiết kế thế nào để có một chủ thể đủ thẩm quyền xử lý công việc chung và giải quyết bất đồng, nhưng không tạo thêm một tầng nấc hành chính mới?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Khi chuỗi sản xuất liên quan nhiều tỉnh, không thể để công việc chung phụ thuộc hoàn toàn vào sự tự nguyện phối hợp. Cần có một chủ thể được giao quyền điều phối và chịu trách nhiệm về kết quả toàn chuỗi. Tùy quy mô, Chính phủ hoặc bộ quản lý ngành có thể giao một tỉnh đầu mối; đối với chuỗi có ý nghĩa chiến lược, Hội đồng điều phối vùng cần đứng ra xử lý những vấn đề liên tỉnh.

Cơ chế này có thể vận hành trong bộ máy hiện có, không nhất thiết thành lập thêm một tầng chính quyền hay một cơ quan hành chính mới. Hội đồng điều phối vùng xác lập mục tiêu, kế hoạch và nguyên tắc phân chia trách nhiệm; tỉnh đầu mối duy trì bộ phận thường trực, tổng hợp dữ liệu, theo dõi tiến độ và kiến nghị xử lý vướng mắc. Mỗi tỉnh vẫn quyết định những việc thuộc thẩm quyền của mình, nhưng phải thực hiện các cam kết chung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Điểm quyết định là cơ chế điều phối phải có thực quyền. Cần quy định rõ ai quyết định khi các tỉnh bất đồng; chi phí hạ tầng dùng chung được phân bổ thế nào; lợi ích, nguồn thu và rủi ro được chia sẻ ra sao. Những tranh chấp không giải quyết được trong thời hạn nhất định phải được chuyển ngay lên Thủ tướng Chính phủ hoặc cơ quan được ủy quyền phân xử.

Điều phối vùng sẽ khó hiệu quả nếu chỉ có họp và khuyến nghị. Nó phải dựa trên kế hoạch chung, dữ liệu chung, cơ chế phối hợp nguồn lực và trách nhiệm giải trình rõ ràng về kết quả toàn chuỗi.

- Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 và Kết luận số 219-KL/TW đặt mục tiêu đầu tư ngân sách nhà nước giai đoạn 2021-2030 cho nông nghiệp, nông thôn tăng ít nhất gấp hai lần giai đoạn 2011-2020. Đây là một cam kết rất lớn về nguồn lực. Nhưng tăng đầu tư mới chỉ là điều kiện cần; vấn đề quan trọng là mỗi đồng vốn công tạo thêm được năng lực gì cho cả hệ sinh thái. Theo ông, nguyên tắc lựa chọn đầu tư cần thay đổi thế nào để ngân sách không chỉ tạo thêm công trình, mà còn hình thành được những hạ tầng, dịch vụ và năng lực dùng chung, qua đó mở đường cho đầu tư của doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Tăng đầu tư là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là đầu tư vào đâu và tạo ra năng lực phát triển nào. Nếu nguồn lực tăng lên mà vẫn phân bổ dàn trải, chia đều theo địa giới hoặc tập trung vào những công trình dễ nhìn thấy nhưng ít được sử dụng, hiệu quả phát triển sẽ không tăng tương ứng. Nguyên tắc cốt lõi phải là ngân sách nhà nước đầu tư vào những hàng hóa công cộng và điểm nghẽn mà từng hộ dân hay doanh nghiệp riêng lẻ không thể tự giải quyết.

Ưu tiên trước hết nên dành cho hạ tầng và dịch vụ dùng chung: thủy lợi đa mục tiêu, giao thông kết nối vùng nguyên liệu với trung tâm chế biến, logistics lạnh, hạ tầng số, cơ sở dữ liệu, kiểm nghiệm chất lượng, dự báo thị trường, cảnh báo thiên tai và đào tạo nhân lực. Đây là những nền tảng giúp giảm chi phí, giảm rủi ro và tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tiếp tục đầu tư.

Việc lựa chọn dự án cũng cần chuyển từ tư duy "có công trình" sang tư duy "tạo ra kết quả". Mỗi dự án phải trả lời được bốn câu hỏi: đang tháo gỡ điểm nghẽn nào; có bao nhiêu người và doanh nghiệp được hưởng lợi; huy động thêm được bao nhiêu nguồn lực xã hội; ai chịu trách nhiệm vận hành sau đầu tư? Những dự án không có mô hình khai thác, nguồn kinh phí bảo trì hoặc chủ thể sử dụng rõ ràng thì chưa nên phê duyệt.

Đồng thời, cần đánh giá hiệu quả lan tỏa thay vì chỉ tính khối lượng xây dựng hay tỷ lệ giải ngân. Một đồng ngân sách tốt không chỉ tạo ra một đồng tài sản công, mà còn phải mở đường cho nhiều đồng vốn tư nhân, tạo thêm thị trường và nâng cao thu nhập cho người dân.

Cuối cùng, đầu tư công phải được lựa chọn với sự tham gia thực chất của cộng đồng và doanh nghiệp. Người trực tiếp sản xuất thường biết rõ điểm nghẽn nằm ở con đường, nguồn nước, kho lạnh hay thông tin thị trường. Khi nhu cầu được xác định đúng và trách nhiệm vận hành được thiết kế từ đầu, ngân sách mới thực sự chuyển hóa thành năng lực phát triển chung.

- Vậy khi nào nên xây mới và khi nào nên đầu tư để nâng hiệu quả những hạ tầng, dịch vụ đã có? Quan trọng hơn, một dự án đầu tư công nên được coi là "hoàn thành" từ lúc nào?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Việc lựa chọn không nên bắt đầu từ câu hỏi "xây công trình gì", mà từ câu hỏi "năng lực nào đang thiếu và phương án nào tạo ra kết quả lớn nhất với tổng chi phí thấp nhất". Cần so sánh ít nhất bốn kết quả, gồm mức giảm chi phí sản xuất và logistics; số người, hợp tác xã và doanh nghiệp được hưởng lợi; khả năng nâng cao chất lượng, an toàn và giá trị sản phẩm; mức vốn xã hội có thể huy động thêm.

Một công trình mới chỉ nên được lựa chọn khi hạ tầng thực sự là điểm nghẽn và không thể khắc phục bằng cách nâng hiệu suất tài sản hiện có. Nếu khó khăn chủ yếu nằm ở năng lực vận hành, tư vấn kỹ thuật, kiểm định chất lượng hoặc kết nối thị trường, thì đầu tư cho dịch vụ dùng chung có thể tạo hiệu quả nhanh và rộng hơn. Khi thẩm định, phải tính toàn bộ vòng đời dự án, bao gồm chi phí vận hành, bảo trì và nguy cơ công trình không được sử dụng hết công suất.

Trách nhiệm lâu dài trước hết thuộc về cơ quan quyết định đầu tư và chính quyền cấp tỉnh. Tuy nhiên, ngay từ khi phê duyệt phải xác định rõ đơn vị vận hành, nguồn kinh phí thường xuyên, tiêu chuẩn dịch vụ và chỉ số hiệu quả. Hội đồng nhân dân, cơ quan kiểm toán, cộng đồng và người sử dụng cần được tiếp cận dữ liệu để giám sát.

Không thể coi dự án hoàn thành khi công trình được nghiệm thu hay ngân sách được giải ngân. Dự án chỉ hoàn thành về mặt phát triển khi năng lực mới được sử dụng bền vững và tạo ra lợi ích có thể kiểm chứng cho toàn vùng sản xuất.

- Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu khuyến khích doanh nghiệp lớn chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo và tăng cường liên kết với doanh nghiệp nhỏ và vừa; Kết luận số 219-KL/TW cũng hướng tới hình thành những doanh nghiệp nông nghiệp mạnh, có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị. Một doanh nghiệp "dẫn dắt" sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu chỉ lớn lên một mình. Theo ông, chính sách cần được thiết kế thế nào để sự lớn mạnh của doanh nghiệp thực sự kéo theo sự trưởng thành của hợp tác xã, hộ nông dân và các nhà cung ứng trong chuỗi?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Doanh nghiệp dẫn dắt chỉ thực sự có ý nghĩa khi sức mạnh của doanh nghiệp được chuyển hóa thành năng lực của cả chuỗi. Vì vậy, ưu đãi công không nên chỉ căn cứ vào quy mô vốn, doanh thu hay diện tích vùng nguyên liệu, mà phải gắn với những kết quả lan tỏa có thể đo lường và kiểm chứng.

Trước khi nhận ưu đãi, doanh nghiệp cần công bố một cam kết liên kết gồm số hợp tác xã, hộ nông dân và nhà cung ứng tham gia; nội dung chuyển giao công nghệ, đào tạo và hỗ trợ tiêu chuẩn; tỷ lệ thu mua theo hợp đồng; nguyên tắc xác định giá; cơ chế chia sẻ rủi ro khi thị trường biến động hoặc xảy ra thiên tai; những năng lực mà các chủ thể tham gia sẽ có được sau một thời hạn nhất định. Cam kết phải trở thành điều kiện của ưu đãi, không chỉ là hoạt động trách nhiệm xã hội tự nguyện.

Việc đánh giá cũng cần đi vào chất lượng liên kết. Không chỉ hỏi doanh nghiệp đã ký hợp đồng với bao nhiêu hộ dân, mà phải xem thu nhập của họ có tăng không; tỷ lệ sản phẩm đạt tiêu chuẩn có cao hơn không; hợp tác xã có làm chủ được quy trình, dữ liệu và thị trường không; nhà cung ứng địa phương có tham gia được vào những khâu có giá trị cao hơn không. Đặc biệt, cần kiểm chứng liệu người nông dân có bị lệ thuộc vào một người mua duy nhất hay được nâng cao vị thế thương lượng.

Dữ liệu đánh giá phải được đối chiếu từ doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân và cơ quan quản lý; có thể giao một tổ chức độc lập kiểm chứng đối với chương trình ưu đãi lớn. Ưu đãi nên được giải ngân theo kết quả từng giai đoạn; không đạt cam kết thì giảm, dừng hoặc thu hồi phần hỗ trợ tương ứng.

Tuy nhiên, trách nhiệm lan tỏa không có nghĩa là buộc doanh nghiệp gánh thay Nhà nước. Nhà nước vẫn phải đầu tư hạ tầng, bảo đảm cạnh tranh, bảo đảm cơ chế thực thi hợp đồng và hỗ trợ nâng cao năng lực hợp tác xã. Doanh nghiệp dẫn dắt mở đường cho chuỗi phát triển; Nhà nước phải bảo đảm con đường ấy công bằng, minh bạch và không ai bị bỏ lại phía sau.

- Nhưng ai sẽ xác nhận doanh nghiệp thực sự tạo được sức lan tỏa, chứ không chỉ tự báo cáo thành tích của mình?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Nguyên tắc quan trọng nhất là không để doanh nghiệp vừa là bên nhận ưu đãi, vừa là bên tự xác nhận kết quả của mình. Cơ quan cấp ưu đãi cũng không nên chỉ dựa vào báo cáo một chiều của doanh nghiệp. Kết quả phải được kiểm chứng từ phía những chủ thể trực tiếp tham gia chuỗi, đặc biệt là hợp tác xã, hộ nông dân và các nhà cung ứng; đồng thời đối chiếu với dữ liệu quản lý, hợp đồng và giao dịch thực tế. Với những chương trình hỗ trợ lớn, có thể cần một cơ chế đánh giá độc lập.

Điều quan trọng không phải là kiểm đếm doanh nghiệp đã tổ chức bao nhiêu lớp tập huấn hay ký bao nhiêu biên bản hợp tác, mà là những cam kết lan tỏa đã tạo ra thay đổi thực chất hay chưa. Kết quả kiểm chứng phải trở thành căn cứ để tiếp tục, điều chỉnh hoặc chấm dứt ưu đãi. Nếu chính sách hỗ trợ không gắn với hậu kiểm và trách nhiệm về kết quả, rất dễ biến "lan tỏa" thành một điều kiện mang tính hình thức.

Nhưng cũng phải tránh một cực đoan khác. Vì muốn tạo doanh nghiệp dẫn dắt mà vô tình tạo ra vị thế độc quyền trong chuỗi. Hỗ trợ công phải minh bạch, có thời hạn và không làm mất quyền lựa chọn của người sản xuất. Người nông dân, hợp tác xã phải biết rõ điều kiện tham gia, có khả năng lựa chọn đối tác và không bị khóa chặt vào một quan hệ liên kết bất lợi.

Mục tiêu của chính sách không phải tạo ra sự phụ thuộc vào một doanh nghiệp lớn, mà hình thành một mạng lưới trong đó các chủ thể nhỏ đủ năng lực hợp tác với nhiều đối tác và tham gia thị trường với vị thế ngày càng tốt hơn.

- Quan điểm đặt người nông dân ở vị trí trung tâm đã được xác định rất rõ trong các chủ trương chiến lược gần đây. Để vị trí đó được thể hiện đầy đủ trong thực tiễn phát triển, theo ông, cần những cơ chế nào để nông dân có tiếng nói thực chất trong các quyết định tác động trực tiếp đến sinh kế, từ chương trình hỗ trợ, tổ chức sản xuất đến các quan hệ liên kết? Hội Nông dân, hợp tác xã và chính quyền cần giữ vai trò gì để quyền tham gia đi cùng khả năng bảo vệ lợi ích của người nông dân?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Đặt nông dân ở vị trí trung tâm không thể chỉ là sự ghi nhận về chính trị hay đạo lý, mà phải được chuyển hóa thành quyền tham gia, quyền lựa chọn và khả năng tự bảo vệ lợi ích. Nếu nông dân chỉ được thông báo sau khi chương trình hỗ trợ, quy hoạch hay mô hình liên kết đã được quyết định, thì họ vẫn là đối tượng thực hiện, chưa phải chủ thể phát triển.

Trước hết, cần thiết lập quy trình tham vấn bắt buộc từ sớm đối với những quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến đất đai, nguồn nước, vùng sản xuất và sinh kế. Phương án phải được cung cấp bằng ngôn ngữ dễ hiểu, nêu rõ lợi ích, chi phí, rủi ro và các lựa chọn thay thế. Ý kiến của người dân phải được tổng hợp công khai; cơ quan quyết định có trách nhiệm giải trình vì sao tiếp thu hoặc không tiếp thu. Với chương trình hỗ trợ, nên cho người dân quyền lựa chọn trong một danh mục dịch vụ, công nghệ và nhà cung cấp đủ tiêu chuẩn, thay vì áp đặt một mô hình đồng loạt.

Trong các quan hệ liên kết, nông dân cần được tiếp cận thông tin thị trường, hợp đồng mẫu, tư vấn pháp lý và cơ chế giải quyết tranh chấp nhanh, ít tốn kém. Cần đặc biệt bảo đảm tiếng nói của hộ sản xuất nhỏ, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số và những nhóm có nguy cơ bị hạn chế khả năng tham gia.

Vai trò của ba chủ thể cần được phân định rõ. Hội Nông dân đại diện, phản ánh tiếng nói, hỗ trợ pháp lý và giám sát chính sách; không làm thay chức năng quản lý nhà nước hay kinh doanh. Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ, giúp nông dân tập hợp sản lượng, giảm chi phí, tiếp cận công nghệ và nâng cao vị thế thương lượng; không được trở thành cánh tay hành chính của chính quyền. Chính quyền có trách nhiệm cung cấp thông tin, bảo đảm quy trình tham gia, duy trì cạnh tranh công bằng và thực thi hợp đồng.

Quyền tham gia chỉ có ý nghĩa khi người dân có thông tin, có tổ chức đại diện đủ năng lực và phát huy được vai trò, có nơi để khiếu nại, yêu cầu khắc phục. Khi đó, hình ảnh "doanh nhân của đồng đất" hay "kỹ sư sinh thái" mới trở thành một địa vị thực chất trong trật tự phát triển.

- Còn khi bất đồng phát sinh trong hợp đồng, chẳng hạn về chất lượng, thanh toán hay chi phí, thì sao? Cơ chế giải quyết nào đủ nhanh, ít tốn kém mà vẫn bảo đảm công bằng cho cả người sản xuất và doanh nghiệp?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Cơ chế giải quyết tranh chấp phải được thiết kế theo nhiều tầng, bắt đầu từ phòng ngừa. Hợp đồng liên kết cần quy định rõ tiêu chuẩn chất lượng, phương pháp lấy mẫu, đơn vị kiểm định, thời hạn thanh toán, cách phân bổ chi phí phát sinh và phương án xử lý khi có thiên tai hoặc biến động thị trường. Các điều khoản quan trọng phải được giải thích trước khi ký, tránh tình trạng nông dân chỉ nhận một hợp đồng soạn sẵn và hầu như không có khả năng thương lượng.

Khi phát sinh bất đồng, hộ sản xuất cần được tiếp cận một đầu mối tư vấn gần nhất, có thể đặt tại hợp tác xã hoặc Hội Nông dân, với sự hỗ trợ của chuyên gia kỹ thuật và pháp lý. Bước đầu là đối thoại trực tiếp, có biên bản và thời hạn giải quyết rõ ràng. Nếu không đạt thỏa thuận, tranh chấp được chuyển sang hòa giải độc lập hoặc trọng tài chuyên ngành theo thủ tục đơn giản, chi phí thấp. Tòa án là tầng bảo vệ cuối cùng, nhưng cần có quy trình rút gọn đối với những tranh chấp giá trị nhỏ và có chứng cứ rõ.

Bằng chứng phải dựa trên dữ liệu khách quan: hồ sơ truy xuất nguồn gốc, kết quả kiểm định độc lập, chứng từ giao nhận và thanh toán. Không nên để bên mua vừa đặt tiêu chuẩn, vừa tự kiểm định, vừa quyết định mức khấu trừ.

Cơ chế tốt phải bảo vệ nông dân trước sự bất cân xứng về thông tin và vị thế thương lượng, đồng thời bảo vệ doanh nghiệp trước hành vi vi phạm cam kết. Mục tiêu không phải ưu tiên một bên, mà làm cho hợp đồng đáng tin cậy và quan hệ liên kết có thể duy trì lâu dài.

- Gắn với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, yêu cầu đặt ra với lĩnh vực nông nghiệp không chỉ là tạo ra thêm công nghệ mới, mà quan trọng là giải đúng bài toán của sản xuất và đưa được kết quả đến người sử dụng. Theo ông, cơ chế đặt hàng, cấp kinh phí và đánh giá nhiệm vụ khoa học cần thay đổi thế nào để doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân cùng tham gia từ đầu và kết quả nghiên cứu thực sự "sống được trên đồng ruộng"? Trách nhiệm giữa nhà khoa học, đơn vị chuyển giao và bên sử dụng nên được xác định ra sao?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Đưa khoa học, công nghệ vào đúng "điểm rơi" trước hết đòi hỏi thay đổi điểm khởi đầu của nhiệm vụ nghiên cứu. Thay vì chủ yếu bắt đầu từ đề xuất của cơ quan khoa học, cần bắt đầu từ bài toán của vùng sản xuất: giống cây chưa thích ứng khí hậu, chi phí đầu vào cao, tổn thất sau thu hoạch lớn, chất lượng không đồng đều hay thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn mới. Doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân phải tham gia xác định bài toán, tiêu chí đầu ra và điều kiện ứng dụng ngay từ khi đặt hàng.

Kinh phí nên được cấp theo từng chặng như nghiên cứu, thử nghiệm tại hiện trường, hoàn thiện công nghệ và nhân rộng. Mỗi chặng chỉ chuyển tiếp khi đạt các mốc đã thỏa thuận. Đối với nhiệm vụ có khả năng thương mại hóa, cần huy động đồng tài trợ từ doanh nghiệp hoặc tổ chức sử dụng; còn những nghiên cứu phục vụ lợi ích công cộng, vùng khó khăn hoặc ứng phó biến đổi khí hậu thì Nhà nước phải giữ vai trò đầu tư chính.

Việc đánh giá không nên dừng ở bài báo, bằng sáng chế hay nghiệm thu quy trình. Cần đo tỷ lệ người sử dụng chấp nhận công nghệ; mức giảm chi phí, tăng năng suất và chất lượng; tác động đến thu nhập, môi trường và khả năng nhân rộng. Tuy nhiên, cũng phải chấp nhận rủi ro nghiên cứu: một thử nghiệm không thành công nhưng tạo ra tri thức có giá trị không nên bị coi là thất thoát nếu quá trình minh bạch và đúng phương pháp.

Trách nhiệm phải được phân định theo kết quả mà mỗi bên kiểm soát. Nhà khoa học chịu trách nhiệm về chất lượng và tính xác thực của giải pháp; đơn vị chuyển giao chịu trách nhiệm thích nghi công nghệ, đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật; doanh nghiệp bảo đảm điều kiện thương mại hóa và thị trường; hợp tác xã tổ chức thử nghiệm, tập hợp nhu cầu và phản hồi; người sản xuất thực hiện đúng quy trình và cung cấp dữ liệu thực tế.

Nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo thông qua tổ chức đặt hàng cạnh tranh, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chia sẻ dữ liệu và kiểm chứng độc lập. Khoa học chỉ thật sự tạo ra giá trị khi kết quả nghiên cứu sống được trên đồng ruộng và người nông dân thấy đáng để sử dụng bằng chính nguồn lực của mình.

- Nhưng nghiên cứu luôn có rủi ro. Nếu thử nghiệm không thành công, làm sao phân biệt rủi ro khoa học chính đáng với thiếu trách nhiệm, và chi phí, rủi ro phát sinh cần được chia sẻ thế nào?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Rủi ro nghiên cứu chính đáng là khả năng không đạt kết quả dù giả thuyết hợp lý, phương pháp khoa học, quy trình thử nghiệm và các chuẩn mực an toàn đã được tuân thủ đầy đủ. Thiếu trách nhiệm là lựa chọn đề tài không dựa trên nhu cầu thực tế; che giấu dữ liệu; bỏ qua cảnh báo; thử nghiệm sai quy trình; sử dụng kinh phí không đúng mục đích hoặc không hỗ trợ người sản xuất khi phát sinh sự cố. Vì vậy, cần đánh giá cả kết quả và tính liêm chính của quá trình, không thể chỉ căn cứ vào thành công hay thất bại cuối cùng.

Trước khi triển khai, nhiệm vụ phải có đề cương thử nghiệm, các mốc đánh giá, giới hạn rủi ro và phương án xử lý nếu không đạt yêu cầu. Một hội đồng có đại diện khoa học, đơn vị sử dụng và người sản xuất cần giám sát độc lập.

Nhà khoa học phải được bảo đảm quyền tác giả, lợi ích từ sở hữu trí tuệ, quyền công bố trung thực và được thanh toán tương xứng; không bị quy trách nhiệm chỉ vì một giả thuyết khoa học không được thực nghiệm xác nhận. Ngược lại, họ phải công khai xung đột lợi ích và chịu trách nhiệm về tính trung thực của dữ liệu.

Nông dân tham gia thử nghiệm phải được cung cấp đầy đủ thông tin, tự nguyện đồng ý và có quyền rút lui. Chi phí giống, vật tư, kiểm định và giám sát cần được tính trong ngân sách nhiệm vụ; thiệt hại vượt mức rủi ro đã thỏa thuận phải có cơ chế bồi thường hoặc bảo hiểm. Không thể lấy sinh kế của nông dân làm "phòng thí nghiệm miễn phí". Chỉ khi quyền lợi và rủi ro được phân chia công bằng, các bên mới có động lực hợp tác và đổi mới.

- Chúng ta có ngày càng nhiều nông dân giỏi, nhà khoa học và những mô hình sản xuất thành công. Nhưng giá trị của một điển hình có lẽ không chỉ nằm ở việc được tuyên dương hay nhân rộng nguyên mẫu, mà ở khả năng biến kinh nghiệm của người đi trước thành tri thức mà nhiều người khác có thể học, áp dụng và tiếp tục phát triển. Theo ông, cần tổ chức quá trình lan tỏa ấy như thế nào để tri thức của những người tiên phong thực sự trở thành năng lực chung của cộng đồng?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Tuyên dương điển hình có ý nghĩa khích lệ, nhưng một "ngọn đuốc" chỉ thật sự lan tỏa khi kinh nghiệm cá nhân được chuyển hóa thành tri thức có thể chia sẻ, kiểm chứng và áp dụng. Điều cần thiết không phải là nhân rộng nguyên xi một mô hình, mà là giúp cộng đồng hiểu vì sao mô hình thành công, điều kiện nào cần có và phải điều chỉnh thế nào cho từng địa bàn.

Trước hết, nên xây dựng mạng lưới nông dân dẫn dắt, nhà khoa học và cán bộ khuyến nông theo từng ngành hàng, vùng sinh thái. Những người tiên phong có thể vận hành mô hình trình diễn, nhóm học tập tại đồng ruộng, chương trình cố vấn theo mùa vụ và cơ chế "nông dân đào tạo nông dân". Học qua thực hành, quan sát kết quả và xử lý vấn đề thực tế thường hiệu quả hơn những lớp tập huấn ngắn hạn, nặng về truyền đạt một chiều.

Kinh nghiệm cũng cần được hệ thống hóa thành quy trình, dữ liệu, video hướng dẫn và công cụ tính toán đơn giản trên nền tảng số dùng chung. Tuy nhiên, chuyển đổi số không thể thay thế hoàn toàn sự hỗ trợ trực tiếp, nhất là với người cao tuổi, hộ nhỏ và địa bàn khó khăn. Hợp tác xã nên trở thành nơi duy trì cộng đồng học tập; hệ thống khuyến nông kết nối tri thức khoa học với kinh nghiệm bản địa; doanh nghiệp cung cấp thông tin về công nghệ, tiêu chuẩn và thị trường. Những người chia sẻ tri thức phải được trả công hoặc ghi nhận lợi ích tương xứng, không nên chỉ dựa vào tinh thần tự nguyện.

Kết quả lan tỏa không được đo chủ yếu bằng số lớp, số người tham dự hay tài liệu đã phát. Cần đo số người thực sự áp dụng; tỷ lệ duy trì sau một số vụ sản xuất; mức giảm chi phí và rủi ro; mức tăng năng suất, chất lượng và thu nhập; số người được đào tạo có thể tiếp tục hướng dẫn người khác.

Thành công cao nhất không phải là có thêm nhiều điển hình để tuyên dương, mà là hình thành những cộng đồng có khả năng tự học, tự thích nghi và cùng nhau giải quyết vấn đề. Khi tri thức trở thành năng lực chung, đổi mới sáng tạo mới không phụ thuộc vào một vài cá nhân xuất sắc.

- Vậy có nên coi hoạt động cố vấn, truyền nghề giữa nông dân giỏi, nhà khoa học và các nhóm hộ như một dịch vụ được trả công, thay vì chủ yếu dựa vào tinh thần tự nguyện?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Hoàn toàn có thể và đây nên được coi là một dịch vụ phát triển thường xuyên chứ không phải hoạt động phong trào. Mỗi hợp tác xã hoặc cụm xã có thể tổ chức một mạng lưới cố vấn gồm nông dân giỏi, nhà khoa học, cán bộ khuyến nông và chuyên gia thị trường. Mỗi cố vấn phụ trách một số nhóm hộ trong cả chu kỳ sản xuất: cùng xác định vấn đề, hướng dẫn tại hiện trường, theo dõi kết quả và hỗ trợ điều chỉnh khi phát sinh rủi ro.

Cơ chế chi trả nên kết hợp ba phần. Phần thứ nhất là thù lao cơ bản cho thời gian, kiến thức và chi phí đi lại. Phần thứ hai căn cứ vào khối lượng dịch vụ đã thực hiện, như số buổi hướng dẫn, số hộ được hỗ trợ hoặc diện tích áp dụng. Phần thứ ba gắn với kết quả, chẳng hạn tỷ lệ hộ duy trì quy trình, mức giảm chi phí, tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn hoặc cải thiện thu nhập. Không nên trả hoàn toàn theo kết quả cuối cùng, vì năng suất và giá cả còn chịu tác động của thời tiết và thị trường.

Nhà nước có thể đặt hàng dịch vụ hoặc cấp phiếu hỗ trợ để nhóm hộ lựa chọn cố vấn đủ tiêu chuẩn; hợp tác xã và doanh nghiệp cùng đóng góp khi có lợi ích trực tiếp. Người cố vấn cần được chứng nhận năng lực, công khai lợi ích liên quan và được người sử dụng đánh giá.

Sự ghi nhận cũng không chỉ bằng danh hiệu. Cần coi hoạt động cố vấn là một nghề nghiệp có giá trị, được trả công xứng đáng, được cập nhật kiến thức và có cơ hội tham gia thiết kế chính sách từ những kinh nghiệm thực tiễn.

- Một yêu cầu đáng chú ý hiện nay là mỗi đơn vị cấp xã có ít nhất một sản phẩm chủ lực có thương hiệu và một kênh phân phối số. Theo ông, cần tổ chức thế nào để vừa phát huy lợi thế của từng địa bàn, vừa kết nối được vào chuỗi ngành hàng và thị trường có quy mô lớn hơn? Với những thương hiệu gắn với địa danh hoặc cộng đồng, ai phải chịu trách nhiệm giữ chất lượng và uy tín chung?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Yêu cầu mỗi xã có một sản phẩm chủ lực cần được hiểu là mỗi địa bàn phải xác định được lợi thế có khả năng chuyển hóa thành giá trị thị trường, chứ không phải xã nào cũng tạo thêm một nhãn hiệu hay một mô hình riêng. Nếu triển khai theo cách cơ học, chúng ta có thể có rất nhiều "sản phẩm chủ lực", nhưng quy mô nhỏ, chất lượng không đồng đều và không đủ sức cạnh tranh.

Sản phẩm nên được lựa chọn dựa trên lợi thế tự nhiên, tri thức bản địa, khả năng tổ chức vùng nguyên liệu và nhu cầu thị trường. Những xã có cùng điều kiện có thể tham gia một chuỗi ngành hàng chung, cùng sử dụng hạ tầng chế biến, kiểm định, logistics và thương hiệu vùng. Một xã có thể chuyên về vùng nguyên liệu, xã khác về chế biến hoặc dịch vụ hỗ trợ; giá trị được tạo ra từ sự bổ trợ, không nhất thiết từ việc mỗi nơi làm đủ mọi khâu.

Kênh phân phối số cũng không nên được hiểu đơn giản là mở một gian hàng trực tuyến. Nó phải kết nối với truy xuất nguồn gốc, quản trị tồn kho, thanh toán, logistics, chăm sóc khách hàng và thu thập dữ liệu thị trường. Nếu không có năng lực vận hành phía sau, gian hàng số rất dễ trở thành hình thức.

Với thương hiệu gắn với địa danh hoặc cộng đồng, cần xác định một tổ chức đại diện làm chủ thể quản trị, có thể là hiệp hội ngành hàng, liên hiệp hợp tác xã hoặc tổ chức được cộng đồng ủy quyền. Tổ chức này ban hành quy chế sử dụng, tiêu chuẩn chất lượng, cơ chế kiểm tra và quyền rút giấy phép sử dụng thương hiệu khi có vi phạm. Chính quyền không nên trực tiếp kinh doanh thương hiệu, nhưng phải bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, giám sát tính minh bạch và xử lý hành vi gian lận.

Uy tín chung là một tài sản tập thể nhưng rất dễ bị phá hủy bởi một chủ thể riêng lẻ. Vì vậy, phải có hệ thống truy xuất, kiểm định độc lập và công khai kết quả. Một thương hiệu địa phương chỉ bền vững khi người tiêu dùng biết rõ ai làm ra sản phẩm, theo tiêu chuẩn nào và ai chịu trách nhiệm nếu chất lượng không đúng cam kết.

- Vậy Nhà nước nên hỗ trợ đến đâu để hộ nhỏ và hợp tác xã vào được thị trường mà không làm thay doanh nghiệp? Và làm sao tránh việc hỗ trợ chỉ dừng ở đăng ký nhãn hiệu hay mở gian hàng số?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Nhà nước nên tập trung hỗ trợ những năng lực dùng chung mà hộ nhỏ và hợp tác xã khó tự đầu tư: thông tin tiêu chuẩn thị trường; đào tạo quy trình sản xuất; hệ thống truy xuất nguồn gốc; kiểm nghiệm, chứng nhận; tư vấn pháp lý; hạ tầng logistics và nền tảng dữ liệu. Hỗ trợ cần ưu tiên giai đoạn nâng cấp ban đầu, giúp người sản xuất vượt qua chi phí gia nhập thị trường, nhưng không bao cấp kéo dài hoạt động kinh doanh.

Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm nghiên cứu nhu cầu khách hàng, lựa chọn sản phẩm, tổ chức phân phối, xây dựng thương hiệu và gánh chịu rủi ro thương mại. Nếu nhận ưu đãi công, doanh nghiệp phải có hợp đồng minh bạch với hợp tác xã và cam kết về chuyển giao tiêu chuẩn, thu mua, thanh toán và chia sẻ thông tin thị trường. Nhà nước không nên làm thay doanh nghiệp việc bán hàng, cũng không nên dùng ngân sách để duy trì những sản phẩm không có nhu cầu thực.

Để tránh hình thức, chương trình không được đánh giá bằng số nhãn hiệu đã đăng ký, số chứng nhận được cấp hay số gian hàng số được mở. Cần theo dõi tỷ lệ đơn hàng thực, số khách hàng quay lại, tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn ổn định, thu nhập tăng thêm của người sản xuất và khả năng tự trang trải chi phí sau thời gian hỗ trợ.

Mỗi đề án phải có lộ trình từ xây dựng năng lực đến tự vận hành, với người chịu trách nhiệm rõ ràng. Nhãn hiệu và gian hàng số chỉ là công cụ; kết quả cuối cùng phải là sản phẩm giữ được chất lượng, bán được trên thị trường và tạo ra giá trị bền vững cho cộng đồng.

- Chuyển đổi xanh đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao với người sản xuất, từ bảo vệ đất, nước đến giảm phát thải và duy trì hệ sinh thái. Nhưng không phải mọi chi phí môi trường đều có cùng bản chất, bởi có phần là nghĩa vụ mà người sản xuất phải thực hiện, có phần lại tạo ra lợi ích chung cho xã hội. Theo ông, chính sách cần phân định hai loại trách nhiệm này thế nào? Và chi phí, rủi ro, lợi ích của quá trình chuyển đổi nên được chia sẻ ra sao để hộ nhỏ cũng có khả năng tham gia?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Trước hết cần phân định rõ hai loại trách nhiệm. Những yêu cầu như không xả thải vượt chuẩn, không sử dụng chất cấm, không làm suy thoái đất và nguồn nước là nghĩa vụ tối thiểu của mọi cơ sở sản xuất. Đây là chi phí phải được tính vào hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả; ngân sách không nên bù đắp cho hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, khi nông dân thực hiện những biện pháp vượt trên chuẩn bắt buộc và tạo ra lợi ích cho xã hội như phục hồi đất, bảo vệ nguồn nước, duy trì đa dạng sinh học, giảm phát thải hoặc giữ rừng, thì phần lợi ích công cộng ấy cần được ghi nhận và chi trả. Nếu xã hội hưởng lợi nhưng toàn bộ chi phí lại đặt lên vai hộ sản xuất, chuyển đổi xanh khó có thể bền vững.

Cơ chế hỗ trợ nên phân chia theo từng loại chi phí và rủi ro. Nhà nước đầu tư cho nghiên cứu, đào tạo, dữ liệu, đo lường phát thải và hạ tầng tuần hoàn dùng chung; tín dụng xanh và bảo lãnh giúp hộ dân đầu tư thiết bị; bảo hiểm chia sẻ rủi ro trong giai đoạn thử nghiệm; doanh nghiệp trả giá cao hơn hoặc ký hợp đồng dài hạn đối với sản phẩm đạt chuẩn. Những lợi ích từ tín chỉ carbon, chi trả dịch vụ hệ sinh thái hay thương hiệu xanh phải được phân chia minh bạch cho người trực tiếp tạo ra chúng.

Với hộ nhỏ, cần tổ chức thông qua hợp tác xã hoặc nhóm sản xuất để giảm chi phí chứng nhận, kiểm kê và tiếp cận thị trường. Quy trình đo lường phải đủ tin cậy nhưng không quá phức tạp đến mức người dân không thể tham gia. Hợp đồng cần công khai cách tính chi phí, lợi ích và quyền sở hữu dữ liệu môi trường.

Chuyển đổi xanh cũng cần một lộ trình hợp lý. Không thể yêu cầu hộ dân thay đổi ngay trong khi công nghệ chưa sẵn có, đầu ra chưa ổn định và sinh kế có thể bị tổn thương. Chính sách tốt phải giúp người nông dân vừa bảo vệ hệ sinh thái, vừa sống được bằng chính giá trị mà họ tạo ra. Khi lợi ích công được định giá và chia sẻ công bằng, "kỹ sư sinh thái" mới trở thành một vai trò kinh tế thực chất.

- Vậy hỗ trợ chuyển đổi xanh nên dựa vào chi phí đầu vào hay kết quả tạo ra? Và làm thế nào để lợi ích thực sự đến được người trực tiếp tạo ra giá trị môi trường?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Mỗi công cụ cần được sử dụng đúng với loại trở ngại mà người sản xuất đang gặp. Tín dụng ưu đãi dành cho phương án xanh có khả năng hoàn vốn nhưng thiếu vốn ban đầu; bảo hiểm xử lý những rủi ro khách quan như thiên tai, dịch bệnh hoặc thất bại trong giai đoạn chuyển đổi; hỗ trợ kỹ thuật dành cho công nghệ và quy trình mới; còn chi trả môi trường chỉ thực hiện khi tạo ra kết quả bổ sung, đo lường được, như giảm phát thải, phục hồi đất, bảo vệ nguồn nước hoặc duy trì đa dạng sinh học.

Tiêu chí lựa chọn phải công khai, dựa trên tính khả thi, hiệu quả môi trường, khả năng duy trì và mức độ cần hỗ trợ. Cần ưu tiên hộ nhỏ, cộng đồng giữ rừng và những chủ thể khó tiếp cận thị trường, nhưng tránh hỗ trợ đồng loạt hoặc bù đắp cho nghĩa vụ môi trường bắt buộc.

Kết quả nên được kiểm chứng bằng sự kết hợp giữa dữ liệu số, hồ sơ sản xuất, quan trắc thực địa và xác nhận của cộng đồng. Đơn vị kiểm chứng phải độc lập, đủ năng lực và không do bên hưởng lợi tự lựa chọn, chi phối. Với chương trình lớn, cần có cơ chế kiểm tra ngẫu nhiên và công khai kết quả.

Khoản chi trả phải chuyển trực tiếp hoặc qua hợp tác xã theo một công thức phân chia được thống nhất trước; nêu rõ phần dành cho người trực tiếp thực hiện, phần trang trải chi phí quản lý và kiểm chứng. Người dân phải được tiếp cận dữ liệu, biết mình được hưởng bao nhiêu và có nơi khiếu nại. Minh bạch dòng tiền quan trọng không kém độ chính xác của phép đo môi trường.

- Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt văn hóa trong các quy hoạch, kế hoạch và dự án phát triển, đồng thời đề cao sự tham gia và thụ hưởng của người dân. Ở nông thôn, nhiều giá trị như nghề truyền thống, tri thức bản địa, cảnh quan hay lễ hội vừa là tài sản văn hóa, vừa có thể tạo ra giá trị kinh tế. Theo ông, cần tổ chức việc khai thác những nguồn lực ấy thế nào để vừa thu hút được đầu tư, khuyến khích sáng tạo, vừa bảo đảm cộng đồng có tiếng nói và được chia sẻ lợi ích công bằng?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Đưa văn hóa vào cơ chế phát triển không có nghĩa là biến mọi giá trị văn hóa thành hàng hóa, mà là tạo điều kiện để văn hóa sinh thành giá trị mới mà không làm mất đi chủ thể đã sáng tạo, gìn giữ và trao truyền giá trị ấy. Vì vậy, cộng đồng phải được tham gia từ khi hình thành ý tưởng, không phải chỉ được hỏi ý kiến sau khi dự án đã cơ bản quyết định.

Trước hết, cần xác định rõ giá trị nào thuộc sở hữu riêng, giá trị nào là tài sản chung của cộng đồng; ai có quyền đại diện; yếu tố nào được phép khai thác và giới hạn nào phải được tôn trọng. Những dự án sử dụng nghề truyền thống, tri thức bản địa, lễ hội, cảnh quan hoặc hình ảnh cộng đồng cần có đánh giá tác động văn hóa bên cạnh đánh giá kinh tế và môi trường. Thông tin về quy mô, lợi ích, rủi ro và phương án thay thế phải được công khai bằng hình thức dễ tiếp cận; ý kiến cộng đồng phải được ghi nhận và cơ quan quyết định phải giải trình.

Việc chia sẻ lợi ích cần được thỏa thuận trước, bằng văn bản, với các hình thức đa dạng: trả phí sử dụng, góp vốn bằng quyền tài sản, ưu tiên việc làm, đào tạo nghề, đặt hàng sản phẩm hoặc trích một phần doanh thu cho quỹ bảo tồn và phát triển cộng đồng. Một tổ chức đại diện minh bạch có thể thay mặt cộng đồng quản lý quyền sử dụng, giám sát cam kết và công khai phân phối lợi ích.

Đối với nhà đầu tư, quy định rõ ràng về quyền tiếp cận, thời hạn sử dụng, tiêu chuẩn bảo tồn và cách chia sẻ lợi ích sẽ làm giảm rủi ro pháp lý. Đối với cộng đồng, cần có quyền giám sát, yêu cầu khắc phục và chấm dứt việc sử dụng khi đối tác vi phạm nghiêm trọng cam kết.

Tuy nhiên, bảo tồn không đồng nghĩa với đóng băng văn hóa. Nghệ nhân, người trẻ, doanh nghiệp và nhà thiết kế cần được khuyến khích sáng tạo trên nền tảng truyền thống. Nhà nước phải bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống chiếm dụng và hỗ trợ cộng đồng nâng cao năng lực thương lượng. Khi người dân vừa là người quyết định, người sáng tạo, vừa được hưởng lợi công bằng, văn hóa mới trở thành nguồn lực phát triển bền vững chứ không phải vật trang trí cho các dự án kinh tế.

Bảo tồn không đồng nghĩa với đóng băng văn hóa. Nghệ nhân, người trẻ, doanh nghiệp và nhà thiết kế cần được khuyến khích sáng tạo trên nền tảng truyền thống. Nhà nước phải bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống chiếm dụng và hỗ trợ cộng đồng nâng cao năng lực thương lượng.
TS. NGUYỄN SĨ DŨNG
Bài 3: Đổi mới quản trị phát triển “tam nông”: Từ quyết sách chiến lược đến kết quả thực chất - Ảnh 3.
Bài 3: Đổi mới quản trị phát triển “tam nông”: Từ quyết sách chiến lược đến kết quả thực chất - Ảnh 4.
Bài 3: Đổi mới quản trị phát triển “tam nông”: Từ quyết sách chiến lược đến kết quả thực chất - Ảnh 5.

Khi người dân vừa là người quyết định, người sáng tạo, vừa được hưởng lợi công bằng, văn hóa mới trở thành nguồn lực phát triển bền vững chứ không phải vật trang trí cho các dự án kinh tế. (Ảnh minh hoạ: Hoàng Yên - Thanh Miền)

- Còn những giá trị văn hóa rất cần được gìn giữ nhưng gần như không thể tự tạo nguồn thu thì sao? Ai phải bảo đảm nguồn lực để chúng được duy trì lâu dài?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Những giá trị văn hóa có ý nghĩa đối với bản sắc, ký ức cộng đồng và sự gắn kết xã hội nhưng khó tạo nguồn thu phải được nhìn nhận như hàng hóa công cộng. Không thể lấy khả năng tự trang trải làm điều kiện tồn tại, bởi có những di sản mất đi thì không thể phục hồi, trong khi lợi ích của chúng lan tỏa cho cả xã hội và các thế hệ sau.

Trách nhiệm tài chính cần được phân định theo phạm vi giá trị. Ngân sách trung ương bảo đảm đối với di sản có ý nghĩa quốc gia hoặc vượt quá năng lực địa phương; ngân sách địa phương chịu trách nhiệm với thiết chế và hoạt động phục vụ cộng đồng trên địa bàn. Nhà nước có thể đặt hàng Hội nghề nghiệp, hợp tác xã, nghệ nhân hoặc tổ chức cộng đồng thực hiện việc bảo tồn, truyền dạy và phục vụ công chúng theo hợp đồng nhiều năm, thay vì hỗ trợ từng sự kiện ngắn hạn.

Kinh phí phải bao gồm cả bảo quản, vận hành, đào tạo người kế cận và khả năng tiếp cận của công chúng. Cộng đồng cần tham gia xác định nội dung ưu tiên, lựa chọn chủ thể thực hiện và giám sát sử dụng ngân sách; nhưng không nên bị yêu cầu tự gánh trách nhiệm tài chính cho một lợi ích mà toàn xã hội cùng thụ hưởng.

Hiệu quả không thể chỉ đo bằng doanh thu hay số lượng vé bán ra. Cần đánh giá mức độ bảo tồn tính xác thực, số người kế tục, sự tham gia của cộng đồng, khả năng tiếp cận của trẻ em và công chúng. Huy động xã hội hóa là cần thiết, nhưng phải là nguồn bổ sung; trách nhiệm nền tảng đối với những giá trị văn hóa thiết yếu vẫn thuộc về Nhà nước.

- Một "miền quê đáng sống" không chỉ được tạo nên bằng những công trình mới, mà còn bằng khả năng người dân tiếp cận việc làm, giáo dục, y tế, văn hóa, nước sạch, môi trường và an ninh, an toàn với chất lượng ngày càng tốt hơn. Theo ông, cơ chế cung ứng và tài chính dịch vụ ở nông thôn cần đổi mới thế nào, nhất là khi huy động doanh nghiệp tham gia, để người dân ở những địa bàn khó khăn vẫn được thụ hưởng đầy đủ?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Một miền quê đáng sống không được đo bằng số công trình đã xây, mà bằng khả năng người dân tiếp cận việc làm, giáo dục, y tế, văn hóa, nước sạch, môi trường và an ninh, an toàn với chất lượng chấp nhận được. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy đầu tư cơ sở vật chất sang bảo đảm dịch vụ và kết quả phát triển con người.

Trước hết, Nhà nước phải xác lập bộ tiêu chuẩn dịch vụ cơ bản mà mọi người dân được hưởng, bất kể nơi cư trú: khoảng cách và thời gian tiếp cận, chất lượng tối thiểu, chi phí người dân phải trả và thời hạn xử lý yêu cầu. Tài chính cần được phân bổ theo nhu cầu, mức độ khó khăn, quy mô dân cư và chi phí cung ứng thực tế, không chỉ theo dân số hoặc chia đều. Vùng thưa dân, miền núi, hải đảo phải được cấp bù vì chi phí phục vụ cao hơn.

Phương thức cung ứng cũng cần linh hoạt. Không nhất thiết xã nào cũng xây dựng đầy đủ mọi thiết chế; có thể tổ chức dịch vụ theo cụm xã, kết hợp cơ sở cố định với y tế lưu động, giáo dục số, trung tâm dịch vụ dùng chung và phương tiện đưa đón. Điều quan trọng là dịch vụ đến được với người dân, không phải công trình được đặt ở đâu.

Doanh nghiệp và tổ chức xã hội có thể tham gia thông qua đấu thầu, đặt hàng hoặc hợp tác công - tư. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn phải chịu trách nhiệm xác định tiêu chuẩn, bảo đảm nguồn tài chính, kiểm soát giá, giám sát chất lượng và duy trì dịch vụ khi thị trường không đủ hấp dẫn. Không thể để doanh nghiệp chỉ lựa chọn nơi đông dân, có khả năng chi trả cao, còn vùng khó khăn bị bỏ lại.

Việc đánh giá phải dựa trên trải nghiệm và kết quả của người dân, gồm thời gian tiếp cận dịch vụ, mức độ hài lòng, kết quả học tập, sức khỏe, môi trường sống và cảm nhận an toàn. Dữ liệu cần được công khai đến từng địa bàn để nhận diện khoảng cách và điều chỉnh nguồn lực.

Xây dựng miền quê đáng sống, xét đến cùng, là bảo đảm rằng lựa chọn sống ở nông thôn không đồng nghĩa với chấp nhận ít cơ hội hơn hay dịch vụ kém chất lượng hơn. Đó vừa là yêu cầu công bằng, vừa là điều kiện để nông thôn giữ được con người và sức sống lâu dài.

- Vậy làm sao để bảo đảm một chuẩn thụ hưởng chung mà không buộc mọi địa phương phải tổ chức dịch vụ theo cùng một cách?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Nhà nước nên đặt hàng theo kết quả người dân được thụ hưởng, thay vì quy định cứng mọi địa bàn phải có cùng một mô hình tổ chức. Trước hết, cần xác lập một "sàn" dịch vụ quốc gia: người dân được tiếp cận dịch vụ gì, trong thời gian bao lâu, với chất lượng tối thiểu nào và chi phí hợp lý ra sao. Trên cơ sở đó, địa phương được lựa chọn cách cung ứng phù hợp như phục vụ tại chỗ, theo cụm xã, lưu động, trực tuyến hoặc kết hợp nhiều hình thức.

Hợp đồng đặt hàng phải xác định rõ nhóm dân cư phục vụ, kết quả cần đạt, chỉ số chất lượng, mức kinh phí và trách nhiệm khi không hoàn thành. Đơn giá cần tính đến địa hình, mật độ dân số và mức độ khó khăn; nơi chi phí cung ứng cao phải được cấp bù tương ứng. Có thể bổ sung khoản thanh toán theo kết quả giảm chênh lệch đối với nhóm nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật hoặc địa bàn xa trung tâm.

Việc kiểm tra không chỉ dựa vào báo cáo của đơn vị cung ứng. Cần đối chiếu dữ liệu hành chính, kiểm tra thực tế, khảo sát độc lập và phản hồi trực tiếp của người sử dụng. Kết quả phải được công khai theo địa bàn và nhóm dân cư.

Như vậy, Nhà nước thống nhất về quyền được thụ hưởng và chuẩn chất lượng, nhưng linh hoạt về cách tổ chức. Công bằng không phải là cung cấp mọi nơi một phương án giống nhau, mà là dành nguồn lực và cách làm khác nhau để người dân đạt được mức thụ hưởng tương đương.

- Từ kinh nghiệm nhiều năm tham gia công tác tham mưu, phục vụ hoạt động của Quốc hội, theo ông, giám sát chính sách "tam nông" cần chuyển trọng tâm như thế nào để không chỉ biết bộ máy đã làm những gì, mà còn đo được người dân thực sự nhận được kết quả gì?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Kinh nghiệm của tôi cho thấy điểm yếu phổ biến của giám sát là dễ dừng lại ở những gì cơ quan thực hiện có thể báo cáo: đã ban hành bao nhiêu văn bản, giải ngân bao nhiêu vốn, xây dựng bao nhiêu công trình, tổ chức bao nhiêu lớp tập huấn. Những thông tin ấy cần thiết, nhưng mới phản ánh hoạt động của bộ máy, chưa trả lời chính sách đã làm thay đổi điều gì trong đời sống người dân.

Giám sát "tam nông" cần theo dõi đầy đủ chuỗi kết quả gồm nguồn lực đầu vào, sản phẩm đầu ra, mức độ người dân sử dụng và tác động cuối cùng. Một công trình thủy lợi đã nghiệm thu nhưng không có nước ổn định; một khóa đào tạo hoàn thành nhưng người học không áp dụng được; một chuỗi liên kết đã ký kết nhưng nông dân vẫn bị ép giá - về thủ tục có thể hoàn thành, nhưng về phát triển là chưa đạt.

Thông tin giám sát phải được kiểm chứng từ nhiều nguồn: dữ liệu hành chính, điều tra độc lập, quan sát thực địa, dữ liệu thị trường và phản ánh của người thụ hưởng. Cần lựa chọn một số chỉ số có ý nghĩa thực chất như thu nhập ròng, chi phí sản xuất, tỷ lệ hợp đồng được thực hiện, thời gian tiếp cận dịch vụ, chất lượng môi trường và mức độ hài lòng. Dữ liệu phải được phân tách theo địa bàn và nhóm dân cư để tránh kết quả bình quân che khuất những người bị bỏ lại phía sau.

Tiếng nói của người dân cần được tiếp nhận qua khảo sát độc lập, đối thoại tại cộng đồng, đường dây phản ánh và các phiên giải trình. Hội Nông dân, hợp tác xã và tổ chức xã hội có thể tập hợp ý kiến, nhưng phải tạo điều kiện để người thụ hưởng trực tiếp lên tiếng, kể cả ý kiến không thuận chiều.

Quan trọng nhất, giám sát phải dẫn đến điều chỉnh. Mỗi kiến nghị cần chỉ rõ cơ quan chịu trách nhiệm, nội dung phải sửa, thời hạn hoàn thành và kết quả cần đạt. Sau một khoảng thời gian phải có giám sát lại; nếu không thực hiện thì người đứng đầu phải giải trình.

Giám sát không nhằm tìm thêm sai sót thủ tục, mà để phát hiện khoảng cách giữa chính sách và cuộc sống. Thước đo cuối cùng không phải bộ máy đã làm bao nhiêu việc, mà người dân đã nhận được kết quả gì.

- Có kinh nghiệm quốc tế nào đáng tham khảo để làm được điều đó, đồng thời phân biệt được tác động thực sự của chính sách với biến động giá, thời tiết hay thị trường?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Một kinh nghiệm đáng tham khảo là Khung giám sát và đánh giá kết quả thực hiện (Performance Monitoring and Evaluation Framework - PMEF) của Chính sách nông nghiệp chung của Liên minh châu Âu (CAP) giai đoạn 2023-2027. Điểm tiến bộ của cách tiếp cận này là phân biệt khá rõ chỉ số đầu ra, kết quả và tác động; qua đó không đồng nhất số tiền đã chi hay số người được hỗ trợ với thay đổi thực sự về năng lực cạnh tranh, thu nhập, môi trường và sức sống nông thôn.

Việt Nam có thể vận dụng ở quy mô vừa phải, mỗi chính sách chỉ lựa chọn một số kết quả cốt lõi, xác lập số liệu ban đầu và thiết kế phương pháp đánh giá ngay từ khi ban hành. Điều kiện tiên quyết là dữ liệu đủ tin cậy, hoạt động đánh giá có tính độc lập và kết quả được sử dụng để điều chỉnh chính sách, chứ không chỉ hoàn thiện báo cáo.

Muốn phân biệt tác động của chính sách với biến động giá, thời tiết hay thị trường, cần trả lời câu hỏi: nếu không có chính sách thì điều gì có thể đã xảy ra? Có thể so sánh nhóm được thụ hưởng với nhóm có điều kiện tương đồng nhưng chưa được hỗ trợ; triển khai theo từng giai đoạn để đối chiếu trước - sau giữa các địa bàn; đồng thời kiểm soát các yếu tố như lượng mưa, dịch bệnh và giá nông sản. Khi không thể lập nhóm so sánh chặt chẽ, cần kết hợp dữ liệu định lượng với phỏng vấn, nghiên cứu trường hợp và phân tích chuỗi nguyên nhân.

Không nên quy toàn bộ kết quả tốt cho chính sách, cũng không quy mọi kết quả xấu cho cơ quan thực hiện. Giám sát có giá trị chính là giám sát chỉ ra được chính sách đã đóng góp bao nhiêu, trong điều kiện nào và cần sửa điều gì.

- Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 xác định đến năm 2030 hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới, đến năm 2035 cơ bản hoàn thành quá trình chuyển đổi và đến năm 2045 vận hành đồng bộ, hài hòa, hiệu quả. Nếu coi 2026-2030 là giai đoạn đặt nền móng, theo ông, những việc gì phải đi trước để tạo năng lực thực thi, những nhiệm vụ nào cần triển khai đồng thời và đến năm 2030 phải nhìn thấy những kết quả nào để đủ điều kiện bước sang giai đoạn tiếp theo?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi, thứ tự ưu tiên không có nghĩa là làm xong thể chế rồi mới đầu tư, hay có hạ tầng rồi mới nâng cao năng lực con người. Nhiều nhiệm vụ phải triển khai đồng thời, nhưng vẫn cần xác định rõ đâu là nền móng, đâu là động lực và đâu là kết quả cuối cùng.

Việc phải đi trước là hoàn thiện thể chế và thiết kế lại cơ chế tổ chức thực hiện. Trước hết, cần xác định những bài toán phát triển cụ thể của từng vùng, từng chuỗi ngành hàng; phân định rõ thẩm quyền giữa Trung ương, tỉnh và xã; thiết lập cơ chế điều phối liên ngành, liên tỉnh; đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu và trách nhiệm giải trình theo kết quả. Nếu chưa làm rõ ai quyết định, ai phối hợp và ai chịu trách nhiệm, nguồn lực tăng thêm vẫn có thể bị phân tán.

Trên nền tảng đó, ba nhóm nhiệm vụ cần triển khai đồng thời. Một là đầu tư hạ tầng và dịch vụ dùng chung để giảm chi phí, kết nối sản xuất với chế biến và thị trường. Hai là đặt hàng khoa học, công nghệ từ nhu cầu thực tiễn, gắn nghiên cứu với thử nghiệm, chuyển giao và khả năng áp dụng. Ba là phát triển doanh nghiệp dẫn dắt đi cùng củng cố hợp tác xã, nâng cao năng lực, vị thế thương lượng và quyền lựa chọn của nông dân. Xây dựng nông thôn đáng sống phải xuyên suốt toàn bộ quá trình, bởi nếu giáo dục, y tế, môi trường và cơ hội việc làm không được cải thiện thì nông thôn sẽ khó giữ được con người.

Đến năm 2030, kết quả trung gian quan trọng không chỉ là có thêm công trình hay doanh nghiệp lớn. Cần hình thành được một số chuỗi giá trị liên vùng vận hành hiệu quả; cơ chế phối hợp có thực quyền; dữ liệu dùng chung; hệ thống hỗ trợ khoa học đến được với đồng ruộng; hợp tác xã đủ năng lực cung cấp dịch vụ và thương lượng; người dân được tham gia, giám sát và hưởng lợi công bằng; khoảng cách dịch vụ thiết yếu giữa nông thôn và đô thị từng bước được thu hẹp.

Nền tảng quan trọng nhất của giai đoạn 2026-2030 là năng lực biến quyết sách thành kết quả. Khi thể chế rõ, trách nhiệm rõ, dữ liệu đáng tin cậy và người nông dân thực sự trở thành chủ thể, chúng ta mới có thể chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu, trong đó "tam nông" không chỉ được hỗ trợ để thích ứng, mà đủ sức tạo ra những giá trị mới cho đất nước.

- Và để những ưu tiên ấy không bị dàn trải, theo ông, cần làm gì để mỗi nhiệm vụ đều có người chịu trách nhiệm đến cùng, có đủ nguồn lực và được đánh giá bằng kết quả thực chất?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Với mỗi ưu tiên cần có một "hồ sơ trách nhiệm" thật rõ: một chủ thể chịu trách nhiệm chính, các cơ quan phối hợp, nguồn lực được bảo đảm và kết quả phải đạt. Không nên giao trách nhiệm chung chung hoặc quá nhiều đầu mối cùng chủ trì, bởi khi trách nhiệm bị chia nhỏ thì rất dễ rơi vào tình trạng không ai chịu trách nhiệm đến cùng.

Điều quan trọng là thẩm quyền phải đi cùng trách nhiệm. Chủ thể được giao nhiệm vụ phải có đủ quyền điều phối, tiếp cận nguồn lực và yêu cầu các bên phối hợp; những vấn đề vượt thẩm quyền phải có cơ chế chuyển cấp và xử lý trong thời hạn rõ ràng. Với các nhiệm vụ liên ngành, liên địa phương, càng phải xác định một đầu mối chịu trách nhiệm về kết quả chung, thay vì chỉ tổng hợp phần việc của từng cơ quan.

Nguồn lực cũng cần được bố trí theo chương trình trung hạn và gắn với kết quả từng giai đoạn, tránh mỗi năm lại thay đổi ưu tiên. Phải có các mốc kiểm tra định kỳ, đánh giá giữa kỳ và đánh giá kết quả cuối giai đoạn để biết nhiệm vụ nào đang đi đúng hướng, nhiệm vụ nào cần điều chỉnh và nguồn lực nào cần được phân bổ lại.

Để tránh dàn trải, mỗi cấp, mỗi ngành chỉ nên lựa chọn một số ít nhiệm vụ thực sự có tính đột phá và sức lan tỏa. Tính liên tục của chính sách không có nghĩa là giữ nguyên mọi công cụ, mà là giữ ổn định mục tiêu dài hạn, kiên định với kết quả cần đạt và sẵn sàng điều chỉnh cách làm trên cơ sở dữ liệu và thực tiễn.

Sau cùng, trách nhiệm chỉ thực sự có ý nghĩa khi có thể trả lời được ba câu hỏi rất rõ: Ai chịu trách nhiệm? Nguồn lực ở đâu? Và kết quả nào chứng minh nhiệm vụ đã hoàn thành? Nếu ba câu hỏi ấy được trả lời ngay từ khi thiết kế chính sách, khả năng biến quyết sách thành kết quả sẽ cao hơn rất nhiều.

- Trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Sĩ Dũng!

Từ cuộc trao đổi có thể thấy một điểm then chốt: Quyết sách chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thành năng lực tổ chức thực hiện, với thẩm quyền, nguồn lực và trách nhiệm cùng hướng tới kết quả phát triển mà người dân thực sự được thụ hưởng.

Nhưng từ năng lực quản trị đến năng lực phát triển thực tế vẫn còn một mắt xích rất quan trọng. Tổ chức lại sản xuất để các nguồn lực của "tam nông" không tồn tại rời rạc, mà được kết nối thành những chuỗi giá trị, những quan hệ hợp tác và một hệ sinh thái cùng tạo giá trị.

Đó cũng là vấn đề sẽ được tiếp tục làm rõ trong kỳ tiếp theo của chuyên đề./.

Bài 3: Đổi mới quản trị phát triển “tam nông”: Từ quyết sách chiến lược đến kết quả thực chất - Ảnh 6.

Những rừng trúc già là kho nguyên liệu vô tận, cung cấp những nan trúc dẻo dai nhất để dệt nên hình hài chiếc lu cở bền bỉ với thời gian. (Ảnh: Thanh Miền)


Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top