Bài 4: Tổ chức lại sản xuất, kết nối nguồn lực để “tam nông” trở thành năng lực phát triển quốc gia

Bài 4: Tổ chức lại sản xuất, kết nối nguồn lực để “tam nông” trở thành năng lực phát triển quốc gia

Nguyễn Thành Công
Nguyễn Thành Công Congnguyenthanhyb@gmail.com
Thứ Ba, 15/09/2026 - 08:06

LỜI TÒA SOẠN

Trong chuyên đề "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình phát triển mới của Việt Nam", chúng tôi tiếp cận "tam nông" không chỉ như một lĩnh vực sản xuất hay một địa bàn phát triển, mà như một bộ phận cấu thành quan trọng của năng lực phát triển quốc gia.

Từ chiều sâu lịch sử và những giá trị đã làm nên sức sống của làng quê Việt Nam, Bài 1 đặt lại vị thế của "tam nông" trong tiến trình phát triển đất nước; Bài 2 đi sâu nhận diện những nguồn lực còn chưa được phát huy đầy đủ và những điểm nghẽn đang cản trở sức lan tỏa; Bài 3 tiếp tục đặt vấn đề ở tầng quản trị, tổ chức thực hiện và trách nhiệm đưa các quyết sách đúng đi tới kết quả thực chất. Qua ba chặng đó, một câu hỏi quan trọng được đặt ra: Vì sao một đất nước có nhiều nguồn lực cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhưng những nguồn lực ấy chưa phải lúc nào cũng chuyển hóa tương xứng thành năng lực phát triển?

Có đất đai nhưng sản xuất vẫn manh mún thì lợi thế chưa được phát huy. Có khoa học, công nghệ nhưng người sản xuất chưa làm chủ thì công nghệ chưa trở thành năng lực. Có doanh nghiệp lớn nhưng hợp tác xã, hộ nông dân và các nhà cung ứng phía sau không cùng mạnh lên thì sức lan tỏa còn hạn chế. Có nhiều chính sách nhưng thiếu sự kết nối giữa các chủ thể và thiếu năng lực tổ chức thực hiện thì những mục tiêu đúng vẫn có thể chưa tạo ra kết quả tương xứng.

Đó cũng chính là yêu cầu đang được đặt ra ngày càng rõ trong các quyết sách lớn của Đảng. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 xác định nông dân là chủ thể, là trung tâm; nông nghiệp là lợi thế quốc gia, trụ đỡ của nền kinh tế; đồng thời yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp, tổ chức sản xuất, kinh doanh theo chuỗi giá trị, dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu thể chế hóa, tổ chức lại sản xuất, phát triển chuỗi ngành hàng, doanh nghiệp dẫn dắt, đào tạo nông dân và hoàn thiện hạ tầng. Đến Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành, nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực, tạo ra năng lực phát triển mới được đặt trong tổng thể đổi mới mô hình phát triển đất nước.

Nếu ba bài đầu lần lượt trả lời các câu hỏi "tam nông có vị thế nào?", "nguồn lực và điểm nghẽn nằm ở đâu?" và "quản trị phải thay đổi ra sao?", thì Bài 4 đi thẳng vào một câu hỏi thực tiễn hơn: Phải tổ chức lại sản xuất và kết nối các chủ thể như thế nào để những nguồn lực đang có thực sự vận hành cùng nhau?

Trong mạch tư duy ấy, cuộc trao đổi với ông Hồ Xuân Hùng, Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mang đến một góc nhìn đặc biệt từ thực tiễn quản lý, hoạch định và tổ chức phát triển nông nghiệp, nông thôn dạn dày kinh nghiệm qua nhiều chặng được phát triển của từng địa phương và của đất nước.

Từ câu chuyện hộ sản xuất nhỏ và yêu cầu hình thành quy mô hợp tác lớn; vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt và hợp tác xã; dữ liệu, giống, khoa học, công nghệ; tín dụng xanh và kinh tế tuần hoàn; đến câu hỏi làm sao để nông thôn hiện đại vẫn giữ được người trẻ và sức sống cộng đồng, ông Hồ Xuân Hùng trở đi trở lại với một yêu cầu xuyên suốt: Phải tổ chức được các nguồn lực đang có thành một hệ thống cùng vận hành và cùng tạo giá trị.

Theo ông, không nhất thiết mọi hộ nông dân đều phải trở thành doanh nghiệp lớn, nhưng họ phải có khả năng tham gia một hệ thống sản xuất lớn; doanh nghiệp dẫn dắt không phải để thay thế nông dân mà phải giúp cả chuỗi cùng mạnh lên; Nhà nước không làm thay thị trường nhưng phải kiến tạo thể chế, hạ tầng, dữ liệu và những điều kiện mà từng chủ thể riêng lẻ không thể tự tạo ra. Và cuối cùng, một hệ sinh thái chỉ thực sự phát triển khi người nông dân có thêm năng lực, doanh nghiệp có động lực đầu tư dài hạn, khoa học giải quyết được bài toán thực tiễn và lợi ích của các chủ thể cùng hướng tới một kết quả phát triển chung.

Đây cũng là bước nối trực tiếp để chuyên đề tiến tới câu hỏi cuối cùng: Cần những đột phá nào để kiến tạo hệ sinh thái "tam nông", biến những nguồn lực đang có thành năng lực phát triển của người dân, cộng đồng và của quốc gia?

Trân trọng giới thiệu cùng độc giả!

- Thưa ông, Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2022 xác định nông nghiệp là lợi thế quốc gia, trụ đỡ của nền kinh tế; đồng thời yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp, tổ chức theo chuỗi giá trị, dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đến Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành, nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực và tạo ra năng lực phát triển mới. Đặt trong bối cảnh đó, theo ông, vai trò "trụ đỡ" của nông nghiệp cần được phát huy như thế nào để vừa giữ vững chức năng nền tảng, vừa tạo ra giá trị và động lực mới cho phát triển đất nước?

Ông Hồ Xuân Hùng: Trước hết phải thấy được một điều: Nông nghiệp Việt Nam đã đi qua một chặng đường rất dài. Từ một đất nước từng thiếu đói, đến nay chúng ta đã trở thành một quốc gia có vị thế đáng kể trên thị trường nông sản thế giới. Đây là thành quả của nhiều thế hệ nông dân, của quá trình đổi mới thể chế và của những bước tiến về khoa học, công nghệ, thị trường.

Nhưng chính vì đã đi được một chặng đường như vậy nên cách nhìn đối với "tam nông" cũng phải thay đổi. Vai trò "trụ đỡ" của nông nghiệp vẫn còn nguyên giá trị và càng được thực tiễn khẳng định. Nhưng trong giai đoạn phát triển mới, nội hàm của vai trò ấy phải được nâng lên. Nông nghiệp không chỉ bảo đảm lương thực, sinh kế và ổn định xã hội mà phải tạo ra giá trị cao hơn, sức cạnh tranh lớn hơn và tích hợp được nhiều giá trị kinh tế, sinh thái, văn hóa, xã hội; nông dân phải có năng lực kinh tế, năng lực số và khả năng tham gia thị trường tốt hơn; nông thôn phải trở thành không gian sống, không gian kinh tế và không gian văn hóa có sức hấp dẫn.

Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2022 đã nói rất rõ nông dân là chủ thể, là trung tâm và mục tiêu cao nhất là nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nông dân, cư dân nông thôn. Điều đó có nghĩa là không thể đánh giá thành công chỉ bằng sản lượng hay số công trình. Sản xuất tăng mà người nông dân vẫn yếu trong chuỗi giá trị thì chưa đủ; nông thôn có nhiều công trình hơn nhưng người trẻ không nhìn thấy tương lai thì cũng chưa thể coi là phát triển bền vững.

Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026 đặt vấn đề này trong yêu cầu rộng hơn về đổi mới mô hình phát triển, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành, nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực và tạo ra năng lực phát triển mới. Theo tôi, đặt vào lĩnh vực "tam nông", tinh thần đó rất đáng chú ý. Chúng ta không thiếu từng yếu tố riêng lẻ: Có người nông dân, có doanh nghiệp, có viện - trường, có ngân hàng, có đất đai, có thị trường. Cái khó là tổ chức các yếu tố ấy thành một hệ thống vận hành được với nhau.

Một vùng nguyên liệu nếu tách khỏi chế biến thì khó nâng giá trị. Doanh nghiệp nếu tách khỏi nông dân thì thiếu nền tảng nguyên liệu. Khoa học nếu không gắn với bài toán sản xuất thì khó đi vào cuộc sống. Chính sách tín dụng nếu không gắn với dữ liệu, bảo hiểm và đầu ra thì vốn vẫn khó xuống. Vì vậy, tôi cho rằng chuyển đổi lớn nhất trong giai đoạn tới là từ tư duy hỗ trợ từng khâu sang tư duy tổ chức cả hệ sinh thái phát triển.

- Ông vừa nói rằng không thể đánh giá thành công chỉ bằng sản lượng hay số công trình. Vậy khi người nông dân là chủ thể, là trung tâm, điều đó phải được thể hiện bằng những thay đổi cụ thể nào trong năng lực sản xuất và sinh kế của họ?

Ông Hồ Xuân Hùng: Trước hết phải làm cho người nông dân có khả năng tự quyết định tốt hơn đối với sản xuất và sinh kế của mình. Tôi cho rằng đó là cách hiểu thực chất nhất.

Người nông dân ngày nay không chỉ cần đất và sức lao động. Họ cần thông tin thị trường, giống tốt, công nghệ, kỹ năng số, dịch vụ kỹ thuật, vốn, bảo hiểm và khả năng tham gia vào những chuỗi sản xuất lớn. Nếu thiếu những điều kiện đó thì chúng ta nói họ là chủ thể nhưng trên thực tế họ vẫn phải phụ thuộc vào rất nhiều khâu mà bản thân không kiểm soát được.

Điều tôi quan tâm là phải chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ sang tư duy kiến tạo năng lực. Hỗ trợ một khoản vật tư hay một lần tập huấn có thể cần, nhưng điều quan trọng hơn là sau chương trình đó người dân có tự làm được tốt hơn không, có tiếp cận được thị trường tốt hơn không, có biết sử dụng dữ liệu và công nghệ hay không.

Đảng và Nhà nước đang đặt vấn đề phổ cập kỹ năng số, xây dựng công dân số. Trong công dân số phải có người nông dân. Nông dân số không phải ai cũng trở thành chuyên gia công nghệ, nhưng họ phải biết dùng công nghệ để phục vụ sản xuất, biết tra cứu thông tin, biết truy xuất, biết bán hàng, biết kiểm tra chất lượng và biết bảo vệ quyền lợi của mình.

Tôi vẫn tin rằng người nông dân Việt Nam thích ứng rất nhanh khi nhìn thấy lợi ích. Cái quan trọng là phải tạo ra điều kiện để họ nhìn thấy lợi ích và có công cụ để thực hiện. Khi đó, vai trò chủ thể mới trở thành năng lực làm chủ thực sự.

- Nhưng có một thực tế là phần lớn hộ nông dân Việt Nam vẫn sản xuất trên quy mô không lớn, trong khi thị trường, công nghiệp chế biến và công nghệ ngày càng đòi hỏi quy mô lớn hơn, chất lượng đồng đều hơn. Theo ông, bài toán này nên được giải bằng cách nào?

Ông Hồ Xuân Hùng: Trước hết phải phân biệt rất rõ giữa quy mô của từng hộ sản xuất và quy mô của cả quá trình sản xuất, kinh doanh. Việt Nam có đặc điểm lịch sử, dân cư và đất đai riêng. Không thể đặt mục tiêu tất cả các hộ đều phải trở thành những trang trại rất lớn rồi mới có nông nghiệp hiện đại.

Ở đây, tôi nghĩ phải phân biệt rõ giữa tích tụ đất đai và tập trung tổ chức sản xuất. Tích tụ có thể làm tăng diện tích do một chủ thể trực tiếp sử dụng; còn tập trung sản xuất không nhất thiết đòi hỏi người nông dân phải chuyển quyền sử dụng đất của mình cho một chủ thể khác. Nhiều hộ vẫn có thể sản xuất trên đất của mình nhưng cùng tham gia hợp tác xã hoặc liên kết với doanh nghiệp để thống nhất vùng nguyên liệu, giống, lịch thời vụ, quy trình kỹ thuật, cơ giới hóa, dữ liệu và đầu ra. Khi đó, quyền của người dân đối với đất đai vẫn được bảo đảm, nhưng sản xuất đã hình thành được quy mô lớn về tổ chức và thị trường.

Trường hợp vùng nguyên liệu gắn với TH ở Nghĩa Đàn là một ví dụ. Doanh nghiệp không thể và cũng không cần trực tiếp canh tác toàn bộ diện tích vùng nguyên liệu. Người dân tham gia trồng nguyên liệu, được hỗ trợ về giống, kỹ thuật và có đầu ra; doanh nghiệp tổ chức tiêu chuẩn, công nghệ và thị trường. Tôi cho rằng đó mới là hướng cần đẩy mạnh: Không nhất thiết tập trung quyền về đất vào một chủ thể, mà phải tập trung được cách tổ chức sản xuất, dịch vụ, công nghệ và thị trường.

Bài 4: Tổ chức lại sản xuất, kết nối nguồn lực để “tam nông” trở thành năng lực phát triển quốc gia - Ảnh 1.
Bài 4: Tổ chức lại sản xuất, kết nối nguồn lực để “tam nông” trở thành năng lực phát triển quốc gia - Ảnh 2.
Bài 4: Tổ chức lại sản xuất, kết nối nguồn lực để “tam nông” trở thành năng lực phát triển quốc gia - Ảnh 3.
Bài 4: Tổ chức lại sản xuất, kết nối nguồn lực để “tam nông” trở thành năng lực phát triển quốc gia - Ảnh 4.

Trang trại và vùng nguyên liệu của Tập đoàn TH tại Nghĩa Đàn (Nghệ An). (Ảnh: TH)

Cái cần lớn lên trước hết là quy mô của sự hợp tác, của dịch vụ và của thị trường.

Một người nông dân có thể vẫn canh tác trên diện tích không lớn, nhưng giống được tổ chức thống nhất, quy trình kỹ thuật đồng bộ, đầu vào được mua chung, máy móc dùng chung, chất lượng được kiểm soát theo cùng một tiêu chuẩn và đầu ra được tổ chức theo cả vùng. Khi đó, hàng nghìn hộ nhỏ vẫn có thể tạo thành một vùng sản xuất đủ lớn về mặt thị trường.

Tôi đã đi thực tế nhiều nơi và thấy rất rõ điều này. Khi doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tổ chức được đồng ruộng theo một quy trình chung thì cơ giới hóa mới phát huy hiệu quả, chi phí mới giảm và chất lượng mới đồng đều. Còn nếu mỗi hộ một giống, một lịch thời vụ, một cách chăm sóc thì đưa máy móc hiện đại vào cũng rất khó.

Vì vậy, tích tụ ruộng đất là cần trong những trường hợp phù hợp nhưng không phải lời giải duy nhất. Điều quan trọng hơn là tập trung và tổ chức đồng bộ được dịch vụ, công nghệ, dữ liệu, tiêu chuẩn và thị trường.

Hợp tác xã cũng phải trở về đúng vai trò của mình. Hợp tác xã không nên làm thay hộ nông dân mà phải làm những việc từng hộ riêng lẻ khó có thể tự làm: tổ chức dịch vụ, kết nối doanh nghiệp, kiểm soát chất lượng, bảo quản, chế biến, xây dựng thương hiệu và thương lượng với thị trường.

Nói cách khác, chúng ta không nhất thiết biến hàng triệu hộ nông dân thành những doanh nghiệp lớn. Nhưng phải giúp họ tham gia được vào một hệ thống sản xuất lớn, nơi người nhỏ không còn đơn độc và không còn ở thế yếu.

- Khi hàng nghìn hộ nhỏ cùng tham gia một chuỗi sản xuất lớn, vai trò của doanh nghiệp rõ ràng trở nên rất quan trọng. Nhưng một doanh nghiệp "dẫn dắt" sẽ chưa thực sự có nhiều ý nghĩa nếu chỉ bản thân doanh nghiệp lớn lên. Theo ông, đâu là dấu hiệu cho thấy một doanh nghiệp đang thực sự dẫn dắt cả chuỗi, làm cho nông dân, hợp tác xã và những chủ thể cùng tham gia ngày càng mạnh hơn?

Ông Hồ Xuân Hùng: Muốn nông nghiệp phát triển thành kinh tế hàng hóa hiện đại thì vai trò của doanh nghiệp là rất quan trọng. Người nông dân có thể sản xuất rất giỏi nhưng không thể một mình làm tất cả các việc từ nghiên cứu thị trường, xây dựng tiêu chuẩn, đầu tư chế biến, logistics đến xuất khẩu.

Doanh nghiệp có lợi thế ở chỗ nhìn thấy thị trường và tổ chức được các nguồn lực theo yêu cầu của thị trường. Nhưng doanh nghiệp dẫn dắt không có nghĩa là doanh nghiệp làm hết, càng không phải doanh nghiệp thay thế nông dân. Một chuỗi tốt phải tạo ra sự phân công mà trong đó mỗi chủ thể làm tốt nhất phần việc của mình.

Doanh nghiệp có thể cung cấp hoặc lựa chọn công nghệ, xác lập tiêu chuẩn, tổ chức chế biến và thị trường. Hợp tác xã tập hợp các hộ, tổ chức dịch vụ và kiểm soát quy trình ở cơ sở. Người nông dân trực tiếp sản xuất và phải ngày càng chuyên nghiệp hơn. Nhà khoa học giải quyết các bài toán kỹ thuật. Nhà nước kiến tạo môi trường, hạ tầng và xử lý những việc mà thị trường không tự giải quyết được.

Điều quan trọng nhất của liên kết là lợi ích phải đủ rõ để các bên muốn ở lại với nhau. Nếu doanh nghiệp chỉ tìm tới nông dân khi cần nguyên liệu nhưng lúc thị trường khó khăn lại để người dân tự chịu rủi ro thì liên kết sẽ không bền. Ngược lại, nếu người nông dân đã ký hợp đồng nhưng khi giá bên ngoài tăng lại phá vỡ cam kết thì doanh nghiệp cũng không thể đầu tư dài hạn.

Vì vậy, chuỗi giá trị không chỉ cần hợp đồng pháp lý mà còn cần niềm tin kinh tế. Niềm tin ấy hình thành khi tiêu chuẩn và chất lượng được minh bạch, phương thức xác định giá rõ ràng, trách nhiệm của từng bên được xác định và lợi ích được chia sẻ hợp lý.

Tôi đã từng gặp bà con ở vùng Phủ Quỳ và hỏi vì sao họ dám tham gia vùng nguyên liệu của một doanh nghiệp lớn. Cuối cùng, câu trả lời vẫn quay về một chữ: "Tin". Người dân tin khi họ thấy doanh nghiệp thực hiện những điều đã cam kết, từ hỗ trợ giống, phân bón, chuyển giao kỹ thuật đến tổ chức đầu ra; quan trọng hơn, việc tham gia chuỗi giúp họ tạo thêm sinh kế và thu nhập ngay trên chính mảnh đất của mình.

Thực tế, mô hình liên kết nguyên liệu của TH đã phát triển ở quy mô khá lớn. Tại Nghệ An và các địa phương nơi TH triển khai dự án, hơn 20.000 nông dân đã tham gia chuỗi cung cấp các loại nguyên liệu như ngô sinh khối, rơm, mùn cưa cho hệ thống trang trại bò sữa; doanh nghiệp hỗ trợ giống, phân bón, chuyển giao kỹ thuật canh tác và bao tiêu sản phẩm với giá tương đối ổn định. Điều đáng chú ý là mối liên kết ấy không chỉ tạo nguồn nguyên liệu cho doanh nghiệp, mà còn mở thêm một phương thức tổ chức sinh kế cho người dân, giúp những hộ sản xuất nhỏ có thể tham gia vào một chuỗi sản xuất lớn mà không nhất thiết phải rời bỏ đất đai hay đứng ngoài quá trình hiện đại hóa.

Bài 4: Tổ chức lại sản xuất, kết nối nguồn lực để “tam nông” trở thành năng lực phát triển quốc gia - Ảnh 5.
Bài 4: Tổ chức lại sản xuất, kết nối nguồn lực để “tam nông” trở thành năng lực phát triển quốc gia - Ảnh 6.
Bài 4: Tổ chức lại sản xuất, kết nối nguồn lực để “tam nông” trở thành năng lực phát triển quốc gia - Ảnh 7.

Tại Nghệ An và các địa phương nơi TH triển khai dự án, hơn 20.000 nông dân đã tham gia chuỗi cung cấp các loại nguyên liệu như ngô sinh khối, rơm, mùn cưa... cho hệ thống trang trại bò sữa. (Ảnh: TH)

Ở Nghĩa Đàn - địa bàn hình thành cụm trang trại bò sữa công nghệ cao quy mô lớn của TH - các số liệu địa phương cho thấy tỷ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh qua nhiều giai đoạn, từ mức trên 20% trong những năm đầu sau khi huyện được điều chỉnh địa giới xuống còn 2,9% vào năm 2023, dù các tỷ lệ này được xác định theo chuẩn nghèo của từng thời kỳ. Tất nhiên, không thể quy kết quả đó cho riêng một doanh nghiệp hay một dự án. Đây là thành quả tổng hợp của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư của Nhà nước, các chương trình giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và nỗ lực của chính người dân. Nhưng sự hiện diện của một doanh nghiệp lớn cùng mô hình liên kết sản xuất, tạo việc làm, phát triển vùng nguyên liệu và mở rộng thị trường rõ ràng là một nhân tố góp phần tạo thêm động lực chuyển dịch sinh kế và phát triển của địa bàn.

Câu chuyện ấy cho thấy niềm tin kinh tế không hình thành bằng lời kêu gọi. Nó được tích lũy qua từng mùa vụ, từng lần thực hiện hợp đồng, từng lần thanh toán và đặc biệt là cách các bên ứng xử với nhau khi thị trường khó khăn. Doanh nghiệp giữ chữ tín thì người dân mới có lý do để đầu tư dài hạn và giữ cam kết của mình; ngược lại, vùng nguyên liệu ổn định, người sản xuất chuyên nghiệp và quan hệ hợp tác bền vững cũng chính là tài sản lâu dài của doanh nghiệp. Vì thế, doanh nghiệp dẫn dắt không chỉ phải tổ chức được một chuỗi hàng hóa, mà quan trọng hơn là tổ chức được một quan hệ hợp tác đủ tin cậy để các bên cùng đầu tư cho tương lai.

Tôi cũng cho rằng trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp nông nghiệp không nên được đo chủ yếu bằng số tiền doanh nghiệp dành cho hoạt động từ thiện. Thước đo lớn hơn là ở nơi doanh nghiệp đầu tư, người dân có thêm sinh kế không, phương thức sản xuất có tiến bộ không, nguồn nhân lực có mạnh lên không và vùng đất có được đánh thức bằng những giá trị mới hay không. Một doanh nghiệp lớn lên mà làm cho những chủ thể xung quanh cùng mạnh lên thì đó mới là sức lan tỏa có ý nghĩa phát triển.

Đây chính là điểm mà nền nông nghiệp Việt Nam phải tiến lên trong giai đoạn tới, từ những quan hệ mua bán ngắn hạn sang quan hệ hợp tác dài hạn giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.

- Từ câu chuyện doanh nghiệp dẫn dắt, có một mắt xích rất quan trọng là công nghệ. Nhưng giữa việc "mua được một công nghệ tiên tiến" và biến công nghệ đó thành hiệu quả thực tế dường như còn một khoảng cách rất lớn. Từ những trường hợp ông từng quan sát, điều gì quyết định khả năng lựa chọn, tiếp nhận rồi từng bước làm chủ và cải tiến công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam?

Ông Hồ Xuân Hùng: Bản thân các doanh nghiệp công nghệ cũng không thể làm thay tất cả. Điều khó là doanh nghiệp và người sản xuất trong từng lĩnh vực phải biết lựa chọn và ứng dụng khoa học, công nghệ vào thực tiễn của mình.

Trường hợp Anh hùng Lao động Thái Hương và Tập đoàn TH là một ví dụ. Ngay từ những năm đầu triển khai dự án bò sữa công nghệ cao ở Nghĩa Đàn, khi đến thăm trang trại của Tập đoàn, tôi đã thấy doanh nghiệp chủ động tìm kiếm, lựa chọn những công nghệ tiên tiến của thế giới để đưa vào Việt Nam. Tôi từng có dịp sang Israel, quan sát một nền nông nghiệp phát triển trong điều kiện khí hậu rất khắc nghiệt và thấy rằng lựa chọn đúng đối tác công nghệ là cực kỳ quan trọng.

Tôi vẫn hay nói vui là phải biết "chọn bạn mà chơi". Chọn được đúng đối tác, đúng công nghệ mới chỉ là bước đầu; sau đó phải biết tổ chức để công nghệ ấy phù hợp với điều kiện đất đai, con người, quy mô và thị trường của Việt Nam. TH đã ứng dụng công nghệ vào quản trị đàn bò, dinh dưỡng, thú y, trồng nguyên liệu, xử lý môi trường và chế biến. Điều đáng nói không phải chỉ là có máy móc hiện đại, mà là tổ chức được cả một quy trình dựa trên công nghệ và dữ liệu.

Vì vậy, tôi luôn cho rằng đổi mới sáng tạo không có nghĩa doanh nghiệp Việt Nam phải tự phát minh tất cả mọi thứ. Biết thế giới đã làm tốt điều gì, lựa chọn đúng công nghệ, tiếp nhận nhanh, tổ chức ứng dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam, rồi từng bước làm chủ và cải tiến, đó cũng là một năng lực đổi mới sáng tạo rất quan trọng.

Tất nhiên, để làm được như vậy đòi hỏi chi phí lớn cho nghiên cứu, học hỏi và đầu tư. Nhưng điều quyết định không chỉ nằm ở số tiền bỏ ra, mà ở tư duy lựa chọn công nghệ và khả năng đưa công nghệ vào đúng bài toán sản xuất. Một công nghệ tiên tiến chỉ thực sự có giá trị khi giải quyết được vấn đề cụ thể, tạo ra hiệu quả và sau quá trình tiếp nhận, doanh nghiệp cùng người sản xuất tích lũy thêm được năng lực của chính mình. Theo tôi, cách tiếp cận ấy hoàn toàn có thể được vận dụng rộng hơn trong nhiều lĩnh vực của nông nghiệp số, nông nghiệp xanh và nông nghiệp công nghệ cao.

-Từ câu chuyện ứng dụng và làm chủ công nghệ, tôi muốn đi sâu hơn vào một yếu tố ngày càng quan trọng là dữ liệu. Theo ông, dữ liệu trong nông nghiệp cần được nhìn nhận như thế nào và chúng ta phải làm gì để dữ liệu thực sự trở thành một nguồn lực phục vụ sản xuất, thị trường và quản lý?

Ông Hồ Xuân Hùng: Không phải đến bây giờ nông nghiệp mới có dữ liệu. Trước đây, dữ liệu đã tồn tại dưới dạng tri thức, kinh nghiệm và ký ức được tích lũy qua nhiều thế hệ. Người ta biết vùng nào phù hợp với cây gì, sản vật ở đâu ngon, mùa vụ nào thuận, hộ nào làm tốt; những thông tin ấy được truyền từ đời này sang đời khác và trở thành một phần của tri thức sản xuất ở mỗi vùng.

Điểm khác hiện nay là dữ liệu phải được số hóa, chuẩn hóa, cập nhật và có khả năng kết nối, kiểm chứng. Khi thị trường phát triển và yêu cầu minh bạch ngày càng cao, không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm hay trí nhớ. Phải biết sản phẩm do ai sản xuất, ở đâu, theo quy trình nào, sử dụng đầu vào gì, chất lượng ra sao và có thể truy xuất được toàn bộ quá trình hay không.

Truy xuất nguồn gốc, xét đến cùng, phải dựa trên dữ liệu. Vì vậy, nhiệm vụ của chúng ta không phải là thay thế những tri thức đã tích lũy từ trước, mà là nhận diện, lưu giữ, số hóa và kết nối chúng với các nguồn dữ liệu mới. Khi làm được điều đó, dữ liệu không chỉ phục vụ quản lý hay truy xuất, mà còn trở thành một nguồn lực giúp người nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan quản lý ra quyết định tốt hơn.

Tôi cũng muốn nói thêm rằng dữ liệu nông nghiệp không chỉ là những con số về diện tích, sản lượng, năng suất hay giá cả. Trong đó còn có giống bản địa, kinh nghiệm mùa vụ, tri thức về đất, nước, rừng, nghề truyền thống, sản vật và những giá trị văn hóa gắn với từng vùng đất. Ngày trước, rất nhiều dữ liệu như vậy nằm trong trí nhớ và kinh nghiệm của cộng đồng. Bây giờ số hóa thì phải làm sao để những tri thức ấy được nhận diện, lưu giữ và phát huy. Dữ liệu cần có cả chiều rộng của những con số và chiều sâu của văn hóa.

Tôi hay lấy hình ảnh "điện, đường, trường, trạm" để nói về sự thay đổi này. Trước đây điện chủ yếu để thắp sáng, đường là đường giao thông, trường là nơi học văn hóa, trạm là trạm y tế. Bây giờ điện phải phục vụ sản xuất hiện đại, công nghệ cao; "đường" còn là đường truyền dữ liệu, trường phải giúp đào tạo con người có kỹ năng số và "trạm" còn có thể được hiểu rộng hơn là những điểm để người dân tiếp cận dữ liệu và dịch vụ số.

Điều tưởng đơn giản nhưng rất khó là người dân ở vùng sâu, vùng xa lấy dữ liệu ở đâu, ai cập nhật cho họ, ai hướng dẫn họ sử dụng. Muốn nông sản Việt Nam giữ được thương hiệu trong một thị trường minh bạch thì người sản xuất phải có khả năng tiếp cận dữ liệu.

Ở đây Nhà nước phải đi sớm, thậm chí đi trước, chứ không thể chờ dữ liệu hình thành đầy đủ rồi mới quản lý. Nhà nước phải tạo hạ tầng, chuẩn chung, môi trường pháp lý và bảo vệ dữ liệu nguồn; đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp đầu ngành cùng tham gia xây dựng hệ thống.

Nhưng Nhà nước cũng không thể làm thay tất cả. Từng hộ sản xuất, từng hợp tác xã, từng doanh nghiệp phải có trách nhiệm xây dựng dữ liệu, uy tín và thương hiệu của mình. Vai trò của Nhà nước là làm cho những dữ liệu ấy có thể kết nối, xác thực và được sử dụng để bảo vệ cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng.

- Nhưng có công nghệ và dữ liệu rồi vẫn chưa đủ nếu cách nghĩ, cách làm không thay đổi kịp. Theo ông, đâu là sự thay đổi về tư duy quan trọng nhất để khoa học, công nghệ thực sự đi vào nông nghiệp và tạo ra hiệu quả?

Ông Hồ Xuân Hùng: Tôi hoàn toàn đồng tình rằng trong khoa học, công nghệ, trước hết phải đổi mới tư duy. Nhưng câu hỏi là ai phải đổi mới? Theo tôi, từ người lãnh đạo, người đứng đầu doanh nghiệp đến người dân, người sản xuất và cả người tiêu dùng đều phải thay đổi tư duy. Không thể để cách nghĩ của mình đi sau sự phát triển của thời đại.

Công nghệ thay đổi rất nhanh. Có những giống cây, giống vật nuôi khi chúng ta còn đang trong quá trình thử nghiệm thì thế giới đã có bước tiến mới. Nếu tư duy và cơ chế quá chậm, có khi đến lúc áp dụng thì công nghệ đã lạc hậu.

Đại dịch COVID-19 là điều không ai mong muốn, nhưng cũng cho thấy khi hoàn cảnh buộc phải thay đổi thì thương mại điện tử, giao dịch số phát triển rất nhanh. Điều đó chứng minh thực tiễn có thể thay đổi hành vi rất mạnh nếu chúng ta sẵn sàng đổi mới.

Trong môi trường cũng vậy. Không thể theo cách "mất bò mới lo làm chuồng", có bệnh rồi mới nghĩ đến chữa bệnh. Chăm sóc sức khỏe phải coi trọng phòng bệnh; khoa học, công nghệ cũng cần tư duy đi trước.

Tư duy phải đi trước một bước. Điều này không chỉ đặt ra đối với doanh nghiệp mà còn đối với cả hệ thống đào tạo và đội ngũ lãnh đạo các cấp. Phải chuẩn bị tư duy mới cho thế hệ trẻ từ sớm. Người lãnh đạo cũng phải dám nghĩ, dám quyết định và dám tạo điều kiện cho những mô hình mới hình thành.

Trong nông nghiệp, vai trò của doanh nghiệp đặc biệt quan trọng trong việc tiếp cận thị trường và đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất. Nhưng để doanh nghiệp dám đi trước thì thể chế cũng phải mở đường và chấp nhận những thử nghiệm có kiểm soát.

- Trong rất nhiều yếu tố quyết định năng suất và hiệu quả của nông nghiệp, tôi biết ông đặc biệt coi trọng vai trò của giống. Trong điều kiện khoa học, công nghệ phát triển nhanh hiện nay, theo ông, vị trí của giống đang thay đổi như thế nào và chúng ta cần làm gì để biến lợi thế về giống thành lợi thế cạnh tranh?

Ông Hồ Xuân Hùng: Trước đây chúng ta thường nói "nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống". Nhưng trong điều kiện khoa học, công nghệ hiện nay, theo tôi, tư duy đó cũng phải thay đổi mạnh. Tôi thường nói có thể phải nghĩ theo hướng "nhất giống, nhì phân, tam cần, tứ nước", bởi giống nào thì phải có phương thức chăm sóc phù hợp với giống ấy.

Trước kia sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thủy lợi. Bây giờ khoa học, công nghệ cho phép chúng ta chủ động hơn. Việc lựa chọn được giống phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu và thị trường có thể làm thay đổi hẳn năng suất, hiệu quả kinh tế và thu nhập.

Tôi từng chứng kiến việc đưa giống mía phù hợp lên vùng đồi ở Nghệ An tạo ra hiệu quả rất khác. Trong chăn nuôi cũng vậy, nếu lựa chọn được giống tốt và tổ chức quản trị bằng công nghệ thì tốc độ nâng cao năng suất có thể rất nhanh.

Ngày nay, khi đã có dữ liệu, công nghệ sinh học và công nghệ số, câu chuyện giống càng phải gắn với nghiên cứu, quản trị và thị trường. Giống không thể tách khỏi toàn bộ hệ thống sản xuất.

Điều quan trọng là phải có một tư duy mở: tiếp thu thành tựu của thế giới nhưng đồng thời xây dựng năng lực chọn tạo, kiểm soát và phát triển những giống phù hợp với điều kiện Việt Nam. Khi làm tốt, giống không chỉ là đầu vào sản xuất mà còn có thể trở thành một lợi thế cạnh tranh mới.

- Kết luận số 219-KL/TW yêu cầu chuyển mạnh sang nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải thấp; phát triển chuỗi đa giá trị và kinh tế carbon thấp. Theo ông, phải giải bài toán này như thế nào để chuyển đổi xanh thực sự trở thành động lực chứ không phải thêm một gánh nặng cho người sản xuất?

Ông Hồ Xuân Hùng: Nói nông nghiệp xanh thì ai cũng đồng tình, nhưng cuối cùng phải trả lời được một câu rất thực tế: người nông dân được lợi gì khi chuyển đổi?

Nếu chúng ta yêu cầu người dân giảm phân bón, giảm thuốc bảo vệ thực vật, thay đổi quy trình, ghi chép dữ liệu, đầu tư thêm thiết bị nhưng sản phẩm bán ra vẫn như cũ và thu nhập không tăng thì rất khó yêu cầu họ duy trì lâu dài.

Do đó, chuyển đổi xanh trước hết phải được tổ chức thành một bài toán kinh tế. Ví dụ, giảm lượng giống gieo, cơ giới hóa tốt hơn, bón phân chính xác hơn, giảm thuốc bảo vệ thực vật không chỉ giúp môi trường tốt lên mà phải làm cho chi phí sản xuất giảm xuống. Tận dụng rơm rạ, phụ phẩm để làm phân hữu cơ, nguyên liệu hay sản phẩm mới cũng phải tạo thêm một dòng giá trị, thay vì coi đó là chất thải phải xử lý.

Tôi từng đến thăm những mô hình sản xuất lúa được tổ chức đồng bộ, cơ giới hóa và gắn với xử lý rơm rạ theo hướng tuần hoàn. Điều làm tôi ấn tượng không chỉ là kỹ thuật, mà là việc mô hình giải quyết cùng lúc nhiều bài toán: sản xuất quy mô lớn hơn, giảm lao động thủ công, giảm chi phí, minh bạch chất lượng, giảm phát thải và tạo thêm giá trị từ phụ phẩm.

Kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp rất phù hợp với truyền thống sản xuất của Việt Nam. Cha ông ta từ lâu đã biết tận dụng phụ phẩm. Điểm mới hiện nay là khoa học, công nghệ cho phép làm ở quy mô lớn hơn, sạch hơn, kiểm soát được chất lượng và tạo giá trị cao hơn.

Nhưng muốn nhân rộng thì không thể chỉ dựa vào từng hộ. Phải có doanh nghiệp tổ chức công nghệ, hợp tác xã tập hợp nguồn nguyên liệu, dịch vụ kỹ thuật phù hợp và thị trường tiêu thụ sản phẩm sau chế biến.

Kinh tế dưới tán rừng cũng là một ví dụ. Ở những vùng miền núi khó khăn, nếu chúng ta chỉ yêu cầu người dân giữ rừng nhưng sinh kế quá thấp thì rất khó tạo động lực dài hạn. Nhưng nếu tổ chức được những mô hình phù hợp như dược liệu, cây bản địa hay những hoạt động kinh tế không làm suy giảm rừng, thì bảo vệ tài nguyên và nâng cao đời sống có thể hỗ trợ lẫn nhau. Tôi từng rất ủng hộ hướng phát triển dược liệu ở khu vực Mường Lống, Nghệ An, bởi ở đó không chỉ có bài toán kinh tế mà còn có tri thức bản địa và giá trị của y học truyền thống.

Một vấn đề nữa là phải đo được kết quả. Chi phí giảm bao nhiêu, lượng phân bón giảm bao nhiêu, nước được tiết kiệm bao nhiêu; chất lượng đất thay đổi thế nào; thu nhập của người dân tăng thêm bao nhiêu? Khi hiệu quả được nhìn thấy bằng con số cụ thể, người sản xuất sẽ tự có động lực thay đổi.

Theo tôi, chuyển đổi xanh chỉ bền vững khi ba lợi ích gặp nhau: người sản xuất có lợi, doanh nghiệp có thị trường và môi trường được cải thiện.

- Nhưng để chuyển đổi được thì cuối cùng vẫn phải có vốn. Trong khi đó, nông nghiệp có độ rủi ro cao, chu kỳ đầu tư dài và nhiều chủ thể còn khó đáp ứng yêu cầu về tài sản bảo đảm. Theo ông, đâu là những điểm nghẽn cần tháo gỡ để dòng vốn có thể đi vào nông nghiệp mạnh hơn và bền vững hơn?

Ông Hồ Xuân Hùng: Nông nghiệp có những đặc điểm rất khác với nhiều ngành khác: Rủi ro cao trong khi khả năng sinh lời không phải lúc nào cũng tương xứng với mức độ rủi ro và chu kỳ đầu tư. Người làm nông nghiệp chịu rủi ro về thời tiết, dịch bệnh, giá cả, thị trường, trong khi chu kỳ đầu tư ở nhiều lĩnh vực lại dài.

Do đó, nếu chỉ áp dụng cách đánh giá tín dụng giống như đối với một ngành ít rủi ro thì doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân rất khó tiếp cận vốn.

Vấn đề đầu tiên là phải có cách đánh giá dự án nông nghiệp dựa nhiều hơn vào phương án sản xuất, chuỗi liên kết và dòng tiền, chứ không chỉ nhìn vào tài sản thế chấp. Nếu một doanh nghiệp có hợp đồng đầu ra, vùng nguyên liệu ổn định, công nghệ tốt, hợp tác xã và nông dân tham gia rõ ràng thì bản thân chuỗi đó đã tạo ra một mức độ bảo đảm nhất định.

Thứ hai, nói tín dụng xanh thì phải trả lời rất cụ thể: thế nào là xanh? Nếu tiêu chí không rõ, ngân hàng không biết dự án nào đủ điều kiện, doanh nghiệp cũng không biết phải đầu tư đến mức nào để được hưởng chính sách.

Phải có hệ thống xác nhận đủ minh bạch về tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải, tuần hoàn chất thải, bảo vệ môi trường... để vốn ưu đãi đến đúng dự án.

Thứ ba là bảo hiểm nông nghiệp. Đây là công cụ rất quan trọng nhưng lâu nay chưa phát triển tương xứng. Nếu rủi ro thiên tai, dịch bệnh hoàn toàn đặt lên vai người vay và ngân hàng thì tín dụng nông nghiệp đương nhiên sẽ thận trọng. Khi có cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp, dòng vốn mới có thể mạnh dạn đi vào những mô hình mới.

Vì vậy, khơi thông vốn cho nông nghiệp không chỉ là yêu cầu ngân hàng cho vay nhiều hơn. Đó là bài toán đồng bộ giữa tín dụng, bảo hiểm, dữ liệu, hợp đồng, thị trường và chính sách chia sẻ rủi ro.

- Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2022 xác định xây dựng nông thôn hiện đại, phồn vinh, hạnh phúc; Kết luận số 219-KL/TW tiếp tục yêu cầu thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao thu nhập, chất lượng sống và khả năng tiếp cận dịch vụ ở nông thôn. Từ sản xuất và sinh kế, tôi muốn nhìn rộng hơn tới chính không gian nông thôn. Ông từng đặt câu hỏi: Có những nơi đường sá khang trang hơn, nhà cửa đẹp hơn, nhưng người trẻ vẫn rời quê để tìm cơ hội ở nơi khác. Theo ông, điều đó đặt ra vấn đề gì khi chúng ta nói tới một nền nông thôn hiện đại, phồn vinh và hạnh phúc?

Ông Hồ Xuân Hùng: Tôi cho rằng đây là vấn đề phải suy nghĩ rất nghiêm túc. Chúng ta đã đạt được những thành tựu rất lớn trong xây dựng nông thôn mới. Đường sá, trường học, nhà văn hóa, hạ tầng và nhà ở tại nhiều nơi đã thay đổi rõ rệt.

Nhưng nếu một vùng quê rất đẹp mà thanh niên không thấy cơ hội lập nghiệp, người có trình độ đều muốn rời đi thì chúng ta phải tự hỏi nông thôn ấy đã thực sự phát triển bền vững chưa.

Tôi từng nói có những nơi nhà cửa đẹp, đường làng khang trang nhưng ngày càng vắng người. Đó không đơn thuần là vấn đề dân số. Nó phản ánh câu chuyện việc làm, thu nhập, dịch vụ và cơ hội phát triển.

Muốn người trẻ ở lại thì trước hết phải tạo ra việc làm có chất lượng. Nông thôn không thể chỉ có sản xuất nông nghiệp truyền thống. Phải phát triển công nghiệp chế biến, dịch vụ, logistics, du lịch, làng nghề, kinh tế số và những hoạt động kinh tế mới để một người trẻ có thể sống bằng nghề nghiệp của mình ngay tại quê hương.

Tôi rất quan tâm tới tư tưởng "ly nông nhưng không nhất thiết ly hương". Cơ cấu lao động chắc chắn phải thay đổi, tỷ lệ người trực tiếp làm nông nghiệp sẽ giảm, nhưng điều đó không có nghĩa họ phải rời khỏi nông thôn. Một người có thể không còn trực tiếp trồng lúa nhưng có thể làm trong nhà máy chế biến, dịch vụ kỹ thuật, thương mại điện tử, du lịch hoặc logistics ngay trong khu vực đó.

Đồng thời, chất lượng dịch vụ phải tiến gần hơn đến đô thị. Nếu giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường sống và cơ hội nghề nghiệp quá chênh lệch thì rất khó giữ người.

Vì vậy, thước đo của nông thôn hiện đại không nên chỉ là có bao nhiêu công trình, mà phải hỏi: Thu nhập có tốt không, dịch vụ có tốt không, cộng đồng còn sức sống không và quan trọng nhất là người trẻ có nhìn thấy tương lai ở đó hay không.


- Nếu một vùng quê có đủ công trình nhưng người dân chưa có việc làm tốt, dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu và người trẻ vẫn muốn rời đi, thì rõ ràng cách đánh giá nông thôn mới cũng phải thay đổi. Trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp và không gian hành chính thay đổi, Kết luận số 219-KL/TW yêu cầu hoàn thiện tiêu chí nông thôn mới và phân định rõ nhiệm vụ, thẩm quyền giữa cấp tỉnh với cấp xã. Trong giai đoạn tới, theo ông, chúng ta cần đo lường chất lượng phát triển nông thôn theo hướng nào?

Ông Hồ Xuân Hùng: Nông thôn mới là một quá trình có điểm bắt đầu nhưng không có điểm kết thúc. Xã hội thay đổi thì tiêu chuẩn về một vùng nông thôn tốt cũng phải thay đổi.

Giai đoạn đầu, chúng ta tập trung rất đúng vào những thiếu hụt cơ bản như đường giao thông, điện, trường học, trạm y tế, nước sạch. Nhưng đến giai đoạn hiện nay, nhiều nơi đã vượt qua mức thiếu hụt đó. Nếu vẫn dùng chủ yếu các tiêu chí cũ thì rất khó phản ánh chất lượng phát triển mới.

Theo tôi, bộ tiêu chí phải chuyển mạnh hơn sang kết quả người dân thực sự nhận được. Không chỉ hỏi xã đã có đường chưa mà phải hỏi hàng hóa đi ra thị trường có thuận lợi không. Không chỉ hỏi có điện chưa mà phải hỏi nguồn điện có đủ cho sản xuất hiện đại hay không. Không chỉ hỏi có trường mà phải nhìn vào năng lực đào tạo con người. Không chỉ hỏi có trạm y tế hay chưa mà phải xem dịch vụ tại chỗ có đủ tốt để người dân yên tâm hay không.

Trong thời đại số, hạ tầng thông tin, dữ liệu và dịch vụ số phải trở thành một phần tự nhiên của hạ tầng nông thôn. Chính vì vậy tôi mới nói nội hàm của "điện, đường, trường, trạm" phải được hiểu rộng hơn.

Một nguyên tắc rất quan trọng nữa là không thể lấy một mô hình áp cho mọi vùng. Nông thôn miền núi khác đồng bằng; vùng ven đô khác vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh; vùng đồng bào dân tộc thiểu số có những điều kiện rất khác khu vực phát triển mạnh.

Bộ tiêu chí quốc gia phải xác lập những yêu cầu nền tảng, nhưng phải có không gian để địa phương lựa chọn cách phát triển phù hợp với điều kiện sinh thái, văn hóa và sinh kế. Nếu không, rất dễ quay lại cách làm chạy theo tiêu chí: Thiếu cái gì thì xây cái đó để đạt chuẩn nhưng sau khi đạt chuẩn công trình sử dụng thế nào lại chưa được quan tâm đúng mức. Theo tôi, giai đoạn tới phải chuyển từ tư duy "đạt chuẩn" sang "nâng chất lượng phát triển".

 - Qua những vấn đề vừa trao đổi, có thể thấy mỗi chủ thể đều có một phần nguồn lực nhưng không ai có thể tự giải quyết toàn bộ bài toán phát triển "tam nông". Theo ông, cần tổ chức mối quan hệ giữa người dân, doanh nghiệp và Nhà nước như thế nào để các nguồn lực ấy thực sự bổ trợ và kích hoạt lẫn nhau?

Ông Hồ Xuân Hùng: Tôi không cho rằng có thể chỉ chọn một nguồn lực. Theo tôi, phải làm cho ba nguồn lực gặp nhau: người dân, doanh nghiệp và Nhà nước.

Nguồn lực đầu tiên là người dân. Nhưng khi nói nguồn lực của người dân không nên chỉ nghĩ đến việc họ đóng góp bao nhiêu tiền hay bao nhiêu ngày công. Nguồn lực lớn nhất là tri thức thực tiễn, đất đai, sức lao động, tinh thần hợp tác, sự đồng thuận và khát vọng phát triển quê hương. Nếu người dân không thấy mình là chủ thể thì một chương trình dù đầu tư nhiều tiền cũng rất khó bền vững.

Nguồn lực thứ hai là doanh nghiệp. Doanh nghiệp đem đến vốn, công nghệ, cách tổ chức sản xuất và đặc biệt là thị trường. Trong mô hình nông nghiệp hiện đại, doanh nghiệp phải trở thành lực lượng kết nối sản xuất nhỏ với thị trường lớn. Nhưng phải tạo được một môi trường đủ tốt để doanh nghiệp muốn đầu tư dài hạn vào nông nghiệp, bởi đây là lĩnh vực rủi ro cao và thời gian hoàn vốn không phải lúc nào cũng ngắn.

Nguồn lực thứ ba là Nhà nước. Nhà nước không thể sản xuất thay người dân và cũng không thể kinh doanh thay doanh nghiệp. Nhưng Nhà nước có những việc không chủ thể nào khác làm thay được: xây dựng thể chế, quy hoạch, hạ tầng chiến lược, dữ liệu, tiêu chuẩn, nghiên cứu nền tảng và bảo đảm môi trường cạnh tranh.

Theo tôi, mô hình hiệu quả nhất là Nhà nước tạo điều kiện, doanh nghiệp tổ chức thị trường, người dân làm chủ quá trình sản xuất và hưởng lợi từ sự phát triển. Nếu ba lực lượng này tách rời thì mỗi bên đều yếu. Nhưng khi kết nối được đúng cách, một nguồn lực sẽ kích hoạt nguồn lực kia.

- Giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân còn có các hiệp hội, tổng hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Đây là những chủ thể không trực tiếp ban hành chính sách cũng không trực tiếp sản xuất, kinh doanh. Từ kinh nghiệm của ông, họ có thể tạo ra giá trị gì trong một hệ sinh thái phát triển như vậy?

Ông Hồ Xuân Hùng: Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp có một vị trí khá đặc biệt. Chúng tôi không phải cơ quan nhà nước để ban hành chính sách, cũng không phải doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh, nhưng lại có khả năng kết nối rất nhiều chủ thể khác nhau.

Vì vậy, giá trị của một tổ chức nghề nghiệp không nằm ở việc tổ chức được bao nhiêu hội nghị hay ký được bao nhiêu biên bản hợp tác. Quan trọng là sau những hoạt động đó có giải quyết được vấn đề thực tế nào cho người sản xuất và doanh nghiệp hay không.

Một việc rất quan trọng là kết nối tri thức với sản xuất. Nhiều viện, trường có nghiên cứu tốt nhưng thiếu địa chỉ ứng dụng; trong khi doanh nghiệp và nông dân có bài toán thực tế nhưng không biết tìm chuyên gia ở đâu. Tổ chức nghề nghiệp có thể đứng giữa để nối hai phía.

Thứ hai là kết nối nguồn lực. Một doanh nghiệp nhỏ khó tự tìm đối tác công nghệ nước ngoài, khó tiếp cận chương trình tài chính xanh hay những tiêu chuẩn mới. Thông qua một mạng lưới chung, chi phí tìm kiếm sẽ thấp hơn và cơ hội hợp tác lớn hơn.

Thứ ba là nhân rộng mô hình. Việt Nam không thiếu mô hình hay; vấn đề thường là mô hình dừng lại tại nơi nó hình thành. Tổ chức nghề nghiệp phải giúp nhận diện tại sao mô hình thành công, điều kiện nào có thể nhân rộng, điều kiện nào không thể sao chép.

Và cuối cùng là phản ánh chính sách. Những khó khăn từ thực tế của doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân phải được tổng hợp thành bằng chứng đủ rõ để kiến nghị với Nhà nước.

Theo tôi, trong mô hình phát triển mới, hiệp hội không nên chỉ là nơi đại diện tiếng nói, mà phải từng bước trở thành một hạ tầng kết nối tri thức, công nghệ, doanh nghiệp, thị trường và chính sách.

- Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026 yêu cầu phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và hội nhập sâu rộng. Trong nhiều năm qua, chúng ta thường đánh giá kết quả hội nhập nông nghiệp qua mở rộng thị trường và tăng trưởng xuất khẩu. Nhưng theo ông, trong giai đoạn phát triển mới, thước đo thành công của hội nhập nông nghiệp cần được nhìn rộng hơn như thế nào?

Ông Hồ Xuân Hùng: Việt Nam đã hội nhập rất sâu. Nông sản của chúng ta có mặt ở nhiều thị trường, doanh nghiệp đã tiếp cận rất nhiều công nghệ và tiêu chuẩn quốc tế. Bây giờ phải đi thêm một bước nữa.

Trước đây, nói hội nhập trong nông nghiệp chúng ta thường nghĩ đến xuất khẩu được bao nhiêu. Điều đó rất quan trọng nhưng chưa đủ. Tôi cho rằng cần đặt thêm câu hỏi: qua hội nhập, nông nghiệp Việt Nam học được gì và giữ lại được năng lực gì?

Nếu hợp tác với một nước có công nghệ tốt thì sau dự án chúng ta phải có thêm kỹ thuật viên giỏi, doanh nghiệp biết vận hành công nghệ và nhà cung ứng trong nước trưởng thành hơn. Nếu tiếp cận một thị trường có tiêu chuẩn cao thì sau một thời gian vùng sản xuất trong nước phải nâng được chất lượng, quản trị tốt hơn và những tiêu chuẩn ấy phải trở thành năng lực thường xuyên, chứ không chỉ là bộ hồ sơ cho một lô hàng xuất khẩu.

Nếu hợp tác với một doanh nghiệp quốc tế thì phải nghĩ tới việc doanh nghiệp Việt Nam tiến được thêm một bước nào trong chuỗi giá trị.

Tổng hội thời gian qua cũng mở rộng kết nối với nhiều đối tác nước ngoài không chỉ nhằm kêu gọi vốn mà để tiếp cận công nghệ, tiêu chuẩn và những mô hình sản xuất mới. Tôi cho rằng đó là hướng phải tiếp tục đẩy mạnh.

Nhưng hội nhập cũng phải gắn với tự chủ. Không phải cái gì chúng ta cũng tự làm, nhưng những năng lực thiết yếu của nền nông nghiệp thì phải từng bước làm chủ. Mục tiêu cuối cùng là tiếp nhận được tinh hoa của thế giới và chuyển hóa những thành tựu ấy thành năng lực của người Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam và nền nông nghiệp Việt Nam.

Hội nhập cũng phải gắn với tự chủ. Không phải cái gì chúng ta cũng tự làm, nhưng những năng lực thiết yếu của nền nông nghiệp thì phải từng bước làm chủ. Mục tiêu cuối cùng là tiếp nhận được tinh hoa của thế giới và chuyển hóa những thành tựu ấy thành năng lực của người Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam và nền nông nghiệp Việt Nam.
ÔNG HỒ XUÂN HÙNG

- Để khép lại cuộc trao đổi, nếu phải lựa chọn một yêu cầu quan trọng nhất trong giai đoạn 2026-2030 để "tam nông" tạo được sức bật mới và đóng góp mạnh hơn cho phát triển đất nước, ông sẽ nhấn mạnh điều gì?

Ông Hồ Xuân Hùng: Theo tôi, Việt Nam không thiếu tiềm năng. Chúng ta có đất đai, khí hậu đa dạng, nhiều sản phẩm đặc sắc, người nông dân có kinh nghiệm, doanh nghiệp ngày càng mạnh hơn, khoa học - công nghệ phát triển rất nhanh và thị trường cũng ngày càng rộng.

Cái khó là tổ chức những nguồn lực ấy thành một hệ thống.

Có công nghệ nhưng người dân không tiếp cận được thì công nghệ chưa tạo ra năng lực. Có doanh nghiệp lớn nhưng vùng nguyên liệu không được tổ chức thì doanh nghiệp cũng khó đi xa. Có chính sách tín dụng nhưng dự án không chứng minh được hiệu quả và chưa nhận diện, kiểm soát được rủi ro thì vốn vẫn khó đi vào. Có mô hình tốt nhưng không có cơ chế học hỏi và nhân rộng thì mô hình vẫn chỉ là điểm sáng riêng lẻ.

Vì vậy, tôi cho rằng giai đoạn tới phải nhìn nông nghiệp, nông dân, nông thôn như một hệ sinh thái phát triển, chứ không thể giải quyết riêng từng vấn đề.

Trong hệ sinh thái đó, người nông dân phải có năng lực và được hưởng lợi; doanh nghiệp phải có động lực đầu tư dài hạn; hợp tác xã phải làm được những dịch vụ mà hộ nhỏ không làm được; khoa học phải giải quyết được vấn đề của sản xuất; còn Nhà nước tập trung vào thể chế, hạ tầng và những điều kiện chung.

Điều cần nhất không phải là thêm thật nhiều chương trình. Cần chọn đúng những điểm nghẽn và làm đến nơi đến chốn. Kết luận số 219-KL/TW của Bộ Chính trị đã đặt rất rõ yêu cầu thể chế hóa, tổ chức chuỗi ngành hàng, phát triển doanh nghiệp dẫn dắt, đào tạo nông dân, hoàn thiện hạ tầng và phân định trách nhiệm giữa các cấp. Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026 tiếp tục yêu cầu quản trị theo mục tiêu, kết quả và tác động phát triển. Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện để những yêu cầu đó gặp nhau trong từng bài toán cụ thể.

Tôi vẫn cho rằng khi người nông dân nhìn thấy lợi ích thì họ sẽ thay đổi rất nhanh. Khi doanh nghiệp nhìn thấy môi trường đầu tư ổn định thì họ sẽ dám bỏ vốn. Khi nhà khoa học nhìn thấy bài toán thực tế thì nghiên cứu sẽ có địa chỉ ứng dụng.

Chìa khóa là làm sao để lợi ích của từng chủ thể cùng hướng vào một kết quả phát triển chung. Nếu làm được điều đó, những nguồn lực của "tam nông" sẽ không còn tồn tại rời rạc dưới dạng đất đai, con người, doanh nghiệp hay khoa học, công nghệ, mà được kết nối và chuyển hóa thành năng lực phát triển thực sự của nền nông nghiệp và của đất nước.

-Trân trọng cảm ơn ông!

Từ những chia sẻ của ông Hồ Xuân Hùng, có thể thấy bài toán lớn của "tam nông" trong giai đoạn phát triển mới không còn chỉ là có thêm bao nhiêu đất đai, vốn, công nghệ hay chính sách, mà là tổ chức được các nguồn lực ấy thành một hệ thống cùng vận hành, cùng tạo giá trị và cùng chia sẻ thành quả phát triển. Khi người nông dân thực sự có năng lực làm chủ, doanh nghiệp lớn lên cùng chuỗi liên kết, khoa học đi vào sản xuất, dòng vốn gắn với hiệu quả và rủi ro, còn Nhà nước tạo được môi trường kiến tạo phù hợp, "tam nông" mới có thể chuyển từ nguồn lực tiềm năng thành năng lực phát triển của đất nước.

Nhưng để hệ sinh thái ấy thực sự vận hành, đâu là những đột phá cần ưu tiên trong giai đoạn 2026 - 2030? Kỳ cuối của chuyên đề sẽ tiếp tục đi tìm câu trả lời.

Mời quý độc giả đọc BÀI CUỐI: KIẾN TẠO HỆ SINH THÁI "TAM NÔNG": 5 ĐỘT PHÁ BIẾN NGUỒN LỰC THÀNH NĂNG LỰC PHÁT TRIỂN QUỐC GIA

Bài 4: Tổ chức lại sản xuất, kết nối nguồn lực để “tam nông” trở thành năng lực phát triển quốc gia - Ảnh 8.

Ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải (Lào Cai). (Ảnh: Quang Nguyen Vinh)

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top