Đà Nẵng: Từ vị trí của một cửa sông lớn đến vị thế của một đô thị lớn

Đà Nẵng: Từ vị trí của một cửa sông lớn đến vị thế của một đô thị lớn

Chủ Nhật, 01/03/2026 - 06:15

Sau tất cả những dòng chảy đô thị đan xen khiến có những lúc thành phố cũng phải phân vân lựa chọn, Đà Nẵng hôm nay chính là biểu hiện của sự thay đổi vượt bậc, như một hình ảnh đại diện cho sự phát triển mạnh mẽ của Việt Nam kể từ sau chính sách Đổi mới năm 1986 và đặc biệt, đã góp phần không nhỏ thể hiện vị thế đất nước khi bước vào thiên niên kỷ mới.

...Nhìn lên Hải Vân, Sơn Trà mây nhuộm nắng vàng

Thuyền ai Bắc Nam xuôi ngược về đậu bến Sông Hàn...

Đó là những mô tả về các địa danh quen thuộc của TP. Đà Nẵng trong “Quảng Nam yêu thương” - một bài hát nổi tiếng được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu sáng tác năm 1982. Tuy chỉ gói gọn trong hai câu nhưng Đà Nẵng đã hiện lên với những nét đặc trưng nhất, đầy đủ các yếu tố tự nhiên biển - sông - núi, nằm ở chân đèo Hải Vân, ôm trọn bán đảo Sơn Trà trong lòng, và quan trọng nhất là bến Sông Hàn - một yếu tố tạo thị, khởi nguồn cho sự hình thành khối quần cư đô thị sau này.

Trong tiếng Việt, bản thân hai từ Đà Nẵng lại không có nghĩa. Bởi đây là một địa danh xuất hiện cùng với công cuộc mở mang bờ cõi Đại Việt, gắn liền với miền Quảng Nam - vùng đất mở rộng về phương Nam nên có nhiều giả thiết về cái tên này. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, danh xưng Đà Nẵng bắt nguồn từ ngôn ngữ Champa - “Hang Danak”. Theo các chuyên gia, có thể do quá trình tiếp biến, Hang và Danak bị tách ra. Danak biến âm thành Đà Nẵng, trong đó Đà là sông - nước, Nẵng là già - lớn, như vậy, Đà Nẵng là “sông lớn”. Hang, có nghĩa là dải đất do biển rút cạn để lộ ra, biến âm thành Hàn, vì vậy Đà Nẵng cũng còn gọi là Hàn - đất Hàn, cửa Hàn - một trong những cửa sông lớn của vùng đất miền Trung.

TP. Đà Nẵng còn nằm trong vùng đất nơi các cư dân cổ thuộc văn hóa Sa Huỳnh đã định cư từ hàng nghìn năm trước, dựng nên một nền văn minh lúa nước và dâu tằm nổi tiếng. Người Sa Huỳnh không chỉ là những cư dân nông nghiệp mà còn lành nghề ngư nghiệp cùng các hoạt động giao thương bằng đường biển khá phát triển. Những bối cảnh địa tự nhiên và địa văn hóa có được từ vị trí đã trở thành hành trang quan trọng tham gia vào quá trình hình thành và phát triển của thành phố này trên các phương diện địa kinh tế, địa xã hội và địa chính trị.

Đà Nẵng: Từ vị trí của một cửa sông lớn đến vị thế của một đô thị lớn- Ảnh 1.

Ảnh: Kim Liên/danangfantasticity.com.

Khởi đầu và dấu ấn lịch sử đầu tiên

Tương truyền, dải bờ biển dài của Đà Nẵng mang tên “Tiên Sa” là bởi khung cảnh “cửa biển có non tiên” với dải cát trắng đẹp tuyệt trần, khiến những nàng Tiên cũng phải rủ nhau (Sa) xuống nơi đây dạo chơi và tắm biển. Cũng có một cách giải thích khác khi gắn với đó không xa là địa danh Ngũ Hành Sơn, được xem là những mảnh vỡ từ quả trứng rồng, bởi trước đó, rồng đã chọn nơi non thanh thủy tú này để đẻ trứng. Trứng nở ra thành một thiếu nữ xinh đẹp giúp đỡ người dân nên họ tin rằng nàng chính là tiên trên trời xuống trần cứu dân.

Đằng sau những huyền thoại đó, bờ biển Tiên Sa cũng gắn liền với những ngôi làng nhỏ của người dân sinh sống bằng nghề chài lưới, tận dụng những lợi thế lớn trong việc trao đổi hàng hóa khi tọa lạc trên dải đất vừa giáp biển vừa giáp sông.

Tuy là vậy, cho đến tận giữa thế kỷ XVI, khi Hội An đã là một trung tâm buôn bán sầm uất ở phía Nam thì Đà Nẵng chỉ mới là một địa danh nhỏ, đóng vai trò tiền cảng trung chuyển hàng hóa, tu sửa tàu thuyền. Nhưng rồi chỉ hai thế kỷ sau đó, Đà Nẵng dần dần trở thành thương cảng quốc tế thay thế cho Hội An bị bồi lấp cửa sông, nhất là khi kỹ thuật đóng tàu ở châu Âu phát triển với những loại tàu thuyền lớn, đáy sâu. Mặt khác, theo chỉ dụ của Triều đình Huế, cảng Đà Nẵng gắn với vịnh Đà Nẵng cũng là cửa ngõ duy nhất để thông thương với bên ngoài, vừa để kiểm soát tàu thuyền, vừa tránh sự nhòm ngó của người ngoại quốc đối với kinh đô. Xác định vị trí quan trọng của thương cảng Đà Nẵng, các vua nhà Nguyễn đã lo tổ chức canh phòng vùng đất này, thông qua việc cho xây dựng nhiều đồn lũy ở bán đảo Sơn Trà và dọc hai bên bờ sông, mà trong đó quan trọng nhất là thành Điện Hải phía tả ngạn và thành An Hải ở hữu ngạn sông Hàn.

Đà Nẵng: Từ vị trí của một cửa sông lớn đến vị thế của một đô thị lớn- Ảnh 2.

Đà Nẵng vào đầu thế kỷ XX với tên gọi Tourane được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tây phương. (Ảnh tư liệu/danangfantasticity.com)

Đà Nẵng: Từ vị trí của một cửa sông lớn đến vị thế của một đô thị lớn- Ảnh 3.

Những xóm nhà chồ ở An Hải, trên kênh Đầm Rong và cuối Sông Hàn vào thập niên 1980 và 1990. (Ảnh: Nghệ sĩ nhiếp ảnh Ông Văn Sinh)

Phát huy vị thế địa kinh tế cùng những đổi thay về chức năng và hình hài vật chất

Bởi vị trí chiến lược nói trên, chứ không phải ngẫu nhiên mà liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã chọn Đà Nẵng làm điểm khai hỏa, mở màn cho cuộc chiến tranh Pháp - Việt. Sau khi xâm chiếm toàn bộ đất nước, thực dân Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam và đổi tên thành Tourane, chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương. Nhìn theo hướng tích cực thì đây có thể được xem là một sự thay đổi bản lề khi Đà Nẵng bắt đầu tiếp biến với cách “làm đô thị” phương Tây; bởi kể từ đầu thế kỷ XX, Tourane được người Pháp đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật đô thị để phát triển sản xuất. Sau Hiệp định Geneva năm 1954, đất nước chia hai miền, Đà Nẵng được chính quyền miền Nam Việt Nam xem là thành phố trực thuộc Trung ương và xác định mục tiêu biến Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và vùng II chiến thuật. Mỹ cho xây dựng ở Đà Nẵng các căn cứ quân sự, các kết cấu hạ tầng cùng các khu kỹ nghệ. Như vậy, Đà Nẵng lúc này mang trong mình hai chức năng quan trọng, khi được hiện đại hóa cả trong các không gian quân sự lẫn dân sự của thành phố.

Chỉ qua 5 thế kỷ, vật đổi sao dời, từ những làng chài khởi nguyên, những thành lũy được “cấy ghép” xen kẽ để phòng thủ và kiểm soát không gian, hình hài của một thành phố cảng gắn với các ngành công nghiệp dân sự, hoạt động quân sự dần hiện ra một cách rõ ràng hơn. Những người dân từ công việc chài lưới quen thuộc đã bắt đầu chuyển hướng dần sang các hoạt động trao đổi, buôn bán, cung cấp dịch vụ nghề biển, biến Đà Nẵng thành cửa ngõ đường thủy quốc tế quan trọng bên cạnh chức năng cảng nội địa lớn của miền Trung. Cùng với thời gian, do lợi thế về cảnh quan, những hoạt động du lịch cũng dần được bổ sung bên cạnh mũi nhọn kinh tế biển để giúp Đà Nẵng chuyển mình thành một trung tâm kinh tế trọng điểm, với sự phát triển tổng hợp nhiều ngành kinh tế, trở thành một điểm kết nối quan trọng với các đô thị khác trong khu vực.

Kết nối đôi bờ sông Hàn

Sông Hàn, yếu tố khởi nguyên phát triển đời sống kinh tế và xã hội của thành phố, nhưng lại là yếu tố bất lợi khi nó chia cắt Đà Nẵng thành hai phần không gian Đông - Tây cách biệt. Đã từng có một thời gian dài, bờ Đông sông Hàn phát triển “lép vế” hẳn so với bờ Tây, nơi có trung tâm đô thị hiện hữu; bởi “qua sông thì phải lụy đò”, mà cả thành phố lúc đó chỉ có duy nhất cầu đường bộ Nguyễn Văn Trỗi kết nối hai bờ. Cầu sông Hàn đã mở đầu cho một xu hướng phát triển mới của thành phố. Bờ Tây và bờ Đông sông Hàn được kết nối với nhau chặt chẽ hơn bởi hàng loạt cây cầu liên tiếp được thành phố xây dựng sau đó.

Nhờ vậy, bờ Đông như bừng tỉnh. Không gian hữu ngạn sông Hàn được tái sinh, các căn cứ quân sự nhường chỗ cho những không gian dân sự tấp nập, sôi động, không chỉ lôi kéo người dân từ bờ Tây sang cư trú, sinh sống, mà còn thu hút nhà đầu tư từ nhiều nơi về phát triển các dự án, tạo nên diện mạo mới, trái ngược với hình ảnh “nhà quê” trong lòng thành phố trước đây của khu vực này. Đời sống xã hội bờ Đông được cải thiện rõ rệt bởi các hoạt động dịch vụ đô thị ngày càng xuất hiện nhiều hơn.

Đà Nẵng: Từ vị trí của một cửa sông lớn đến vị thế của một đô thị lớn- Ảnh 4.
Đà Nẵng: Từ vị trí của một cửa sông lớn đến vị thế của một đô thị lớn- Ảnh 5.
Đà Nẵng: Từ vị trí của một cửa sông lớn đến vị thế của một đô thị lớn- Ảnh 6.

Những cây cầu nối đôi bờ sông Hàn. (Ảnh: danangfantasticity.com)

Kiến tạo vị thế địa xã hội gắn với đời sống vật chất và tinh thần của cư dân

Từ một góc độ khác, rõ ràng để có được sự đổi thay và sức hấp dẫn trên, một công việc quan trọng mà thành phố đã phải thực hiện trước một bước là các cơ sở kỹ thuật hạ tầng. Sau năm 1975, đặc biệt là từ thời kỳ Đổi mới 1986, ngoài những “nhịp cầu nối những bờ vui”, thành phố đã tái cấu trúc hệ thống giao thông gắn với hiện đại hóa hệ thống kỹ thuật đô thị, xác định những khu vực phát triển mới để định vị các trục đường kết nối, cũng như nâng cấp hạ tầng các không gian hiện hữu trong thành phố.

Một điểm sáng trong việc tái thiết lập hệ thống giao thông, là thành phố đã gắn kết được công tác phát triển hạ tầng với cải thiện diện mạo kiến trúc đô thị, thông qua việc mạnh dạn mở rộng thu hồi, đền bù giải phóng mặt bằng hai bên các trục đường, bán đấu giá và đưa ra quy định về kiến trúc xây dựng mới dọc theo những trục đường này. Một mũi tên đã trúng hai đích - thành phố vừa có nguồn tài chính để bù đắp lại chi phí mở đường, đồng thời vừa có những con đường với hình ảnh kiến trúc hiện đại, đồng bộ hai bên - vấn đề mà các thành phố khác đang phải “đau đầu” để giải quyết khi những căn nhà “siêu mỏng”, “siêu méo” xuất hiện trên các tuyến phố mới tác động tiêu cực đến hình ảnh kiến trúc đô thị.

Ngoài ra, Chương trình “5 không”: (i) Không có hộ đói, (ii) Không có người mù chữ, (iii) Không có người lang thang xin ăn, (iv) Không có người nghiện ma túy, (v) Không có giết người cướp của; Chương trình “3 có”: (i) Có nhà ở, (ii) Có việc làm, (iii) Có nếp sống văn hóa văn minh đô thị; và Chương trình “4 an”: (i) An ninh trật tự, (ii) An toàn giao thông, (iii) An toàn thực phẩm, (iv) An sinh xã hội, là các chương trình đột phá của Đà Nẵng, giải quyết được nhiều vấn đề về an sinh xã hội và mang nhiều ý nghĩa nhân văn. Các chương trình này đã góp phần tạo nên những dấu ấn riêng có cho thành phố và cũng là niềm tự hào của người dân, vì không những góp phần giải quyết nhiều vấn đề bức xúc đương thời, mà còn tạo tiền đề cho việc tiếp tục giải quyết những vấn đề xã hội quan trọng, cơ bản, lâu dài trên tầm cao mới, trong sự phát triển hài hòa, toàn diện của thành phố, hướng đến hình ảnh một thành phố năng động - thân thiện - an bình.

Khẳng định vị thế địa chính trị thông qua nâng cấp quy mô và vai trò

Lại quay ngược dòng thời gian, vào những năm 1954 - 1955, Đà Nẵng chỉ là một thị xã nhỏ với dân số khoảng hơn 50.000 người. Nhưng chỉ sau 20 năm, đến trước năm 1975, thị xã này đã tăng dân số lên gấp 10 lần và trở thành đô thị lớn thứ hai miền Nam. Sau ngày thống nhất đất nước, TP. Đà Nẵng trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1990, TP. Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại II. Sáu năm sau, năm 1996, trước những yêu cầu phát triển và quản lý mới của đất nước, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Theo đó, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng được chia thành tỉnh Quảng Nam và TP. Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Đến năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định công nhận TP. Đà Nẵng là đô thị loại I.

Nửa thế kỷ, từ một thị xã đến một đô thị loại I trực thuộc Trung ương, nhiều chuyên gia đã đánh giá về quá trình nâng cấp vị thế đô thị của Đà Nẵng như một chặng đường phát triển mạnh mẽ, thể hiện sự nỗ lực, cố gắng và bứt phá, chứ không đơn thuần là tịnh tiến kiểu năm sau cao hơn năm trước. Đà Nẵng nhanh chóng trở thành đô thị hạt nhân của chuỗi đô thị Huế (TP. Huế) - Đà Nẵng - Chu Lai - Kỳ Hà (Quảng Nam cũ) - Dung Quất (Quảng Ngãi) - Quy Nhơn (Bình Định cũ); và hình thành vùng đô thị Đà Nẵng, bao gồm Chân Mây (Lăng Cô) - Đà Nẵng - Điện Bàn - Hội An - Nam Hội An.

Đà Nẵng: Từ vị trí của một cửa sông lớn đến vị thế của một đô thị lớn- Ảnh 7.

Cảng Chu Lai, Đà Nẵng. (Ảnh: Thaco Group)

Đà Nẵng: Từ vị trí của một cửa sông lớn đến vị thế của một đô thị lớn- Ảnh 8.

Khu kinh tế mở Chu Lai, Đà Nẵng. (Ảnh: Thaco Group)

Sự năng động và quyết tâm của thành phố trong bối cảnh cạnh tranh

Những thay đổi nội tại đã giúp thành phố có được vị thế mới, và ngược lại, vị thế mới cũng khiến thành phố phải tiếp tục có những thay đổi tương xứng với vai trò của nó. Bên cạnh những thay đổi về diện mạo đô thị mà ta dễ dàng nhìn thấy được, thành phố đã có những biến chuyển tích cực về quan điểm, tư tưởng phát triển - những yếu tố tuy “không nhìn thấy được” nhưng biểu hiện của chúng chính là các thể chế, chính sách tác động mạnh mẽ đến cộng đồng doanh nghiệp, các nhà đầu tư. Điều này được minh chứng qua Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI - một công cụ chính sách đánh giá và xếp hạng chất lượng điều hành cấp tỉnh tại Việt Nam, “tiếng nói” quan trọng của các doanh nghiệp về môi trường kinh doanh địa phương, kênh thông tin tham khảo tin cậy về địa điểm đầu tư, một động lực cải cách quan trọng đối với môi trường kinh doanh.

Trong bối cảnh phân cấp từ Trung ương xuống cấp tỉnh tại Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, Đà Nẵng đã cho thấy vị thế cạnh tranh của mình với chỉ số PCI luôn ở trong top đầu nhiều năm liền. Điều này phản ánh thành quả của sự năng động và quyết tâm của chính quyền thành phố trong việc tạo dựng môi trường thuận lợi, có tính cạnh tranh cao cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư, kinh doanh trên địa bàn thành phố.

Thành phố đáng sống hay chỉ là thành phố đáng đến?

Những năm gần đây, các công trình kiến trúc khang trang, những dự án đô thị quy mô, những cây cầu hiện đại... đã giúp thành phố như khoác lên mình một sắc diện mới. Nói cách khác, những sản phẩm xây dựng đẹp kết hợp với cảnh quan hấp dẫn sẵn có, đã tạo nên một cảm giác hòa quyện giữa những gì thiên nhiên ban tặng cho thành phố, với những thứ mà thành phố đã nỗ lực tạo dựng để có được hình ảnh năng động, tích cực, như một thông điệp gửi đến người dân lẫn du khách. Bằng những chương trình hành động, những chính sách tác động đúng người, đúng thời điểm, Đà Nẵng nhanh chóng trở thành một nơi chốn hấp dẫn, đáng đến để du lịch, nghỉ dưỡng với những trải nghiệm ấn tượng và khác biệt.

Như vậy, Đà Nẵng đã làm tốt sứ mệnh trở thành điểm đến lý tưởng; nhưng thành phố vẫn cần phát triển thành một nơi đáng sống. Thành phố phải thu hút, giữ chân được nhân sự tài năng đến làm việc và cư trú lâu dài, thay vì chỉ là những chuyến công tác, du lịch ngắn ngày. Nói cách khác, đến là để giải trí, tận hưởng, khám phá; còn sống là phải làm việc, cống hiến và gắn bó. Do đó, từ thương hiệu “thành phố đáng đến” đến danh hiệu “thành phố đáng sống” như mọi người vẫn kỳ vọng cho Đà Nẵng, là cả một chặng đường dài đầy khó khăn; nhất là khi vài năm trở lại đây, thành phố đã cho thấy một số biểu hiện về sự “mệt mỏi”, chững lại sau thời gian dài miệt mài phấn đấu. Nói như vậy để thấy rằng, đô thị này tuy đã làm được nhiều việc nhưng thời gian tới, vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

Đà Nẵng: Từ vị trí của một cửa sông lớn đến vị thế của một đô thị lớn- Ảnh 9.

Đà Nẵng: Từ vị trí của một cửa sông lớn đến vị thế của một đô thị lớn- Ảnh 10.

TP. Đà Nẵng là nơi duy nhất sở hữu cùng lúc 2 Di sản văn hóa thế giới là Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn. (Ảnh: Báo Đà Nẵng)

 Khi thành phố được tiếp thêm nguồn lực

Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội, việc hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của TP. Đà Nẵng (cũ) và tỉnh Quảng Nam (cũ) thành một TP. Đà Nẵng mới rộng lớn, là một quyết sách mang tính chiến lược, phản ánh tầm nhìn phát triển vùng và quốc gia. Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp vùng và quốc tế, đặc biệt là tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Đà Nẵng và Quảng Nam lại kết hợp với nhau để hình thành một đơn vị hành chính quy mô, có diện tích 11.859,59km2 và dân số 3.065.628 người, bao gồm 94 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 23 phường, 70 xã cùng 1 đặc khu Hoàng Sa, hứa hẹn mở ra nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức.

Quyết định này được đưa ra dựa trên nhận định về sự cần thiết phải kiến tạo một trung tâm động lực phát triển mạnh mẽ hơn ở miền Trung, có khả năng cạnh tranh với các đô thị lớn trong nước và khu vực. Trong hơn hai thập kỷ qua, Đà Nẵng và Quảng Nam đã phát triển với tốc độ nhanh chóng, nhưng sự phân tách hành chính đôi khi tạo ra rào cản trong việc quy hoạch tổng thể, quản lý nguồn lực và phát triển hạ tầng liên vùng. Việc sáp nhập nhằm khắc phục tình trạng này, tạo điều kiện cho một sự phối hợp đồng bộ và hiệu quả hơn giữa khu vực đô thị lõi (TP. Đà Nẵng cũ) với vùng hậu phương giàu tài nguyên và tiềm năng phát triển công nghiệp, du lịch, nông nghiệp (tỉnh Quảng Nam cũ). Đây là một bước đi nhằm tối ưu hóa lợi thế địa lý, kinh tế - xã hội của hai địa phương vốn đã gắn bó mật thiết với nhau từ rất lâu, hướng tới mục tiêu xây dựng một đô thị lớn, đa chức năng và bền vững.

Sự ra đời của TP. Đà Nẵng mới mang lại những cơ hội phát triển vượt trội. Thứ nhất, nó tạo ra một không gian phát triển rộng lớn hơn, cho phép quy hoạch tổng thể và tích hợp các ngành kinh tế trọng điểm như du lịch (Hội An, Mỹ Sơn, biển Đà Nẵng...), công nghiệp công nghệ cao, logistics (cảng Đà Nẵng, sân bay Chu Lai...) và nông nghiệp chất lượng cao. Điều này sẽ giúp đa dạng hóa cơ cấu kinh tế và tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế đô thị.

Thứ hai, quy mô dân số và diện tích mở rộng sẽ tăng cường vị thế và sức hút của Đà Nẵng trên bản đồ đầu tư quốc tế, thu hút các dự án quy mô lớn về cơ sở hạ tầng, công nghiệp và dịch vụ.

Thứ ba, việc quản lý tập trung sẽ giúp đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, quy hoạch và quản lý đô thị, thúc đẩy hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

Cuối cùng, việc thống nhất quy hoạch và quản lý sẽ tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững cho toàn bộ khu vực.

Bên cạnh những cơ hội, việc sáp nhập cũng đặt ra nhiều thách thức đáng kể. Thách thức lớn nhất là sự phức tạp trong hợp nhất hai hệ thống hành chính, pháp lý và văn hóa tổ chức riêng biệt. Để hài hòa các chính sách, quy định, cơ cấu bộ máy và đội ngũ cán bộ giữa thành phố và tỉnh là một quá trình dài, đòi hỏi sự tinh tế.

Thứ hai, sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa khu vực đô thị (Đà Nẵng cũ) và các vùng nông thôn, miền núi của Quảng Nam cũ có thể tạo ra áp lực lớn về phân bổ nguồn lực, đầu tư hạ tầng và đảm bảo công bằng xã hội. Việc giải quyết các vấn đề về nhà ở, việc làm, giáo dục và y tế cho một quy mô dân số lớn hơn sẽ đòi hỏi những chiến lược toàn diện.

Thứ ba, thách thức về quản lý đô thị hóa nhanh chóng, bảo vệ môi trường tự nhiên, đặc biệt là vùng ven biển, rừng núi và các di sản văn hóa như Hội An, Mỹ Sơn, sẽ trở nên cấp bách hơn.

Cuối cùng, việc duy trì bản sắc văn hóa địa phương, phát huy tinh thần đoàn kết và xây dựng một “bản sắc chung” cho TP. Đà Nẵng mới trong khi vẫn giữ gìn những giá trị truyền thống độc đáo của từng vùng sẽ là một nhiệm vụ quan trọng để đảm bảo sự phát triển hài hòa và bền vững.

Đà Nẵng: Từ vị trí của một cửa sông lớn đến vị thế của một đô thị lớn- Ảnh 11.

Sự ra đời của TP. Đà Nẵng mới mang lại những cơ hội phát triển vượt trội. (Ảnh: 1.6 Media)

Sau tất cả những dòng chảy đô thị đan xen khiến Đà Nẵng có những lúc cũng phải phân vân lựa chọn, thành phố hôm nay chính là biểu hiện của sự thay đổi vượt bậc, như một hình ảnh đại diện cho sự phát triển mạnh mẽ của Việt Nam kể từ sau chính sách Đổi mới năm 1986 và đặc biệt, đã góp phần không nhỏ thể hiện vị thế đất nước khi bước vào thiên niên kỷ mới. Trong tầm nhìn dài hạn, Đà Nẵng hoàn toàn có thể trở thành đô thị loại đặc biệt, hướng đến vị thế của một đô thị vươn tầm quốc tế./.



Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top