Đô thị Đại học: Nhà nước - Doanh nghiệp cùng nâng cánh tri thức
Xây dựng và phát triển các đô thị đại học hiện đại không phải là việc xây dựng những khối nhà bê tông vô hồn, mà là câu chuyện định hình một lối sống, nuôi dưỡng một thế hệ và tổ chức không gian sinh tồn cho một "lâu đài tri thức" trong tầm nhìn trăm năm.
Tại hai các đô thị lớn của Việt Nam, nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, một nghịch lý không gian đô thị đang kéo dài nhiều thập kỷ qua. Những dòng người và xe cộ kẹt cứng trên các trục đường hướng tâm, nén chặt vào vùng lõi nội đô lịch sử vốn theo mô hình phát triển vết dầu loang cơ học – càng mở rộng, lại càng kẹt. Trong sự ngột ngạt của khói bụi và áp lực hạ tầng kinh niên ấy, có một lực lượng quy mô cả triệu người là các giảng viên, nhà khoa học và sinh viên. Họ là những chủ thể lẽ ra phải dành khoảng thời gian quý giá đó để chiêm nghiệm trong các thư viện yên tĩnh, làm chủ các phòng lab hiện đại hay khơi nguồn sáng tạo tại các trung tâm đổi mới sáng tạo nhằm sản sinh giá trị gia tăng, định hình nội lực cho nền kinh tế.
Sự nén chặt mang tính lịch sử này đã đẩy không gian học thuật truyền thống rơi vào trạng thái nghẹt thở đúng nghĩa. Các trường đại học lớn hiện nay hoàn toàn bế tắc về quỹ đất sạch, thiếu diện tích để xây dựng một phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế hay thậm chí là một khuôn viên sinh hoạt thể chất đúng tầm. Sự bế tắc ấy phản ánh một đòi hỏi cấp bách từ nền kinh tế vĩ mô: nhu cầu kiến tạo các đô thị đại học mở như hạt nhân thúc đẩy kinh tế tri thức và kinh tế chất lượng cao. Tri thức không thể phát huy sức mạnh trong không gian phân mảnh; chúng cần những hệ sinh thái cô đặc để chuyển hóa chất xám thành tư bản kinh tế. Khi các ngành thâm dụng lao động dịch chuyển, nấc thang giá trị tiếp theo phải được định hình bằng chất xám. Do đó, phát triển các cấu trúc tích hợp vùng ven chính là bài toán hữu hiệu và nhân văn nhất để vừa giải tỏa áp lực cho vùng lõi, vừa tái cấu trúc lực lượng lao động mà không làm đứt gãy mạch đập phát triển.
Trước đòi hỏi bứt phá của nền kinh tế tri thức, nhu cầu chuyển dịch các trường đại học ra khỏi nội đô đã trở thành mệnh lệnh cấp bách. Tuy nhiên, lời giải không nằm ở việc dịch chuyển cơ học vài ngôi trường ra vùng ven để giãn dân thuần túy, mà nằm ở cuộc cách mạng tổ chức không gian mang tầm nhìn thế kỷ. Đó phải là câu chuyện kiến tạo những thành phố chuyên biệt - nơi Nhà nước chủ động bóc tách rào cản thể chế, mở đường cho các sếu đầu đàn tư nhân đổ nguồn lực để cùng xây nên những bệ phóng chất xám vươn tầm quốc tế.
Nhìn sâu vào bản chất quy hoạch, để các đô thị đại học thực sự trở thành hạt nhân điều hướng nền kinh tế, chúng ta cần bước qua tư duy đóng khung cũ kỹ, vốn bao bọc các trường học truyền thống bằng những bức tường kiên cố và một chiếc cổng gác hành chính. Mô hình đại học đóng ấy vô hình trung đã cô lập tri thức khỏi dòng chảy sống động của xã hội và thị trường, khiến doanh nghiệp có bài toán không biết gõ cửa phòng nào, còn nhà khoa học có phát minh lại dễ rơi vào căn bệnh khoa học ngăn kéo.
Trái lại, những hình mẫu thành công bậc nhất thế giới như Thung lũng Silicon gắn liền với Đại học Stanford (Mỹ) hay Thành phố khoa học Tsukuba (Nhật Bản)… đều vận hành theo một triết lý nhất quán: Đô thị không tường rào. Ở đó, ranh giới giữa trường học và xã hội hoàn toàn bị xóa nhòa, kích hoạt một vòng tuần hoàn hoàn chỉnh dựa trên mô hình tương tác "Ba nhà": Nhà nước dẫn dắt thể chế, Nhà trường sản sinh tri thức và Doanh nghiệp thương mại hóa sản phẩm. Khi ba thực thể này va đập vào nhau trong cùng một không gian sinh thái mở, mọi chi phí thời gian và rào cản giao dịch bị triệt tiêu, biến tri thức từ một khái niệm trừu tượng thành dòng vốn kinh tế chạy trong huyết mạch của đất nước.
Toàn cảnh đại học Tsukuba nằm trong Thành phố khoa học Tsukuba (Nhật Bản).
Nhìn lại lịch sử tổ chức không gian học thuật tại Việt Nam, Đô thị Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc với quy mô hơn một nghìn héc-ta chính là một nỗ lực mang tính tiên phong, đại diện cho tư duy đầu tư tập trung bằng nguồn lực công từ những thập niên trước. Đến nay, Hòa Lạc đã hình thành nên vóc dáng của một trung tâm đào tạo lớn, đưa hàng vạn sinh viên lên học tập ổn định. Nằm kế bên Khu công nghệ cao Hòa Lạc – nơi hội tụ của các tập đoàn công nghệ lớn, đây từng được kỳ vọng là không gian mở lý tưởng để hiện thực hóa chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo từ phòng thí nghiệm ra thị trường.
Tuy nhiên, hành trình kéo dài hơn hai thập kỷ này đến nay cũng bộc lộ những giới hạn cấu trúc của một mô hình "thuần công" khi đặt dưới hệ quy chiếu phân tích của một đô thị tích hợp hiện đại. Mô hình "thuần công" này xuất phát từ bẫy tiến độ do phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn ngân sách nhà nước và các quy trình phê duyệt công phức tạp. Việc giải phóng mặt bằng kéo dài kiểu "xôi đỗ" đã băm nhỏ không gian kỹ thuật, khiến hạ tầng phân khu rơi vào tình trạng thiếu đồng bộ tức thì.
Đặc biệt, sự đứt gãy kết nối hạ tầng giao thông khối lượng lớn (TOD) tạo ra khoảng cách tâm lý và trở ngại địa lý lớn đối với vùng lõi khi hệ thống đường sắt đô thị hướng tâm vẫn chưa được hiện thực hóa. Hệ quả là nghịch lý "đô thị ngủ", đơn điệu và thiếu cả sinh khí, sinh kế lẫn sinh hoạt – nơi chỉ có không gian học thuật "vận động cầm chừng". Thêm vào đó, mô hình quản lý mang nặng tính hành chính công khép kín khiến Hòa Lạc thiếu đi sự linh hoạt để tự xây dựng các dịch vụ an sinh, tiện ích sống hiện đại phục vụ đời sống con người.
Thách thức cốt lõi là rào cản pháp lý trong việc quản lý tài sản công, khiến các trường thành viên rất khó tìm được cơ chế hợp tác công - tư hiệu quả để tư nhân đặt đại bản doanh R&D bên trong khuôn viên đất của trường, vô hình trung biến mối liên kết giữa đại học và khu công nghệ cao kề bên vẫn mang tính cơ học hơn là một hệ sinh thái hữu cơ tự vận hành. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp bách về một tư duy quản trị mới, nơi nguồn lực của các tập đoàn tư nhân "sếu đầu đàn" cần được giải phóng và tích hợp vào các đại dự án quy hoạch vùng ven một cách toàn diện và sâu sắc hơn nhằm kiến tạo động lực cho kinh tế tri thức bứt phá.
Từ thực tiễn mang tính quy luật đó, mới đây, khi Thành phố Hồ Chí Minh quyết định cho triển khai dự án Đô thị Đại học Quốc tế với quy mô 880 ha, tổng vốn đầu tư gần 2,5 tỷ USD tại Hóc Môn và giao Tập đoàn Vingroup làm chủ đầu tư, đã mở ra một hướng đi mới cho mô hình đô thị đại học tại Việt Nam.
Dự án Khu đô thị Đại học Quốc tế có diện tích gần 880 ha nằm tại xã Xuân Thới Sơn, TP.HCM.
Phương thức giải bài toán này chính là một câu trả lời hoàn toàn khác từ nguồn lực và sáng tạo tư nhân, định hình một trường phái quy hoạch mới: Đô thị sinh thái tích hợp giáo dục tinh hoa. Đối chiếu với những điểm nghẽn "mang tính thập kỷ" của Hòa Lạc, mô hình đô thị đại học quốc tế tại Hóc Môn mang những điểm mạnh và tính sáng tạo vượt trội nhờ năng lực thực thi mạnh mẽ của tập đoàn tư nhân hàng đầu, giúp hóa giải triệt để bẫy tiến độ và sự chậm trễ cơ học.
Dưới góc nhìn của các nhà quy hoạch, việc đặt siêu dự án này tại Hóc Môn còn như một nét bút chiến lược làm thay đổi hoàn toàn thế cờ phát triển và hóa giải lời nguyền phát triển lệch của Thành phố Hồ Chí Minh. Dự án xuất hiện như một cực tăng trưởng đối trọng mạnh mẽ ở phía Tây Bắc, tạo lực hút dòng người và dòng vốn về vùng trũng hạ tầng cũ, hiện thực hóa mô hình đô thị đa trung tâm và góp phần tự động giãn dân khỏi vùng lõi nội đô lịch sử. Xét trên yêu cầu cốt lõi về phát triển kinh tế chất lượng cao, Dự án đóng vai trò là một bệ phóng hạ tầng và chất xám hoàn chỉnh. Quy hoạch tích hợp sâu cung cấp không gian nghiên cứu cho các ngành khoa học, công nghệ lõi, đồng thời trực tiếp giải quyết bài toán ly tâm dòng người cho vùng lõi đô thị Sài Gòn, thiết lập một trung tâm kinh tế tri thức mới, nâng cao năng lực cạnh tranh vĩ mô cho thành phố.
Khoảng cách không còn là lực cản khi Dự án tọa lạc ngay nút giao của các trục xương sống chiến lược gồm Đường Vành đai 3 sắp hoàn thành và trục Cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài rục rịch triển khai. Sự cô đặc không gian kết nối này giúp sinh viên và giảng viên chỉ mất mười đến mười lăm phút để di chuyển sang các thủ phủ công nghiệp vùng lân cận. Dự án đã biến khoảng cách địa lý trở thành lợi thế kết nối, đóng vai trò như một chiếc bản lề chất xám cho tam giác công nghiệp phụ cận, biến môi trường sống vùng ven thành bộ não nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trực tiếp cho các nhà máy sản xuất.
Khám phá cấu trúc không gian bên trong thành phố công viên tri thức này, người ta thấy rõ một tư duy quy hoạch vị nhân sinh hiện đại khi nhà phát triển dành tới 70% diện tích cho mảng xanh và mặt nước, chia thành năm phân khu chức năng cộng sinh hữu cơ: Phân khu Giáo dục và Nghiên cứu (150ha) là trái tim của dự án, nơi quy hoạch các trường đại học, viện nghiên cứu chuẩn quốc tế với ký túc xá thông minh cao 22 tầng; Phân khu Công viên sinh thái (117ha) sở hữu công viên bách thảo quy mô 27ha; Phân khu An sinh xã hội (436ha) đáp ứng không gian cư trú ổn định cho khoảng 135.000 cư dân với đầy đủ tiện ích y tế, thương mại dịch vụ; còn phân khu lifestyle giải trí VinWonders và hệ thống sân golf 36 hố đẳng cấp chính là thỏi nam châm thu hút giới chuyên gia quốc tế đến định cư lâu dài.
Khi nhìn vào quy hoạch của đô thị này, không ít người hoài nghi cho rằng đây chỉ là "mượn danh" phát triển đô thị đại học để kinh doanh bất động sản thương mại. Tuy nhiên, bản chất kinh tế học đô thị tạo nên tính đột phá của mô hình này nằm ở công thức phát triển hỗn hợp, thể hiện qua cơ chế "lấy ngắn nuôi dài" và tự cân đối vốn dựa. Đầu tư vào hạ tầng giáo dục đại học luôn đòi hỏi nguồn vốn đầu tư ban đầu khổng lồ nhưng tốc độ thu hồi vốn lại vô cùng chậm. Nếu "bắt" doanh nghiệp tư nhân đầu tư giáo dục thuần túy trên quy mô lớn mà không có cơ chế hoàn vốn chéo, dự án sẽ nhanh chóng rơi vào trạng thái đóng băng về mặt dòng tiền.
Việc phê duyệt quy hoạch đan xen phân khu bất động sản thương mại và nhà ở rộng 436ha chính là chìa khóa giải quyết bài toán tài chính cốt tử này. Doanh nghiệp dùng biên lợi nhuận bất động sản thương mại sinh ra dòng tiền ngay giai đoạn đầu để tái đầu tư nuôi dưỡng hạt nhân giáo dục mà không bị áp lực tài chính đè nặng. Đây là mối quan hệ cộng sinh kinh tế hoàn chỉnh: Danh tiếng đô thị đại học nâng tầm giá trị bất động sản, và ngược lại, thặng dư bất động sản quay ngược lại phụng sự học thuật dài hạn của quốc gia.
Công thức này còn giải quyết triệt để hiện tượng không gian chết vào các kỳ nghỉ khi sinh viên rời giảng đường nhờ cộng đồng cư dân ổn định tại chỗ, đồng thời giải dứt điểm bài toán an cư lạc nghiệp cho đội ngũ giảng viên, chuyên gia chất lượng cao. Đặc biệt, với phương án này, Nhà nước cũng thu về nguồn ngân sách lớn từ tiền sử dụng đất trực tiếp và dòng thuế bền vững xuyên suốt vòng đời dự án. Toàn bộ hạ tầng kỹ thuật và công viên được tư nhân hoàn thiện 100% bằng nguồn vốn tự có rồi kết nối vào mạng lưới chung, giúp Nhà nước sở hữu siêu đô thị hiện đại với chi phí đầu tư công bằng không. Khoản thặng dư này còn góp phần tạo nguồn vốn mồi chiến lược để Thành phố tái đầu tư đối ứng giải phóng mặt bằng các hạ tầng liên kết xung quanh như đường Vành đai 3, Cao tốc Mộc Bài hay tuyến Metro số 2, thực hiện cuộc di dân lịch sử ra vùng ven hoàn toàn tự nguyện với chất lượng sống cao nhất.
Tuy nhiên, để mô hình thành công thực chất, mối quan hệ Đối tác Công - Tư cần phải được định hướng bằng một tư duy quản trị thể chế sắc bén, hay nói cách khác là quản lý "tay nghề đầu bếp". Nhà nước phải giữ vai trò giám sát tối cao bằng các chế tài pháp lý cứng rắn, buộc chủ đầu tư phải thực hiện đúng lộ trình xây dựng, vận hành phân khu giáo dục và viện nghiên cứu song hành hoặc đi trước phân khu nhà ở thương mại, bảo đảm hạt nhân tri thức phải chín trước để tạo bản sắc cho đô thị.
Song song với cơ chế giám sát, Thành phố Hồ Chí Minh cần chủ động đứng ra làm trung gian thực hiện chiến lược hoán đổi tài sản nội đô, cho phép các trường đại học công lập lớn đang bị bế tắc không gian tại vùng lõi cũ được chuyển nhượng cơ sở chật hẹp, để đổi lấy quỹ đất sạch, đồng bộ hiện đại tại Hóc Môn. Sự kết hợp giữa năng lực quản trị linh hoạt của khối tư nhân với bề dày truyền thống học thuật của khối công lập sẽ tạo nên một phản ứng học thuật mạnh mẽ, tối ưu hóa tài nguyên dùng chung.
Đồng thời, việc kiến nghị Chính phủ áp dụng cơ chế đặc thù thí điểm một "Đặc khu Tri thức tự do" với các chính sách Sandbox vượt trội để tạo ra thỏi nam châm mạnh nhất thu hút các trường đại học và giới khoa học toàn cầu về cống hiến cũng là một gợi ý.
Xây dựng và phát triển các đô thị đại học quốc tế hiện đại không phải là việc xây dựng những khối nhà bê tông vô hồn, mà là câu chuyện định hình một lối sống, nuôi dưỡng một thế hệ và tổ chức lại không gian sinh tồn cho một đô thị tri thức trong tầm nhìn trăm năm. Hành trình dịch chuyển chiến lược về hướng Tây Bắc của Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng con đường ngắn nhất để tri thức Việt Nam vươn tầm quốc tế chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bàn tay dẫn dắt thể chế của Nhà nước và nguồn lực thực thi "nhanh và bền vững" của Doanh nghiệp.
Khi Nhà nước kiến tạo một hành lang pháp lý thông thoáng, sẵn sàng thí điểm những cơ chế đặc thù vượt trội và Doanh nghiệp mang đến nguồn vốn mạnh cùng tư duy thị trường sắc bén, tài nguyên đất đai hữu hạn sẽ được chuyển hóa tối đa thành tư bản tri thức quốc gia, mở đường cho một Việt Nam tự cường, kiêu hãnh cất cánh bằng chính nội lực xám của mình trên bản đồ tri thức và công nghệ thế giới.

