"Một quy hoạch - một tầm nhìn"
Theo nghị quyết được thông qua, Hà Nội sẽ triển khai đồng bộ các báo cáo, đề án then chốt, gồm: Báo cáo đề xuất xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm và xa hơn; Báo cáo đề xuất sửa đổi Luật Thủ đô; Đề án “Đô thị Hà Nội thông minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Đề án khu đô thị đa mục tiêu trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đây được xem là “bộ khung chiến lược” để Thủ đô bước vào giai đoạn phát triển mới, với tầm nhìn vượt ra ngoài các mốc quy hoạch truyền thống.
Trình bày báo cáo tại kỳ họp, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP. Hà Nội Dương Đức Tuấn cho biết: Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, Thành phố đã tổ chức lập hai quy hoạch lớn gồm Quy hoạch Thủ đô thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại các Quyết định số 1569/QĐ-TTg ngày 12/12/2024 và số 1668/QĐ-TTg ngày 27/12/2024.

Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP. Hà Nội Dương Đức Tuấn trình bày Tờ trình tại kỳ họp. (Ảnh: Hà Nội Mới)
Tuy nhiên, hai quy hoạch này được phê duyệt trước thời điểm Hà Nội thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, điều chỉnh địa giới hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Do đó, nhiều nội dung quan trọng như mô hình “thành phố trong thành phố”, tổ chức quận, huyện hay phân bố chức năng đô thị đã bộc lộ sự không còn phù hợp, cần được điều chỉnh để thống nhất với Quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng và các quy hoạch ngành, lĩnh vực liên quan.
Trên cơ sở rà soát và đánh giá toàn diện, ngày 11/12/2025, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 258/2025/QH15, cho phép Thủ đô chỉ lập một Quy hoạch tổng thể, tích hợp Quy hoạch Thủ đô và Quy hoạch chung Thủ đô. Đây được xem là bước đột phá về thể chế, nhằm tháo gỡ tình trạng chồng chéo, phân mảnh trong công tác quy hoạch, đồng thời nâng cao tính đồng bộ và hiệu quả trong tổ chức không gian phát triển.
Quy hoạch tổng thể mới đặt mục tiêu đưa Hà Nội - trung tâm chính trị, hành chính quốc gia - trở thành cực tăng trưởng trung tâm, tạo không gian và dư địa phát triển dài hạn, hướng tới tăng trưởng hai con số, với tầm nhìn 100 năm và xa hơn. Hà Nội được định vị tương xứng với vai trò Thủ đô của một quốc gia thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời đóng vai trò lan tỏa và dẫn dắt phát triển đối với Vùng Đồng bằng sông Hồng, Vùng Thủ đô, Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.
Không gian phát triển được định hình theo mô hình đô thị đa cực - đa trung tâm - đa tầng, phát triển theo định hướng văn hiến - bản sắc - sáng tạo, đồng thời tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm phát triển bền vững.
Điểm đột phá của quy hoạch lần này là việc tích hợp Quy hoạch Thủ đô với Quy hoạch chung, qua đó khắc phục tình trạng chồng chéo thể chế, tạo cơ sở pháp lý thống nhất và rõ ràng cho việc triển khai các chương trình, dự án đầu tư quy mô lớn trong giai đoạn 2026 - 2030 và các giai đoạn tiếp theo.
Định hình không gian phát triển Thủ đô: 9 cực tăng trưởng - 9 trung tâm - 9 trục động lực
Theo nội dung nghị quyết, quy hoạch không gian và hạ tầng đô thị được phân chia thành 9 cực tăng trưởng chiến lược, được định hình với chức năng riêng nhằm tối ưu hóa lợi thế địa kinh tế của từng vùng đất.
9 cực tăng trưởng gồm: Đô thị Trung tâm (Hữu ngạn Sông Hồng) gồm đô thị lõi lịch sử và mở rộng là cực Văn hóa - lịch sử - chính trị (chính trị, hành chính, tài chính, văn hóa của Thủ đô) và đô thị Olympic; Cực phía Bắc (Đông Anh - Mê Linh - Sóc Sơn) là cực Động lực Hội nhập (Đô thị dịch vụ, thương mại quốc tế, tài chính, logistics gắn với Cảng hàng không quốc tế cửa ngõ Nội Bài; trung tâm công nghiệp công nghệ cao).

Quang cảnh kỳ họp. (Ảnh: Kinh tế Đô thị)
Cực phía Đông (Gia Lâm - Long Biên): Cực Động lực Cửa ngõ và Thương mại Dịch vụ (phát triển các tổ hợp thương mại quy mô vùng, cảng cạn (ICD), trung tâm logistics hiện đại gắn với trục Quốc lộ 5 và Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng kết nối Thủ đô với tam giác kinh tế động lực phía Đông (Hải Phòng - Quảng Ninh); Cực phía Nam - Đô thị trung tâm (Thường Tín - Phú Xuyên): Cực Động lực Công nghiệp và Logistics (Đô thị logistics, công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ liên vùng, đầu mối giao thông đa phương thức gắn với sân bay thứ 2 phía Nam Hà Nội, đường sắt tốc độ cao, cảng sông).
Cực phía Nam là đô thị Vân Đình - Đại Nghĩa: Đô thị cảnh quan sinh thái hai bên sông và di sản, tín ngưỡng gắn với Sân bay thứ 2 phía Nam Hà Nội; Cực phía Tây Nam (Xuân Mai - Chương Mỹ): Đô thị Giáo dục, Đào tạo, Y tế gắn với nghỉ dưỡng sinh thái); Cực phía Tây (Hòa Lạc): Đô thị Khoa học Công nghệ, đổi mới sáng tạo và giáo dục, trọng tâm là Khu Công nghệ cao Hòa Lạc và Đại học Quốc gia.
Gắn kết với trục phát triển kết nối các tỉnh phía Tây (Phú Thọ, Sơn La, Thanh Hóa,…); Cực phía Tây Bắc (đô thị Sơn Tây - Ba Vì): Đô thị văn hóa lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng gắn với nhiệm vụ an ninh quốc phòng; kết nối với các đô thị Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Việt Trì, Phú Thọ; Cực sông Hồng (không gian cảnh quan đặc biệt, tài chính, dịch vụ thương mại, du lịch…).
Cũng theo Nghị quyết, Hà Nội quy hoạch 9 trung tâm lớn, gồm: (1) Trung tâm đô thị Nam sông Hồng (chính trị, hành chính quốc gia và thành phố; trung tâm kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ và hội nhập quốc tế); (2) Trung tâm đô thị Bắc sông Hồng (Kinh tế, dịch vụ, hội nhập quốc tế); (3) Trung tâm đô thị phía Đông (Thương mại dịch vụ, hội nhập Quốc tế, y tế, du lịch, logistics, giáo dục đào tạo); (4) Trung tâm đô thị Olympic (Thể thao quốc gia, quốc tế); Trung tâm đô thị Phú Xuyên (Logistics, y tế, công nghiệp công nghệ cao, hội nhập quốc tế); Trung tâm đô thị Vân Đình - Đại Nghĩa (Di sản, văn hóa tâm linh, du lịch dịch vụ, sinh thái, làng nghề); Trung tâm đô thị Xuân Mai (Giáo dục đào tạo, sinh thái cảnh quan, du lịch dịch vụ); Trung tâm đô thị Hòa Lạc (Trung tâm Khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo, giáo dục đào tạo, y tế); Trung tâm đô thị Sơn Tây (Văn hóa, di sản, đào tạo, y tế, sinh thái cảnh quan).
Hà Nội cũng xác lập 9 trục không gian - hành lang kinh tế, đô thị gắn với các tuyến giao thông huyết mạch, như các trục Nhật Tân - Nội Bài/Bắc Thăng Long - Nội Bài; Trục Hồ Tây - Cổ Loa - Sân bay Gia Bình; Trục Quốc lộ 5/Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng; Trục Đại lộ Thăng Long/Hồ Tây - Ba Vì; Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng...
Chất lượng sống, mức độ hài lòng và hạnh phúc là thước đo phát triển Thủ đô
Một trong những định hướng xuyên suốt của Quy hoạch tổng thể là đặt chất lượng sống của người dân làm trung tâm, lấy mức độ hài lòng, hạnh phúc và chất lượng sống làm thước đo cho các quyết sách phát triển.
Trọng tâm được xác định là bảo đảm an ninh nguồn nước, môi trường không khí trong lành, phát triển nhà ở xã hội chất lượng cao, mở rộng không gian công cộng và văn hóa, qua đó bảo đảm người dân được thụ hưởng công bằng các thành quả phát triển.
Song hành với đó, Hà Nội định hướng phát triển xanh và bền vững, thông qua hệ thống hành lang xanh, vành đai xanh, cải thiện mạng lưới công viên, cây xanh đô thị, bảo tồn hệ thống sông, hồ, mặt nước, đồng thời phát triển mô hình không gian “làng trong phố - phố trong làng” nhằm giữ gìn bản sắc và cân bằng sinh thái đô thị.
Quy hoạch tổng thể đặt mục tiêu giải quyết căn cơ các bài toán tồn tại nhiều năm của Thủ đô, gồm: Tạo đột phá về kiến trúc - cảnh quan đô thị, nhà ở, di sản theo hướng chuyển từ tư duy “bảo tồn - cải tạo” sang “tái thiết giá trị”; xây dựng cấu trúc quy hoạch mới nhằm giải phóng nguồn lực đất đai, kiến tạo giá trị phát triển mới; đồng thời xử lý các điểm nghẽn hạ tầng.
Phạm vi tái cấu trúc đô thị được xác định từ Vành đai 3 trở vào, ưu tiên khu vực Vành đai 1 và Vành đai 2, gắn với bảo tồn và tôn tạo các khu vực, công trình có giá trị lịch sử - văn hóa - kiến trúc tiêu biểu như trung tâm chính trị - hành chính Ba Đình, hồ Gươm và phụ cận, khu phố cổ, phố cũ, hồ Tây và vùng phụ cận, trục cảnh quan hai bên sông Hồng.

Các đại biểu thông qua chương trình kỳ họp. (Ảnh: TTXVN)
Song song với tái cấu trúc không gian đô thị, thành phố đề xuất tái cấu trúc dân cư theo chủ trương giãn dân nội đô. Người dân thuộc diện giải tỏa, di dời sẽ được bố trí tái định cư linh hoạt, kết hợp tái định cư tại chỗ và di chuyển đến các khu đô thị mới tại các cực tăng trưởng như Đông Anh, Gia Lâm, Hòa Lạc. Các khu vực này được đầu tư đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, bảo đảm điều kiện sống tốt hơn nơi ở cũ.
Bên cạnh đó, Quy hoạch tổng thể cũng tập trung giải quyết các vấn đề bức thiết như ùn tắc giao thông, ngập úng đô thị, ô nhiễm môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, thông qua việc nghiên cứu, mở rộng và kết nối đồng bộ hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt liên vùng, cầu vượt sông, các trục hướng tâm và các tuyến vành đai, qua đó nâng cao hiệu quả tổ chức không gian và năng lực phát triển đô thị của Thủ đô.
Nghị quyết nêu rõ một số chỉ tiêu phát triển chủ yếu của Thủ đô trong dài hạn. Đến năm 2045, diện tích đất xây dựng đô thị chiếm khoảng 45 - 50% tổng diện tích đất tự nhiên; đến năm 2065 khoảng 55 - 60%. Các giai đoạn tiếp theo điều chỉnh theo yêu cầu thực tiễn, tối đa không quá 70% diện tích đất tự nhiên.
Về dân số, đến năm 2045 khoảng 15 - 16 triệu người; đến năm 2065 khoảng 17 - 19 triệu người. Các giai đoạn tiếp theo cơ bản bảo đảm quy mô dân số không vượt 20 triệu người, phù hợp tiêu chuẩn phát triển đô thị. Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2045 đạt trên 75%, đến năm 2065 đạt trên 90%.
Về kinh tế, giai đoạn 2026 - 2030, tốc độ tăng trưởng GRDP đạt trên 11%/năm, GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt trên 12.000 USD. Đến năm 2045, GRDP bình quân đầu người khoảng 45.000 USD, duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP trên 11%/năm. Đến năm 2065, GRDP bình quân đầu người khoảng 100.000 USD, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 5%/năm.
Về xã hội, đến năm 2030 cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia. Chỉ số HDI đến năm 2045 đạt khoảng 0,92, đến năm 2065 đạt 0,95. Tuổi thọ bình quân đến năm 2045 khoảng 80 tuổi. Thành phố phấn đấu đến năm 2030 cơ bản xử lý các điểm nghẽn lớn về môi trường, đồng thời tập trung giải quyết ngập úng, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường và trật tự đô thị./.