Phát biểu tại Hội thảo "Hệ sinh thái xanh cho công nghiệp hỗ trợ - Nền tảng thu hút FDI thế hệ mới" do Hiệp hội Công nghiệp Hỗ trợ Việt Nam (VASI) phối hợp với DTJ Industrial tổ chức, bà Trần Thị Thu Hiền, Thành viên Ban Hạ tầng VASI, Tổng Giám đốc DTJ Industrial khẳng định, thu hút FDI thế hệ mới không còn dừng lại ở tư duy cho thuê mặt bằng khu công nghiệp đơn thuần, mà đòi hỏi phải kiến tạo một hệ sinh thái công nghiệp xanh tổng thể, nơi thể chế quản lý, năng lượng, môi trường và dịch vụ logistics được kết nối đồng bộ để giữ chân các tập đoàn công nghệ toàn cầu.
Định nghĩa đúng về hạ tầng xanh và bài học từ 3 mô hình quốc tế
Để định hình một hướng đi thực tế cho Việt Nam, Tổng Giám đốc DTJ Industrial cho rằng cần phải nhìn nhận lại đúng bản chất của hạ tầng xanh, đồng thời học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình đã thành công trên thế giới. Theo bà Hiền, khái niệm khu công nghiệp xanh hay sinh thái lâu nay thường bị thu hẹp trong phạm vi cảnh quan đơn thuần như tỷ lệ cây xanh, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm hay năng lượng tái tạo cục bộ.

Bà Trần Thị Thu Hiền, Thành viên Ban Hạ tầng VASI, Tổng Giám đốc DTJ Industrial.
"Một hệ sinh thái xanh đạt chuẩn phải rộng lớn hơn nhiều, giải quyết triệt để các bài toán cốt lõi về quản trị năng lượng và nguồn nước tuần hoàn, sử dụng vật liệu tái chế, thiết lập cơ chế cộng sinh giữa các doanh nghiệp sản xuất và tích hợp kết nối dữ liệu để tối ưu hóa toàn bộ quy trình vận hành", bà Hiền nhận định.
Từ góc nhìn đó, đại diện Ban Hạ tầng VASI giới thiệu ba mô hình công nghiệp xanh điển hình trên thế giới làm bài học tham chiếu cho Việt Nam. Đầu tiên là mô hình cộng sinh công nghiệp tại Kalundborg, Đan Mạch, hình mẫu hàng đầu thế giới về việc hợp tác trao đổi tài nguyên đa chiều giữa các doanh nghiệp. Tại đây, khí thải và nhiệt dư từ nhà máy điện được dẫn về phục vụ sưởi ấm công nghiệp và nhà kính nông nghiệp, trong khi chất thải hữu cơ được xử lý qua hệ thống tuần hoàn khép kín, giúp cắt giảm 2,4 triệu tấn CO2 và tiết kiệm hàng trăm triệu Euro.
Thứ hai là mô hình hạ tầng dùng chung tập trung tại đảo Jurong, Singapore với quy mô 3.200ha chuyên phục vụ ngành năng lượng và chế xuất hóa dầu. Singapore đã thể hiện tư duy chủ động khi tập trung tiết kiệm nước, xây dựng hạ tầng dùng chung và đẩy mạnh ứng dụng hạ tầng số để quản trị vận hành trên quy mô lớn. Nhờ quy hoạch đồng bộ này, mô hình tại Jurong giúp các tập đoàn đa quốc gia tối ưu hóa chi phí vận hành, giảm nhẹ tác động môi trường và nâng cao hiệu quả liên ngành, trở thành điểm đến thu hút nguồn vốn quốc tế hàng đầu
Thứ ba là mô hình quản trị liên kết tại Ulsan, Hàn Quốc, vận hành dựa trên cấu trúc "3 nhà" gồm Chính quyền, Viện nghiên cứu và Doanh nghiệp. Mô hình này tạo thành một tam giác phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường thông qua chu trình khép kín từ đặt mục tiêu, nghiên cứu công nghệ, triển khai ứng dụng, thực thi cho đến cải tiến liên tục. Dựa trên sự hỗ trợ tài chính, hạ tầng từ chính quyền và năng lực chuyển giao công nghệ từ các viện nghiên cứu, Ulsan đã cắt giảm tới 40% lượng rác thải, tăng 30% hiệu quả sử dụng tài nguyên và kết nối mạng lưới sản xuất của hơn 200 doanh nghiệp.
Tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bà Hiền khẳng định bài học từ Đan Mạch là cơ chế cộng sinh dài hạn, Singapore là giải pháp hạ tầng dùng chung để tối ưu chi phí, còn Hàn Quốc là minh chứng cho hiệu quả của bộ máy quản trị liên kết liên ngành. Tuy nhiên, theo quan điểm của đại diện VASI, Việt Nam không nên sao chép nguyên bản bất kỳ mô hình nào từ bên ngoài, mà phải chủ động lựa chọn những yếu tố phù hợp nhất, bắt đầu từ chính lợi thế sẵn có của địa phương để triển khai từng bước vững chắc.
Hệ sinh thái hạ tầng xanh - Mô hình chiến lược cho dải công nghiệp miền Bắc
Trở lại thực tiễn Việt Nam, Tổng Giám đốc DTJ Industrial chỉ ra rằng, chủ trương của Đảng và Chính phủ đã thể hiện rất rõ nét qua Nghị quyết Trung ương 10 cũng như các chính sách thúc đẩy phát triển xanh cho ngành công nghiệp hỗ trợ. Các doanh nghiệp nội địa hiện nay đã trưởng thành hơn, nội lực nâng cao và năng lực đáp ứng sản xuất đang tăng trưởng mạnh mẽ, hứa hẹn sẽ có bước bứt phá phi mã trong vòng 10 năm tới.

Một khu công nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh.
Khu vực công nghiệp hỗ trợ Việt Nam không chỉ đơn thuần là đối tác hay thuê khu đất để sản xuất, mà phải đảm bảo được "tính sẵn có" của chuỗi giá trị thì mới có thể giữ chân dòng vốn FDI thế hệ mới. Việc chủ động đặt ra định hướng cho từng ngành cụ thể sẽ giúp hình thành guồng vận hành dịch vụ chuyên sâu, đón đầu và cộng sinh hiệu quả cùng các tập đoàn đa quốc gia".
"Với đặc thù hội tụ các ngành công nghệ cao, điện tử, cơ khí chế tạo chính xác và công nghệ lõi, khu vực miền Bắc cần một mô hình của chính mình nhằm phát huy lợi thế công nghiệp sẵn có, tận dụng hiệu quả làn sóng đầu tư mới để kiến tạo một hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ xanh, bền vững và có khả năng cạnh tranh toàn cầu", bà Hiền đánh giá.
Để hiện thực hóa hệ sinh thái này và đảm bảo không gian phát triển cho chuỗi giá trị, đại diện VASI đề xuất đưa dải hành lang kinh tế kết nối 5 tỉnh, thành phố gồm Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên và Ninh Bình vào quy hoạch phát triển không gian công nghiệp hỗ trợ xanh trọng điểm của miền Bắc.
Cụ thể hơn về hướng triển khai, VASI và DTJ Industrial giới thiệu mô hình "Hệ sinh thái Hạ tầng xanh" cho công nghiệp hỗ trợ miền Bắc, vận hành theo triết lý cốt lõi "Liên kết – Cộng sinh – Cùng phát triển", được kiến tạo bởi 5 yếu tố trụ cột xoay quanh lõi trung tâm.

Mô hình "Hệ sinh thái Hạ tầng xanh" được VASI và DTJ Industrial đề xuất. Đồ họa: DTJ Industrial
Trụ cột thứ nhất là Hạ tầng xanh, tập trung phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp thế hệ mới, ứng dụng năng lượng sạch và hạ tầng dùng chung; Trụ cột thứ hai là Công nghệ, thúc đẩy sản xuất sạch hơn, chuyển đổi số và áp dụng các giải pháp tuần hoàn; Trụ cột thứ ba là Chính sách, đòi hỏi hoàn thiện khung pháp lý, tạo cơ chế khuyến khích và cho phép thí điểm các mô hình mới;
Trụ cột thứ tư là Tài chính, chú trọng khai thông nguồn tín dụng xanh, quỹ đầu tư xanh và các ưu đãi tài chính cho doanh nghiệp SMEs; Trụ cột thứ năm là Doanh nghiệp, hướng tới thu hút FDI chất lượng cao, kết nối chặt chẽ với khối doanh nghiệp nội địa để hình thành chuỗi giá trị bền vững.
"Xây dựng hệ sinh thái hạ tầng xanh cần đi từng bước vững chắc và đầu tư dài hạn"
Chia sẻ về lộ trình hiện thực hóa mô hình hệ sinh thái hạ tầng xanh, bà Trần Thị Thu Hiền cho biết công tác nghiên cứu đã được Ban Hạ tầng VASI khởi động từ những năm trước. Trên cơ sở đó, VASI sẽ tiếp tục nghiên cứu, vận dụng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển vùng và ngành gắn liền với tiêu chí ESG để đưa ra các đề xuất phù hợp thực tiễn. "Mục tiêu là làm từng bước một, đầu tiên là xác định vững chắc nền tảng, sau đó cùng nhau liên kết để tạo ra một mạng lưới phát triển từng bước và xanh một cách bền vững", bà Hiền đề xuất.
Cụ thể hơn, theo Giám đốc DTJ Industrial, hệ sinh thái hạ tầng xanh được định hình qua lộ trình 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ năm 2025 đến năm 2026) tập trung hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành, đánh giá thực trạng và đề xuất khung chính sách; Giai đoạn 2 (2026 – 2028) đẩy mạnh kết nối cụm ngành, khuyến khích doanh nghiệp tham gia cộng sinh dùng chung hạ tầng và triển khai các dự án thí điểm; Giai đoạn 3 (từ năm 2028 trở đi) lan tỏa mô hình doanh nghiệp xanh có chứng nhận, mở rộng tiếp cận tài chính quốc tế và đóng góp vào mục tiêu Net-Zero 2050 của quốc gia.
"Hệ sinh thái này không phải ngày một ngày hai là hoàn thành. Nó đòi hỏi sự quan tâm, đầu tư về thời gian, tài chính và sự kiên nhẫn của chính các doanh nghiệp. Đối với các cơ quan chủ quản, chúng ta cần dành thời gian nghiên cứu và đề xuất những mô hình cụ thể. Về phía mình, VASI và DTJ Industrial sẽ chủ động xây dựng và trình Chính phủ các mô hình áp dụng thực tế cho khối ngành công nghiệp hỗ trợ", bà Hiền khẳng định.
Tổng Giám đốc DTJ Industrial cũng nhấn mạnh, một yếu tố khác không kém phần quan trọng là sự đồng hành mật thiết giữa Chính phủ, các cơ quan quản lý, doanh nghiệp FDI và khối doanh nghiệp nội địa. Đây chính là chiếc chìa khóa vàng để kích hoạt dòng vốn FDI thế hệ mới, đưa công nghiệp hỗ trợ Việt Nam bứt phá bền vững.