Reatimes.vn
CƠ QUAN NGÔN LUẬN CỦA HIỆP HỘI BĐS VIỆT NAM

Hội thảo: Phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam thời kỳ mới

Hội thảo: Phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam thời kỳ mới

Được sự chỉ đạo và bảo trợ của Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, chiều ngày 3/8, tại Hội An (Quảng Nam), Reatimes và VIRES tổ chức Hội thảo: Phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam thời kỳ mới.

 
Hội thảo kết thúc

 

TS. Nguyễn Văn Khôi - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội phát biểu kết luận Hội thảo  

Kính thưa toàn thể quý vị đại biểu!

Việt Nam là quốc gia có chiều dài bờ biển hơn 3.260km từ Móng Cái đến Hà Tiên, đi qua 28/63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Trong đó, đô thị biển tập trung dọc Vùng duyên hải Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, đóng vai trò cửa ngõ hướng biển của vùng kinh tế trọng điểm quốc gia, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội từng vùng và toàn quốc. Đây là điểm cơ bản của hệ thống biển Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

Qua ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, từ thực tiễn cũng như các Nghị quyết của Đảng về biển, về quy hoạch đô thị, chúng ta có thể xác định tóm tắt một số nội dung chính:

Thứ nhất, phát triển đô thị biển không chỉ hiểu là đô thị thông thường mà thực sự là cực đô thị tăng trưởng kinh tế (trên cả 3 mảng: Không gian biển, đảo, ven biển), nhưng phải phát triển đô thị kinh tế biển xanh – bền vững, không làm ảnh hưởng tới môi trường. Đây là tầm nhìn định hướng cho hiện tại và tương lai.
Thứ hai, chuỗi đô thị nghỉ dưỡng đã và đang hình thành song chỉ dừng lại chủ yếu là đô thị ven bờ biển. Có đô thị đã lấp đầy dự án xây dựng như Đà Nẵng, có đô thị hình thành một số dự án nhưng còn thiếu sự thống nhất và kết nối đồng bộ.

Do đó, để hình thành chuỗi đô thị bền vững, cần thiết thực hiện: Hoàn chỉnh tiếp tuyến đường ven biển dọc Trung bộ, kết nối các loại hình vận tải như BRT, đường sắt cao tốc…; Kết nối các dự án đầu tư, các đô thị để hoàn chỉnh, nhất là các đô thị ven tuyến đường biển; Cần nghiên cứu cơ chế, chính sách đồng bộ trên cơ sở tầm nhìn định hướng nêu trên, tạo sự phát triển kinh tế - xã hội cho chuỗi đô thị ven biển.

Thứ ba, quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị ven biển, ven sông phải xứng tầm theo hướng sinh thái và bền vững kinh tế - xã hội. Mở rộng các kỳ quan đô thị thành chuỗi, thích nghi biến đổi khí hậu. 

Đưa quy hoạch đô thị biển vào quy hoạch tổng thể quốc gia. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch gắn với quy hoạch tập thể đô thị ven biển, ven sông đảm bảo quỹ đất, bảo vệ cảnh quan. 

Có quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc và kiểm soát, quản lý kỳ quan kiến trúc cảnh quan. 

Thứ tư, các nhóm giải pháp phát triển đô thị biển bền vững:

Nhóm 1: Nhóm giải pháp về quy hoạch và kiến trúc đô thị ven biển. 

Nhóm 2: Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách và nguồn lực phát triển.

Nhóm 3: Nhóm giải pháp khớp nối quy hoạch giữa các đô thị, các dự án hiện tại.

Nhóm 4: Nhóm kết nối hạ tầng chung cho các khu đô thị và hạ tầng theo chiều dài ven biển.

Nhóm 5: Nhóm giải pháp phát triển kinh tế biển trong chuỗi đô thị biển bền vững để đóng góp khoảng 10% GDP cả nước.

Nhóm 6: Nhóm giải pháp quản lý đô thị biển bền vững: kinh tế - đô thị, đảm bảo về môi trường và an ninh quốc phòng. 

Thay mặt Ban chấp hành Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, tôi xin trân trọng cảm ơn các chuyên gia, nhà khoa học và toàn thể các đồng chí đã nhiệt huyết tham gia đóng góp trên các lĩnh vực về đề tài “Phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam thời kỳ mới”. Cảm ơn Viện Nghiên cứu Bất động sản Việt Nam và Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam đã tổ chức thành công Hội thảo.

Hiệp hội cùng các đơn vị sẽ tập hợp ý kiến của các đồng chí thành báo cáo thực trạng, khó khăn, những khuyến nghị về cơ chế, chính sách, về quy hoạch, về các giải pháp để báo cáo Chính phủ và các bộ, ban, ngành Trung ương liên quan.

Chúc toàn thể các quý vị đại biểu mạnh khoẻ, hạnh phúc và thành công!

KTS. Trần Ngọc Chính - Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam nêu quan điểm

Tôi cho rằng, quy hoạch phải đi trước một bước mới là kế hoạch phát triển dài hạn, bền vững. 

Chúng ta nói nhiều về biển, đô thị biển và đáng lẽ chúng ta phải làm giàu từ biển nhưng đến nay, chúng ta chưa thực sự khai thác được hết tiềm năng và giá trị của biển. 

Ở miền Trung, chúng ta có hệ thống đầm phá, đây là hệ thống đặc biệt ở Đông Nam Á như Cổ Cò, Trường Giang, Ô Loan, Bái Tử Long, Lan Hạ… nhưng việc khai thác hệ thống này đang rất chậm.

Chưa kể, có những vịnh rất đẹp, có đủ điều kiện về tự nhiên để khai thác phát triển du lịch nhưng người dân lại đi làm bè nuôi tôm, cá… Đây là điều rất lãng phí. Và như thế, không còn gì là sinh thái biển. 

Vì vậy, việc phát triển đô thị biển hiện nay cũng cần phải nghĩ đến hệ sinh thái đầm, phá. Cần có giải pháp để khai thác tốt những giá trị mà nó đem lại. Nếu phát triển như hiện tại, chúng ta có thể thu lợi được một chút nhưng trong tương lai sẽ mất đi tất cả.

Ông Bùi Văn Doanh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Bất động sản Việt Nam phát biểu

Không phải ngẫu nhiên trong Hội thảo hôm nay có 2 chuyên gia về quy hoạch. Tôi cho rằng trong vấn đề phát triển đô thị, quy hoạch là tiền đề đi trước một bước. Và với đô thị biển, vấn đề quy hoạch lại càng quan trọng hơn bao giờ hết.

Tuy nhiên, hiện nay khái niệm về đô thị biển còn chưa rõ ràng, vấn đề quy hoạch do đó lại càng khó khăn. Quy hoạch trên mặt đất sẽ phân biệt được đất dịch vụ, đất ở... nhưng ở trên biển sẽ như thế nào khi có không gian trên mặt biển, dưới đáy biển…

Tôi cũng đồng quan điểm với GS. Đặng Hùng Võ, biển Việt Nam có tiềm năng về năng lượng tái tạo như thuỷ triều, sóng thì cần tận dụng năng lượng này ra sao?

Với những vấn đề cụ thể trên, có thể nói quy hoạch đô thị biển sẽ cần bao quát và không dễ thực hiện. Mặt khác, khai thác tài nguyên biển cũng còn rất nhiều vấn đề cần quan tâm, nếu không có quy hoạch dự báo thì khó có thể bảo tồn và phát triển các tài nguyên biển.

Trong quy hoạch của đô thị biển, tôi cho rằng, vấn đề xử lý rác thải cũng cần được đặt lên hàng đầu. Nếu không, thế mạnh của đô thị biển là nước khi ấy sẽ bị triệt tiêu, động lực và ưu thế của biển cũng sẽ bị triệt tiêu.

Bà Nguyễn Thị Bích Thảo - Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư & Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Thừa Thiên - Huế phát biểu

Với nguồn lực hạn chế, các dự án ven biển trong quá trình kêu gọi nhà đầu tư, xác định nguyên tắc lựa chọn nhà đầu tư gặp không ít vướng mắc cần phải tháo gỡ. Liên quan đến việc sửa đổi Luật Đất đai, dự án thương mại dịch vụ cần phải xác định nguồn gốc đất đai, rồi mới xác định được việc doanh nghiệp có được làm dự án độc lập hay không.

Tuy nhiên, các dự án ven biển có nguồn gốc đất rất phức tạp, do đó tôi cũng có kiến nghị cần có sự điều chỉnh về khung pháp lý liên quan đến xác định nguồn gốc đất và lựa chọn nhà đầu tư cần có cơ chế rõ ràng hơn để mở đường cho các dự án ven biển. Nếu thay đổi được khung pháp lý, hoàn thiện các cơ chế thì sẽ tháo gỡ được những vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án để phát triển đúng như mong muốn.

Ngoài ra từ đầu Hội thảo đến giờ chúng ta đã nói nhiều về quy hoạch ven biển, mở ra cho tôi nhiều tư duy mới về định hướng không gian ven biển. Đặc biệt là trong phần của GS. Đặng Hùng Võ nói về xu hướng lấn biển, đô thị biển, Bộ Tài nguyên Môi trường cũng đã có quy định về hành lang an toàn ven biển nhưng chưa cụ thể, đây là điều bắt buộc phải thực hiện vì nó mang tính định hướng. Thế nhưng tư duy về biển cũng là một rào cản lớn trong vấn đề này.

Hay phần chia sẻ của PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi có nói đến tư duy quan trọng trong phát triển không gian biển, chúng ta khai thác tiềm năng không chỉ ở đất liền mà còn trên bầu trời, dưới đất và cả trên mặt biển nữa. Đây là thời điểm các địa phương đang lập quy hoạch tỉnh. Những tư duy về quy hoạch không gian biển theo tôi là cần thiết và nên mạnh dạn đưa vào quy hoạch tỉnh trong thời gian tới.

Ông Nguyễn Đức Lập, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Đào tạo Bất động sản chia sẻ quan điểm

Là một người Đà Nẵng, gắn bó với thị trường bất động sản Đà Nẵng đã lâu và am hiểu về sự phát triển của đô thị Đà Nẵng, tôi nhận thấy thị trường Đà Nẵng có nhiều vấn đề để các địa phương có thể tham khảo.

Thứ nhất, trong vấn đề phát triển đô thị, sau thời gian phát triển nóng, công tác bảo tồn văn hoá là vấn đề nổi cộm. Những gì thuộc về văn hoá, tồn tại hàng trăm năm mới có giá trị trường tồn. Trong quá trình phát triển đô thị biển cần lưu ý vấn đề về bảo tồn giá trị văn hoá. Nếu mất đi, phục dựng lại cũng không còn nhiều giá trị. Phát triển đô thị biển cần lưu ý gìn giữ văn hóa.

Thứ hai, đô thị biển tác động bởi các chỉ tiêu quy hoạch, cần xem xét lại để hạn chế diện tích sử dụng, giữ gìn không gian cảnh quan.

Thứ ba, các chỉ tiêu quy hoạch có thể xem xét lại. Với đô thị Đà Nẵng tầm nhìn chưa được 20 năm nhưng hạ tầng đã quá tải, bất cập. Nhiều dự án hạ tầng chỉ mới xây dựng được vài năm đã gặp vấn đề về thoát nước.

Thứ tư, chúng ta cần có giải pháp bảo vệ hành lang bờ biển, giải quyết xung đột để chia sẻ quyền lợi giữa các chủ thể khác nhau. Trong quá trình phát triển tới đây, chúng ta cần có cơ chế riêng để phát triển đô thị biển.

TS. Đặng Việt Dũng - Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng phát biểu

Tôi đánh giá cao Hội thảo ngày hôm nay, đã dũng cảm lựa chọn một chủ đề rộng, là vấn đề nóng hổi hiện nay cần được bàn bạc.

Trước hết, ta dùng từ “bền vững”, vì hiện nay ta đang phát triển không bền vững, những vấn đề liên quan đến phát triển không bền vững: mất cân bằng giữa bảo tồn và phát triển giữa các khu dân cư, trong đảm bảo quyền lợi, chia sẻ quyền lợi chung giữa các nhóm khác nhau; mất cân bằng trong khai thác quá mức nguồn lực. Chúng ta đang khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản, tài nguyên biển nhưng không tính đến hiệu quả lâu dài, dẫn đến thiếu bền vững.

Vậy nguyên nhân ở đâu? Cách khắc phục thế nào?

Chúng ta đang làm mà chưa có quy hoạch chung. Chúng ta đang thiếu quy hoạch phát triển đô thị biển, bao gồm phát triển ra ngoài đại dương, hiện chỉ có quy hoạch đất liền. Điều này dẫn đến hệ lụy, tất cả các đô thị biển của mình nhang nhác nhau, không có nét đặc trưng, không có sự liên kết lẫn nhau, đôi khi xung đột lợi ích.

Chưa có lời giải cho bài toán chung khiến không gian phát triển biển xung đột (chưa quy hoạch rõ chỗ nào phát triển du lịch, chỗ nào phát triển công nghiệp, dịch vụ…). Rõ ràng, công tác quy hoạch có vấn đề.

Giai đoạn này chúng ta đang làm đề án Quy hoạch Quốc gia nhưng không có chỗ nào nói về quy hoạch biển, đô thị biển. Đây cần là một trong những cấu phần chính của đề án mà chúng ta nên đề nghị.

Về Luật Bờ biển, tôi không hy vọng có sớm. Chúng ta có phân loại đô thị, nhưng mới có đô thị miền núi, đô thị hải đảo, chưa có lời nào về đô thị biển. Tôi đề nghị nên cụ thể hóa thành tiêu chí với đô thị biển, định nghĩa rõ ràng về đô thị biển để có quy hoạch, công cụ chức năng cụ thể.

TS. Võ Trí Thành điều phối Phiên thảo luận: GS. TS. Hoàng Văn Cường, Đại biểu Quốc hội, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân phát biểu

Trước tiên, tôi cho rằng đây là một hội thảo rất ý nghĩa, bởi đô thị biển là một phạm trù quan trọng nhưng lại chưa được định hình trong các văn bản cụ thể. Chúng ta đang thảo luận vấn đề này vào thời điểm rất quan trọng – thời điểm thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TW và thời điểm một loạt các luật như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh Bất động sản đang được tiến hành sửa đổi.

Chính vì vậy, tôi thực sự kỳ vọng, sau Hội thảo lần này, Hiệp hội Bất động sản Việt Nam sẽ tổng hợp lại các ý kiến về việc phát triển đô thị biển Việt Nam khi xây dựng và quy hoạch. Tới đây khi sửa luật, chúng ta sẽ có một lượng tài liệu, ý kiến chất lượng để có thể lồng vào và kiến nghị cho việc sửa đổi.

Cụ thể, tôi mong muốn Hội thảo sẽ giải quyết 3 vấn đề:

Vấn đề thứ nhất là không gian nào phù hợp cho việc phát triển đô thị biển? Chức năng đô thị biển là gì? Là du lịch, để ở, hay các hoạt động dịch vụ khác. Khi chúng ta quy hoạch các vùng có khả năng phát triển đô thị biển thì tiêu chí đặt ra ở đây sẽ cụ thể như thế nào?

Vấn đề thứ hai là liên quan đến đất đai. Những vùng, những không gian có tiềm năng phát triển đô thị biển thì việc quản lý đất đai như nào? Chế độ về đất đai ở khu vực này ra sao? Vấn đề kinh tế đất đai ở đây là gì? Rất cần quy định rõ ràng.

Vấn đề thứ ba là quản lý việc xây dựng, kiến trúc các đô thị biển. Các quy chuẩn về kiến trúc, quy chuẩn về xây dựng, diện tích cây xanh, không gian công cộng như thế nào cũng cần được làm rõ và cụ thể. Có như vậy, mới đảm bảo phát triển đô thị biển bền vững.

Theo tôi, chỉ cần đảm bảo tốt 3 vấn đề này, có lẽ cũng đã đủ để đảm bảo phát triển chuỗi đô thị biển Việt Nam hiệu quả.

GS. TSKH. Đặng Hùng Võ - nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường trình bày Tham luận: Phát triển thị trường bất động sản gắn với đô thị biển Việt Nam

Khai thác tiềm năng biển là ước ao từ xưa đến nay, chứ không phải hiện tại mới hình thành. Tuy nhiên, có 2 lý do mà ngày xưa người ta ngại không dám tiến ra biển. Thứ nhất là xâm lược, thứ hai là “tai biến” thiên nhiên. Trong đó, “tai biến” thiên nhiên xuất hiện từ đường biển nhiều hơn là từ đường biên giới.

Vì vậy, kinh tế biển, khả năng khai thác biển bị lắng, bị chìm xuống, chưa trở thành vấn đề được quan tâm tại tất cả các quốc gia có đường bờ biển. Từ xưa, chỉ có quốc gia mạnh về hải quân, sức mạnh xâm lược bằng đường biển, còn đa phần các nước trốn khỏi đường biển. Thực chất, các nước bảo vệ đường biển, chứ chưa tính đến chuyện khai thác tiềm năng biển.

Hiện nay, chúng ta đã kết thúc chiến tranh, đi đến bình đẳng giữa các nước, từ đó vấn đề biển bắt đầu được quan tâm và nổi lên. Hai vấn đề từ biển là nỗi sợ về xâm lược và “tai biến” thiên nhiên đã được khắc phục tốt hơn. Mặc dù “tai biến” thiên nhiên vẫn còn, ví dụ như sóng thần ở Phuket (Thái Lan) vẫn tạo ra hiểm họa lớn, nhưng khả năng chế ngự được “tai biến” thiên nhiên đã tạm ổn do con người vận dụng khoa học công nghệ tiên tiến.

Từ việc chỉ tập trung vào những vấn đề con người không khống chế được ở biển, hiện nay con người nhận ra khả năng lấy lợi ích từ biển nhiều hơn. Ngày xưa chỉ thấy ở biển là tiềm năng khai thác tài nguyên thiên nhiên, hiện nay là kinh tế mới về biển, kể cả đô thị ngầm về biển.

Tuy nhiên, có một số vấn đề chưa được nhắc đến là nguồn năng lượng tái tạo từ biển. Gần đây nhất, con người đã nghĩ tới nguồn năng lượng tái tạo từ biển mà cụ thể là từ sóng biển và thủy triều. Thực tế đã cho thấy một số nhà máy khai thác nguồn năng lượng tái tạo từ biển đã đi vào hoạt động khá hiệu quả. Từ đó, nhiều dự án lớn đã được tư duy, đề xuất, thực hiện ở nhiều nơi, có cả ở Việt Nam, tạo nên một xu hướng mới rất tích cực. Đây là điều Việt Nam cần quan tâm, vì có triển vọng khá lớn. Các nước như Anh, Scotland đang thực hiện khá thành công.

Ngoài chuyện du lịch biển, ngày nay khai thác tiềm năng về biển đa dạng hơn, đó là nông nghiệp biển. Nông nghiệp biển, ví dụ tảo biển từ xưa là sản phẩm giàu dinh dưỡng, nhưng chỉ là hái lượm. Nhưng hiện nay người ta đã nuôi trồng, kể đến như cá biển, chim biển, động vật bay trên biển.

Tại Việt Nam, thiên tai cũng là vấn đề lớn, chúng ta đang bàn với nhau về quy hoạch hình dạng đô thị, nhưng tôi cho rằng điều lớn nhất mà chúng ta phải nói đến là phát triển bền vững. Năm 2020, Việt Nam có 13 cơn bão, trong đó cơn bão từ số 6 - 13 đã gây thiệt hại hàng chục ngàn tỷ động, chưa kể thiệt hại không tính bằng tiền.

Bàn về phát triển bền vững, chúng ta cần quan tâm đến báo cáo Ngân hàng Thế giới về các biện pháp đảm bảo phát triển vùng biển. Báo cáo có 5 giải pháp:

Một là, chúng ta phải có số liệu đầy đủ về không gian vùng biển bằng ảnh vệ tinh.

Hai là, quy hoạch biển phải đẩy lên trước, vì chúng ta làm mọi việc mà không có quy hoạch thì không thấy đường mà đi.

Ba là, tăng cường sức chống chịu của hạ tầng và các dịch vụ công cộng ven biển; hạ tầng chống chịu được thiên tai ở mức độ thường hay gặp.

Thứ tư là, các quyết định phải dựa trên nguyên lý thuận thiên.

Năm là, nâng cao năng lực ứng phó, phục hồi.

Năm nguyên lý này cần phải được lưu tâm ngay trong quá trình chúng ta làm quy hoạch. Chúng ta phải thực hiện từ quy hoạch tổng thể đến chi tiết, để đảm bảo phát triển bền vững. Chúng ta có thể học người Nhật đề phòng các tai họa thiên nhiên từ biển đi vào, các khách sạn cần chống chịu được gió bão, nước lụt, sạt lở…

Chúng ta có thể bàn về quy hoạch tương lai, giải pháp, nhưng ở Việt Nam những khái niệm cơ bản nhất lại không được đưa vào bàn. Quy định về đường biển, đất liền cũng chưa có.

TS. KTS. Ngô Trung Hải - Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội các đô thị Việt Nam trình bày Tham luận: Phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam thời kỳ mới

Các đô thị biển có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế  - xã hội của đất nước. Các đô thị Việt Nam cơ bản gắn với nước, nhìn từ địa phương như Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam. Tuy nhiên, qua quá trình phát triển, các đô thị dường như đang quay mặt lại với mặt sông, mặt biển, nhiều nơi bị lấn chiếm, thậm chí trở thành nơi chứa rác thải, ô nhiễm.

Cách tiếp cận với đô thị sông nước, biển tại Việt Nam là phải cân bằng giữa nước và đất, tức là “âm - dương hài hoà” để không còn cảnh ngập lụt, suy giảm nước ngầm…

Theo nghiên cứu của chúng tôi, Việt Nam có khoảng trên 70 đô thị gắn được với chữ “sông” và “biển”, trong đó phía Bắc và Nam có thể nhận thấy rõ xu hướng này.

Ngày xưa, để tránh ngập lụt, một thành phố sẽ cần phải làm đê. Còn ngày nay, theo kinh nghiệm nước ngoài, điển hình ở Hà Lan, họ nghiên cứu xây dựng để đô thị có thể chứa được nước, từ đó nước có thể được lưu trữ phục vụ nhiều công trình. Đó là bài học cho cách làm quy hoạch thành phố ven sông Sài Gòn, sông Hồng…

Giải bài toán quy hoạch đô thị nước nói chung, đô thị biển nói riêng thích ứng với biến đổi khí hậu, tôi cho rằng có 3 chữ “đa”:

Thứ nhất, đa ngành: Tài chính, không gian, khu kinh tế ven biển.

Thứ hai, đa chiều: Một không gian nước không chỉ ở sông hồ mà còn là nước trên không, nước dưới ngầm.

Thứ ba, đa giai đoạn và tương tác với nhau. Suốt theo chiều dài lịch sử, sự phát triển của đô thị biển, nước sẽ theo từng giai đoạn lịch sử và có sự kế thừa, phát triển các yếu tố tích cực nhất.

Có 5 giải pháp cụ thể để xây dựng một đô thị nước trong bối cảnh nước đang bị hoang phí, thậm chí đe dọa đến sự phát triển của đô thị:

Thứ nhất, cân bằng được vấn đề đào lấp. Mỗi m2 đắp hay xây dựng bằng vật liệu cứng cần phải đi đôi với một m2 mở và có khả năng thấm nước.

Thứ hai, lưu trữ được nước tức là thiết lập không gian cho nước, dành chỗ cho nước như một chức năng thiết yếu trong đô thị.

Thứ ba, tăng hệ số thấm của nước trong đô thị bằng các công viên, không gian mở, tăng cường giao thông thuỷ, giảm diện tích giao thông đường bộ, sử dụng vật liệu thấm tại vỉa hè…

Thứ tư, sử dụng phương án đê mềm, đê đa chức năng không chỉ chống lũ lụt mà còn có thể thấm nước.

Thứ năm, quản lý nước tích hợp gồm lượng nước (ngập lụt, giữ nước mưa, thoát nước mặt, thuỷ lợi) và chất lượng nước (nước thải, làm sạch nước…).

PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi - Đại biểu Quốc hội, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam trình bày Tham luận: Đô thị biển: Tầm nhìn định hướng cho tương lai

Nước ta có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển với nhiều đô thị lớn nhỏ được hình thành và phát triển tập trung ở vùng ven biển từ khá lâu đời. Nhưng công bằng mà nói, về số lượng vẫn còn quá ít, về quy mô vẫn còn quá nhỏ và về chất lượng vẫn còn ở “đẳng cấp” thấp so với thế giới.

Vừa qua, có những địa phương có biển, như TP.HCM chẳng hạn, nhưng đô thị hóa lại chỉ hoàn toàn dựa vào đất (Land-based), chưa liên kết nhiều với biển và chưa dựa vào biển (Sea-based) theo đúng nghĩa của nó. Từng có khảo sát cho thấy 40% người dân TP.HCM chưa hề biết thành phố mình có biển. Nghĩa là tiềm năng biển chưa được khai thác tương xứng, kinh tế biển chưa đa dạng, chưa tạo được dấu ấn và yếu tố biển chưa đi vào tâm thức người dân và chưa trở thành thương hiệu lớn của thành phố.

Các đô thị biển nước ta, nói đúng hơn là các đô thị ven biển, vẫn được phát triển trên nền tảng của tư duy “đất liền”. Sự thiếu sót trong nhận thức đã làm mất đi giá trị cốt lõi của đô thị biển, đặc biệt giá trị kinh tế trên một “đơn vị đô thị”. Nhìn chung, giá trị “biển bạc” vẫn chưa được phát huy, trong khi các giá trị trước mắt của “đất vàng” ở ven biển và trên đảo vẫn hấp dẫn hơn với cả nhà hoạch định chính sách và nhà đầu tư.

Điều này cũng có nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ nhận thức. Đặc biệt, cư dân Việt Nam, đặc biệt là ở hai vùng đồng bằng lớn là sông Hồng và sông Cửu Long, từ xa xưa, đã duy trì sinh kế nông nghiệp chủ yếu dựa vào đồng đất phì nhiêu. Họ không quan tâm và không nhận ra lợi thế và tiềm năng của biển cả. Tâm thức “xa rừng, nhạt biển”, thiếu khát vọng chinh phục biển đã giới hạn chúng ta trong những “giấc mơ con” và vẫn đứng ở ven biển.

Để tiến ra biển bằng hệ thống đô thị biển để “mạnh về biển, giàu từ biển”, đầu tiên và quan trọng nhất là phải thay đổi về tư duy và nhận thức, phải hướng ra biển, dựa vào biển, lấy biển làm động lực phát triển, để làm giàu từ biển và xây dựng một Việt Nam mạnh về biển theo tinh thần của các chiến lược biển của Đảng và Nhà nước nói trên.

Tiến ra biển để phát huy lợi thế, để chuyển lợi thế thành lợi ích cho quốc gia phải là một hướng ưu tiên cao nhất thông qua việc tạo ra các “cực phát triển” mạnh hướng biển, góp phần tích tụ dân số đủ lớn trong không gian biển, ven biển và đảo để thực hiện “chủ quyền dân sự” của Việt Nam trên các vùng biển của Tổ quốc. Trong đó, xây dựng và phát triển hệ thống đô thị biển là một phương án định cư, một cách tích tụ dân số nhanh nhất và cũng dễ quy hoạch, quản lý nhất, cũng là góp phần giải bài toán quá tải đô thị trong tương lai. Đặc biệt, phát triển các đô thị biển để kết nối không gian biển với bờ, bờ với đảo và đảo với biển, đánh thức tiềm năng không gian kinh tế biển, tăng cường và mở rộng hội nhập kinh tế, cũng như hình thành các “đối trọng” trên biển cần thiết trong bối cảnh mới ở Biển Đông và khu vực như nói trên.

Để hệ thống đô thị biển nước ta phát triển xứng tầm, để triển khai Chiến lược biển 2030 và thực hiện “Khát vọng Việt Nam” có quá nhiều việc phải làm, trong đó cần phải tổ chức lại không gian kinh tế biển, bao gồm kinh tế ven biển, kinh tế đảo và kinh tế thuần biển, trong đó cần xác định không gian đô thị biển. Cụ thể, cần xem xét, cân nhắc và chú ý xử lý một số/ nhóm vấn đề dưới đây:

Thứ nhất, công nhận và sử dụng khôn khéo các giá trị của cảnh quan thiên nhiên và các hệ sinh thái biển, đảo như là nguồn “vốn phát triển” dài hạn; thiết kế và lựa chọn các mẫu hình kiến trúc đô thị xanh, thân thiện với tự nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, phù hợp văn hóa bản địa.

Thứ hai, xác định mô hình đô thị biển như là một “Hệ sinh thái đô thị biển” đa chiều, đa phương diện, đa dạng và đa dụng. Nó có đầy đủ chức năng và cấu trúc của một phức hệ sinh thái tự nhiên - nhân sinh, có các dòng vật chất tương tác bên trong và bên ngoài hệ thống. Mô hình đô thị ven biển, đô thị đảo hay đô thị trên biển vừa phải hiện đại, vừa dân tộc; bảo đảm an ninh, an toàn và an sinh và vừa có tính đặc thù vùng miền.

Thứ ba, cần sớm phát triển mô hình đô thị biển cấu trúc đa chiều, vì đô thị vốn là một thực thể mang tính nhân văn, hay nói cách khác cũng là một hệ sinh thái “nhân sinh”, được con người tạo ra từ chính các nguồn lực tự nhiên (tài sản và vốn tự nhiên).

Thứ tư, cần chú ý làm rõ chức năng trung tâm của hệ sinh thái đô thị biển. Một hệ sinh thái đô thị bao giờ cũng là thành phần của một hệ thống lớn hơn và đồng thời lại bao chứa một hoặc nhiều hệ thống nhỏ hơn.

Thứ năm, cần lưu ý, mỗi hệ thống (tự nhiên và nhân sinh) đều có 3 thuộc tính (đặc trưng) vốn có: Tính vượt trội, tính đa dụng và tính liên kết (liên kết nội tại và liên kết vùng).

KTS. Ngô Viết Nam Sơn - Chủ tịch NgoViet Architects & Planners trình bày Tham luận về vần đề chiến lược và quy hoạch đô thị biển

Tôi xin được chia sẻ cụ thể câu chuyện phát triển đô thị biển Khánh Hoà, để từ đó có những cách nhìn khái quát về đô thị biển Việt Nam. Bởi Khánh Hòa có sự tương đồng và mang nhiều đặc điểm của các đô thị biển trên khắp cả nước. 

Chúng ta thấy rằng, Khánh Hoà có vị thế đặc biệt với 3 vịnh gồm vịnh Cam Ranh, Vân Phong, Nha Trang và 1 đầm. Vì vậy, Khánh Hoà đang sở hữu rất nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển một đô thị ven biển.

Tôi xin tóm gọn lại 9 vấn đề cần phải thực hiện khi phát triển đô thị biển tại tỉnh Khánh Hòa nói riêng, đô thị biển Việt Nam nói chung.

Thứ nhất, cần nâng cấp đô thị biển theo hướng bền vững. Tại Khánh Hoà, phát triển du lịch về mặt môi trường đang có phần xung đột với phát triển cảng biển, công nghiệp. Nên chúng tôi đề xuất ở Khánh Hoà cần tách biệt hai vấn đề phát triển này.

Thứ hai, cần tạo lập khung quản lý về điều chỉnh quy hoạch. Không riêng Khánh Hoà mà hầu hết các tỉnh ở Việt Nam đều có xu hướng, tỉnh nào lo tỉnh ấy, các Sở Quy hoạch cấp tỉnh đang hoạt động rời rạc. Vì vậy, có sự chồng chéo, thiếu liên kết giữa các địa phương trong việc phát triển đô thị biển. Từ đó khó hình thành chuỗi đô thị biển Việt Nam như mong muốn. Do đó, ngay từ giai đoạn đầu, các sở, ngành cần ngồi lại với nhau để nhìn nhận những thực trạng, những thuận lợi, khó khăn để có hệ thống giải pháp, lộ trình phát triển đô thị biển phù hợp và mang tính gắn kết.

Thứ ba, khai thác các bản sắc đặc thù cho các đô thị biển. Khai thác thế mạnh của từng khu vực, vùng miền để phát huy những giá trị bản sắc đó. Thậm chí, cần biết kết hợp cả biển, đồi, núi khi phát triển đô thị. Ví dụ ở Khánh Hòa có con Sông Cái. Chúng ta có thể kết hợp việc phát triển đô thị tại khu vực này nhưng hướng ra biển. Điều này vừa khai thác được giá trị của sông, vừa khai thác được hướng biển mang lại.

Thứ tư, phát triển đô thị biển trên thế mạnh về tài nguyên, xã hội trong tương quan liên kết vùng. Khi nói đến đô thị biển, chúng ta có xu hướng chú trọng vào biển mà xem nhẹ đồi, núi. Tuy nhiên, khi nói đến phát triển bền vững, cần kết hợp phát triển đô thị biển với các khu vực khác, cả sông, núi. Phải phát triển theo hướng từ Bắc đến Nam, từ Đông sang Tây, theo cả chiều dọc và chiều ngang. Bởi, ở khu vực đồi, núi khi phát triển các khu đô thị sinh thái có vai trò bổ trợ rất lớn cho đô thị biển. Tất nhiên để có sự liên kết này đòi hỏi hạ tầng giao thông phải được chú trọng, phải đồng bộ và có tính kết nối.

Thứ năm, cần tạo điều kiện để khai thác thế mạnh của các khu vực trọng điểm, như Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh ở Khánh Hòa. Mỗi khu vực sẽ có những định hướng và trọng tâm khác nhau để đem đến hiệu quả về kinh tế - xã hội.  

Thứ sáu, cần tạo một khung quy định về việc phát triển đô thị biển hài hoà, bền vững. Chúng tôi đề xuất giữ lại những khu đô thị đã có bản sắc và nên định hình những khu đô thị mới.

Thứ bảy, định hướng thu hút đầu tư ngay từ giai đoạn đầu. Khánh Hoà là một trong số những tỉnh có khả năng thực hiện vấn đề này. Khi Thủ tướng đến thăm Khánh Hòa, những tập đoàn lớn đều có mặt để bàn về việc triển khai dự án. Dù chưa được phê duyệt, nhiều doanh nghiệp đã có bản quy hoạch chi tiết. Điều này chứng tỏ, Khánh Hoà đang rất quan tâm vấn đề thu hút nguồn lực đầu tư.

Thứ tám, cần xây dựng nền tảng phát triển kinh tế số cho đô thị thông minh. Khi xuất hiện Covid-19, đô thị biển chính là nơi lý tưởng để người dân bảo đảm an toàn về sức khỏe. Tất nhiên, nếu có đầy đủ về nền tảng số, những khu đô thị biển sẽ trở nên hoàn thiện hơn. Như vậy, khi Khánh Hoà có nền kinh tế số hoàn chỉnh thì sẽ thu hút được rất đông đảo du khách và nhà đầu tư.

Thứ chín, phải đảm bảo được an cư lạc nghiệp cho nhân dân. Trong công tác quy hoạch, phải quy hoạch ngay từ đầu công tác định cư cho người dân như thế nào? Không chỉ phát triển không gian ở mà còn cần phát triển công ăn việc làm cho người dân.

TS. Cấn Văn Lực - Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia trình bày Tham luận: Xây dựng trung tâm kinh tế - tài chính đô thị biển

Tổng quan về trung tâm tài chính, theo IMF (2009), có 3 loại trung tâm tài chính:

Thứ nhất, trung tâm tài chính quốc tế. Đây là nơi tập trung trụ sở các định chế tài chính và cung cấp các dịch vụ tại những nơi có thị trường nội địa lớn.

Thứ hai, trung tâm tài chính khu vực. Đây là nơi nằm ở những thị trường nhỏ hơn.

Thứ ba, là trung tâm tài chính hải ngoại, có quy mô nhỏ, tập trung vào một số sản phẩm đặc thù, chủ yếu là phục vụ khách hàng “không cư trú”.

Để trở thành trung tâm tài chính, cần đáp ứng 10 điều kiện cơ bản:

Một là, vị thế địa lý, kinh tế, chính trị của quốc gia. Vị thế trung tâm, ngọn cờ đầu trong các tổ chức chính trị, kinh tế thế giới. Nền kinh tế chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong nền kinh tế khu vực và thế giới; có vị trí địa lý trung tâm trong khu vực (như Singapore ở ASEAN, UAE ở Trung Đông). Múi giờ phù hợp. Điển hình như Singapore, TP.HCM, Đà Nẵng có múi giờ phù hợp để kết nối 2 thị trường tài chính lớn là Mỹ và châu Âu, tạo thành một thị trường toàn cầu hoạt động 24 giờ.

Hai là, môi trường kinh doanh: Chính sách điều tiết của Nhà nước cởi mở, khuyến khích thị trường tự do; chính sách tiền tệ, sức mạnh đồng tiền nội tệ, cơ chế tỷ giá phù hợp với cơ chế thị trường; chính sách thuế cạnh tranh; tình trạng tham nhũng thấp, xã hội minh bạch; tình hình chính trị, xã hội ổn định; hòa bình và ổn định trong khu vực lân cận.

Ba là, danh tiếng. Những thành phố/quốc gia đã xây dựng được danh tiếng về quy mô thị trường, môi trường luật pháp, tính minh bạch… sẽ dễ dàng thu hút nhà đầu tư và các định chế tài chính để phát triển trung tâm tài chính.

Bốn là, tự do chuyển đổi đồng nội tệ. Đồng nội tệ có khả năng chuyển đổi tự do ở trong và ngoài nước để đáp ứng nhu cầu thương mại, tài chính, đầu tư… của doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Năm là, tự do hóa tài khoản vốn: Gồm cán cân thương mại và tài khoản vốn (tài khoản vốn gồm các hoạt động về chuyển giao, chuyển vốn, đầu tư gián tiếp...); tự do hóa tài khoản vốn là mọi giao dịch đầu tư, chuyển vốn qua biên giới đều sẽ không bị kiểm soát và hạn chế, điều này sẽ thu hút được nhiều định chế tài chính cũng như nhà đầu tư nước ngoài đến giao dịch, đầu tư.

Sáu là, môi trường pháp lý: Rõ ràng, minh bạch và dễ dự đoán; công bằng trong với đối xử với các doanh nghiệp, định chế tài chính cũng như cá nhân trong và ngoài nước; hỗ trợ sự đổi mới, sáng tạo; chi phí tuân thủ hợp lý.

Bảy là, sản phẩm, dịch vụ tài chính đảm bảo độ tin cậy và đa dạng. Dịch vụ tài chính phải có sự đảm bảo tuyệt đối (rất cao) về độ tin cậy, tính bảo mật và cơ hội; đồng thời có nhiều sản phẩm - dịch vụ tài chính khác nhau, độ phức tạp, tinh vi khác nhau.

Tám là, nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực phải có năng lực nghiệp vụ để có thể xử lý các giao dịch, dự án và nghiệp vụ phức tạp; có kiến thức, kinh nghiệm chuyên sâu và lâu năm cho từng mảng dịch vụ cụ thể, đặc thù; có khả năng giao tiếp ngoại ngữ như tiếng Anh tốt; chính sách nhập cư cởi mở, sẵn sàng đón tiếp nhân lực chất lượng cao từ nước ngoài.

Chín là, cơ sở hạ tầng của nước chủ nhà và thành phố. Có hạ tầng để tiếp nhận lưu lượng lớn nhân sự, như văn phòng, bệnh viện, trường học, khu vui chơi…; có hạ tầng viễn thông, điện nước, hệ thống chống thảm họa thiên tai đảm bảo; giao thông tới trung tâm tài chính (sân bay, cảng biển quốc tế...) và trong nội bộ (phương tiện công cộng, đường sá...); trường đại học, cao đẳng, dạy nghề đạt tiêu chuẩn quốc tế/khu vực để cung cấp nhân sự chất lượng cao; đảm bảo về an ninh, trật tự.

Mười là, nền tảng công nghệ thông tin, viễn thông. Có nền tảng về công nghệ thông tin để cung cấp những dịch vụ tài chính dựa trên nền tảng công nghệ (kho dữ liệu, cơ chế chia sẻ thông tin giữa ngân hàng thương mại, Fintech và tổ chức khác…); hệ thống công nghệ thông tin đảm bảo tốc độ, chính xác, bảo mật… để có thể xử lý giao dịch một cách nhanh và an toàn nhất.

Đối chiếu với 10 điều kiện, Việt Nam cực kỳ khó cạnh tranh với các ông lớn như New York, London, Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore…

Việt Nam có lợi thế kinh tế phát triển tương đối nhanh; thị trường nội địa lớn, có nhiều tiềm năng, trong đó ngành tài chính – ngân hàng còn nhiều dư địa để phát triển; fintech phát triển nhanh. Nguồn nhân lực của Việt Nam cũng dồi dào do dân số trẻ, năng động, có khả năng thích nghi với công nghệ nhanh chóng. Môi trường kinh doanh có nhiều cải thiện; tình hình chính trị, xã hội ổn định.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Đó là quy mô thị trường tài chính Việt Nam còn nhỏ so với khu vực. Số lượng định chế tài chính tại thị trường Việt Nam nói chung còn ít so với các nước trong khu vực. Đồng tiền nội tệ của Việt Nam chưa được chuyển đổi tự do: VNĐ không được chuyển đổi ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, việc mua ngoại tệ trong nước cũng kiểm soát khá chặt chẽ (SGD được chuyển đổi tự do hoàn toàn). Tài khoản vốn chưa được tự do hóa hoàn toàn. Môi trường kinh doanh thuận lợi chỉ ở mức trung bình - khá, phải cạnh tranh với những môi trường tốt hơn trong khu vực như Singapore, Malaysia, Thái Lan…

Bên cạnh đó, môi trường pháp lý, điều tiết còn phức tạp, chưa đồng bộ, chưa nhất quán và quy trình, thủ tục còn phiền hà, phức tạp. Nước ta còn nhiều rào cản với nhà đầu tư ngoại quốc (lĩnh vực, hạn mức…). Cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập (hệ thống giao thông, y tế, giao thông công cộng chưa đảm bảo chất lượng…).

Nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam còn thiếu, năng suất lao động chưa cao; chưa có nhiều các trường đại học, cao đẳng được thế giới công nhận về chất lượng. Hạ tầng tài chính (tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế, xếp hạng tín nhiệm, cơ sở dữ liệu, nền tảng an ninh mạng…) chưa phát triển.

Hiện nay, xu hướng mạnh mẽ trong dịch vụ tài chính là chuyển đổi số, fintech, tiền kỹ thuật số... Một số trung tâm Fintech lớn đang hình thành như “Silicon Valley” tại New York, “Silicon Roundabout” ở London, Fintech Hive của Dubai; Smart City Blueprint của Hồng Kông (Trung Quốc); chiến lược trung tâm tài chính thông minh của Singapore…

Do vậy, định hướng trở thành trung tâm Fintech sẽ phù hợp hơn với điều kiện hiện tại của Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng. Trong đó, trung tâm Fintech khu vực (có gắn với đổi mới, sáng tạo, du lịch - nghỉ dưỡng) là hướng đi phù hợp hơn với Đà Nẵng.

PGS. TS. Trần Đình Thiên, Thành viên Tổ tư vấn Kinh tế của Thủ tướng, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam trình bày Tham luận: Phát triển kinh tế đô thị biển và hạ tầng đô thị biển Việt Nam

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, tư duy phát triển kinh tế biển của Việt Nam có nhiều vấn đề. 

Ở Trung Quốc, có những toạ độ biển rất quan trọng, chọn những đặc khu ven biển để phát triển đột phá. Đó là cách nhìn rất đặc biệt. 

Đầu tiên phải giáp biển, tiếp đó là chiến lược khai thác các con sông rồi hướng về phía Tây. 

Khi phát triển các khu kinh tế biển, các đô thị biển, phải có hậu phương để mở ra thế giới. Hậu phương đó là công nghiệp, du lịch, dịch vụ.

Tiếp đó là hạ tầng kết nối phải tốt, đặc biệt là cao tốc đường bộ, đường sắt và cảng hàng không. Để đảm bảo được, đó là trung tâm hội tụ nguồn lực lan toả. 

Hai là, đảm bảo đô thị thị biển không tạo ra xung đột phát triển.

Việt Nam thì ra sao?

Tầm nhìn đô thị biển có nhiều vấn đề. Về mặt lịch sử, chúng ta mới bắt đầu có tư duy hướng biển. 

Các thương cảng như Hội An, Vân Đồn xưa chưa phải là toạ độ chiến lược, chưa trở thành động lực lôi kéo sự phát triển. Trong quá khứ, tư duy hướng biển chưa rõ ràng. 

Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, tư duy đang dần thay đổi, nhưng vẫn còn một số vấn đề: 

Một là, khoảng 20 khu kinh tế ven biển đang phát triển nhưng chưa thể trở thành nền tảng phát triển đô thị biển chiến lược.

Cách tư duy phát triển khu kinh tế ven biển chưa được ưu tiên xứng tầm; trong khi đó, chính sách ưu tiên phát triển các khu kinh tế cửa khẩu chưa thực sự phát huy hiệu quả. Do đó, cần phải nhìn lại và đánh giá các khu kinh tế ven biển gắn với đô thị biển một cách rõ ràng hơn. 

Hai là, thiếu nguồn lực để phát triển.

Ba là, thiếu cơ chế đặc thù. 

Bốn là, còn những xung đột lớn trong cách thức phát triển đô thị biển. Cách thức phát triển của tỉnh xung đột với vùng hay quốc gia đang tồn tại. 

Về giải pháp,

Một là, phải có tầm nhìn và cách tiếp cận mới về đô thị biển, phải thể hiện trong quy hoạch quốc gia. Chức năng của đô thị biển phải được định hình rõ và đảm bảo không xảy ra xung đột. 

Hai là, đây phải là toạ độ hội nhập quốc gia, mở cửa và trở thành trung tâm cạnh tranh quốc tế.

Ba là, tích hợp chức năng của đô thị trên tinh thần hiện đại hoá: Là đô thị cảng biển (hàng hoá hoặc du lịch); trung tâm công nghiệp thông minh; tổ hợp logictis kiểu mới. 

Bốn là, tư duy, cơ chế trao quyền phải gắn với chức năng đặc thù cho các đô thị biển để tăng tính chủ động, sáng tạo. 

Năm là, động lực phát triển phải dựa vào các doanh nghiệp tư nhân.

 

KTS. Trần Ngọc Chính - Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng trình bày Tham luận: Phát triển đô thị ven biển xanh và bền vững - Giải pháp từ quy hoạch

Cần hiểu rằng, đô thị biển đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ mới, tức là sẽ gắn với công nghệ, sẽ có sự kết nối giao thoa nhiều với thế giới.

Việt Nam được quốc tế công nhận là quốc gia biển đảo nhưng cũng chịu tác động của biến đổi khí hậu khá lớn, do đó hy vọng Hội thảo ngày hôm nay sẽ tìm ra được những giải pháp, cách giải quyết cần có đối với các vấn đề liên quan đến biển, đảo.

Việt Nam là quốc gia biển với chỉ số biển khoảng 0,01 (gấp 6 lần giá trị trung bình của thế giới), với 3.260km đường bờ biển, trên 1 triệu km2 vùng lãnh hải thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán; với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và trên 3.000 đảo, quần đảo khác. Biển và hải đảo của Việt Nam chứa đựng nhiều tiềm năng tự nhiên, tài nguyên phong phú và đa dạng với trữ lượng, quy mô thuộc loại khá cho phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng của đất nước như: Giao thông và vận tải biển; khai thác và chế biến khoáng sản; khai thác, nuôi và chế biến hải sản, du lịch biển...

Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định, phát triển bền vững kinh tế biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái.

Hiện nay, Việt Nam có trên 50% dân số sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển và khoảng 50% các đô thị lớn của Việt Nam tập trung ở khu vực ven biển và trên đảo. Các đô thị biển của Việt Nam chỉ mới phát triển tập trung ở dải ven biển như TP. Hạ Long, Hải Phòng, Sầm Sơn, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu....

Với diện tích bờ biển dài từ Móng Cái đến Hà Tiên với hàng nghìn đảo và hệ sinh thái đa dạng, riêng với đô thị biển, chúng ta chỉ mới đang có 10 đô thị biển. Trong đó, TP. Đà Nẵng là một trong những thành phố biển gần như điển hình tốt nhất tại Việt Nam có sân bay, có cảng, có đường sắt và đường bộ.

Chúng ta đã bám biển và hình thành được rất nhiều đô thị biển có kết quả tốt về tốc độ phát triển chung kinh tế - xã hội. Điển hình như đô thị biển Quảng Ninh, đô thị biển Hải Phòng.

Mặt khác, đã nói đến đô thị thì phải nói đến công nghiệp, không có công nghiệp thì không có đô thị. Đô thị biển cũng phải có công nghiệp, có việc làm thì mới có điều kiện để phát triển bền vững thị trường bất động sản.

Tương lai chúng tôi hy vọng có sự kết nối giữa các khu vực biển miền Trung để hình thành một chuỗi đô thị biển gắn với phát triển kinh tế công nghiệp, gắn với các cảng biển.

Nói đến đô thị biển Việt Nam, các quốc qua trên thế giới rất mơ ước, ghen tỵ vì họ không có nhiều tiềm năng như nước ta với các cảng biển, bãi tắm đẹp, cảng nước sâu… Tuy nhiên, cũng có những bất cập như sau:

Thứ nhất, chưa có tổng thể quy hoạch mạng lưới đô thị biển một cách bài bản.

Thứ hai, các bãi biển rất đẹp nhưng việc xây dựng đã gần như chiếm hết diện tích để xây dựng và chia lô khiến người dân gần như mất hết các bãi tắm. Điều đó cho thấy quy định, giám sát về xây dựng biển chưa thực sự sát sao. Bên cạnh đó, quỹ đất cho phát triển không gian công cộng và hạ tầng đô thị bị hạn chế, làm giảm khả năng thoát nước tự nhiên, gây úng ngập cho đô thị trong trường hợp xảy ra mưa với cường độ lớn và làm gia tăng nguy cơ xói lở đường bờ biển dưới tác động của biến đổi khí hậu.

Thứ ba, với xu hướng phát triển như hiện nay, các thành phố và thị trấn ven biển đang phải đối mặt với những thách thức về phát triển cân bằng khi mà môi trường tự nhiên ven biển, rừng ngập mặn ven biển, những cánh rừng phòng hộ quan trọng bị hủy hoại dưới tác động của các hoạt động kinh tế và đô thị hóa. Ngoài ra, những biến động về điều kiện tự nhiên và môi trường... cũng đang là những thách thức lớn mà các đô thị ven biển phải đối mặt.

Để tăng cường công tác quản lý về quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tôi cho rằng cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, các loại đất ven biển đều phải thực hiện theo quy hoạch và tất cả các chính sách của Nhà nước liên quan cũng phải được xem xét đưa vào quy hoạch. Quy hoạch phải bảo đảm lợi ích hài hòa của người dân tại khu vực đó, cũng như lợi ích của nhà đầu tư và Nhà nước.

Thứ hai, cần thiết phải có sự điều chỉnh các văn bản pháp luật, bổ sung các quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng, đáp ứng yêu cầu phát triển của khu vực ven biển.

Thứ ba, cần phân loại dự án ưu tiên đầu tư xây dựng và có giải pháp cụ thể đối với từng nhóm dự án nhằm đảm bảo việc đầu tư xây dựng có hiệu quả, tránh lãng phí đất đai, bảo vệ môi trường và ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, quản lý các dự án, bảo vệ tài nguyên và môi trường đất đai ven biển; thực hiện nghiêm quy định pháp luật về xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường; xây dựng kịch bản nước biển dâng để kịp thời điều chỉnh quy hoạch, kết cấu hạ tầng xây dựng nếu cần thiết.

TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh điều phối Hội thảo

Nói đến kinh tế biển, đô thị biển, có 4 vấn đề tôi cho rằng cần nhấn mạnh trong Hội thảo ngày hôm nay:

Thứ nhất, xu hướng phát triển đô thị biển bền vững, xanh, thích ứng biến đổi khí hậu.

Thứ hai, trong 20 năm tới Việt Nam có sức bật đô thị hoá mạnh mẽ, trong đó miền Trung sẽ gia tăng tốc độ đô thị hoá.

Thứ ba, đô thị biển nằm trong chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam. Tất cả các địa phương của Việt Nam đang tích cực làm quy hoạch, trong đó đô thị biển rất được chú trọng.

Thứ tư, tiềm năng phát triển đô thị biển và làm thế nào để kích hoạt các tiềm năng.

Đầu tiên, xin mời chia sẻ của KTS. Trần Ngọc Chính - Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng trình bày tham luận.

Nhà báo Phạm Nguyễn Toan - Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Tổng Biên tập Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam phát biểu đề dẫn Hội thảo

Kính thưa đồng chí Hồ Quang Bửu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam

Kính thưa TS. Nguyễn Văn Khôi, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội

Kính thưa các quý vị đại biểu, khách quý! Kính thưa quý chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo!

Trước tiên, thay mặt cho Ban Tổ chức, tôi xin gửi tới quý vị đại biểu, quý chuyên gia, các nhà khoa học, nhà báo lời chào trân trọng và lời chúc sức khỏe tốt đẹp nhất!

Thưa Quý vị,

Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2030, kinh tế thuần biển đóng góp khoảng 10% GDP cả nước; kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển chiếm 65 - 70% GDP cả nước; thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh, thành phố ven biển gấp từ 1,2 lần bình quân cả nước… Đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước. Như vậy, kinh tế biển là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để thực hiện “Khát vọng Việt Nam” đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước hùng cường, thịnh vượng, hòa bình và hạnh phúc.

Phát triển kinh tế biểnphát triển đô thị cũng là hai nội dung quan trọng được đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 của Đảng. Theo đó, cần khẩn trương xây dựng quy hoạch không gian biển quốc gia. Ưu tiên phát triển các ngành kinh tế biển, nhất là du lịch, dịch vụ biển, kinh tế hàng hải, khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác, nuôi trồng và khai thác hải sản xa bờ, công nghiệp ven biển, năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái ven biển gắn với hình thành phát triển đô thị và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh.

Ngày 24/01/2022, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về "Quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045", tạo động lực phát triển đô thị, thúc đẩy phát triển KT-XH nhanh, bền vững. Nghị quyết khẳng định mục tiêu và nhiệm vụ tiếp tục phát triển các chuỗi đô thị biển gắn với thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển.

Với bờ biển trải dài hơn 3.260km từ Bắc vào Nam, Việt Nam có lợi thế và tiềm năng to lớn để phát triển các đô thị biển đảo đặc sắc, là trụ cột và động lực để phát triển kinh tế biển. Miền Bắc đã hình thành các đô thị du lịch biển như Hạ Long (gắn với vùng di sản thiên nhiên thế giới), Vân Đồn, Cát Bà, Đồ Sơn, Sầm Sơn. Tại khu vực miền Trung (Thừa Thiên – Huế - Đà Nẵng – Quảng Nam…), đô thị sông, biển có các đặc trưng riêng mang nhiều màu sắc và tiềm năng phát triển. Đặc biệt, khi phát triển tại các vùng di sản như: Cố đô Huế gắn liền với dòng Hương Giang; phố cổ Hội An gắn với sông Hoài và cửa Đại; Đà Nẵng gắn với sông Hàn… mô hình đô thị sông - biển có thêm thế mạnh để phát triển du lịch, bất động sản nghỉ dưỡng và nhiều hạ tầng xã hội khác. Tại miền Nam, đang hình thành các đô thị đảo tiểu biểu như Phú Quốc hay đô thị hướng biển như Cần Giờ, Vũng Tàu… với nhiều tiềm năng và khát vọng phát triển…

Tuy nhiên, nhìn tổng thể, đến nay, Việt Nam vẫn đang vắng bóng những đô thị biển đúng nghĩa, có thể phát huy, khai thác tối đa những giá trị, lợi thế mà sông nước, biển cả mang lại. Thay vào đó, đô thị hướng biển ở nước ta đang đối mặt với rất nhiều thách thức cản trở quá trình phát triển bền vững, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu gia tăng. Tất cả đang đòi hỏi cần những nghiên cứu nghiêm túc tầm quốc gia và quốc tế để có những tầm nhìn chiến lược và chính sách phát triển phù hợp. Vấn đề then chốt là xác lập tầm nhìn và quy hoạch, định vị không gian đô thị sông biển để phát triển tương xứng với tiềm lực tăng trưởng kinh tế và giá trị độc tôn của từng đô thị, vừa bảo tồn, phát huy các giá trị di sản – thiên nhiên và tăng tính kết nối giữa các địa phương, thu hút các nguồn lực của doanh nghiệp để kiến tạo nên những công trình đẳng cấp, giàu giá trị văn hóa, khơi dậy tiềm năng phát triển du lịch và phát triển kinh tế xanh trong thời kỳ mới.

Đặc biệt, việc khai thác tiềm năng, giá trị của thị trường bất động sản tại các đô thị biển đang được các doanh nghiệp quan tâm, nhất là những xu hướng đầu tư bất động sản du lịch, nghỉ dưỡng, hạ tầng, khu công nghiệp ven biển hay đô thị nhà ở ven biển. Tuy nhiên, cơ chế, chính sách thu hút đầu tư; pháp lý đất đai và chuyển đổi mục đích sử dụng đất; việc kết nối vùng và ứng dụng công nghệ… đang có nhiều trở ngại đối với doanh nghiệp tham gia thị trường bất động sản tại các đô thị biển. Đô thị biển và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào thị trường bất động sản tại đô thị biển là ưu tiên của nhiều địa phương, nhưng cách thức phát triển được nhiều chuyên gia đánh giá còn gắn với tầm nhìn ngắn hạn, thiếu đầy đủ và chưa toàn diện để có thể phát triển bền vững.

Trên cơ sở đó, được sự chỉ đạo và bảo trợ của Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam và Viện Nghiên cứu Bất động sản Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo: Phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam thời kỳ mới.

Thưa Quý vị,

Với tinh thần đó, tôi hy vọng và đề nghị các diễn giả tham dự Hội thảo sẽ tập trung làm rõ một số khía cạnh sau:

- Một là, tổng quan thực trạng phát triển đô thị biển Việt Nam, các nhân tố kinh tế, quy hoạch, văn hóa – xã hội tác động đến quá trình và chiến lược phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam.

- Hai là, mô hình đô thị biển tiêu biểu của Việt Nam; nhận diện những trở ngại đang kìm hãm sự phát triển của đô thị biển Việt Nam và tầm nhìn quy hoạch, quản lý phát triển đô thị biển theo mô hình sinh thái, tăng trưởng xanh gắn kết với phát triển du lịch bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu trong giai đoạn tới.

- Ba là, kinh nghiệm quốc tế về việc phát triển đô thị biển Việt Nam và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Đề xuất chính sách đặc thù phát triển xanh – bền vững đô thị biển Việt Nam.

- Thứ tư là, tiềm năng, lợi thế và những vấn đề đặt ra trong việc phát triển thị trường bất động sản tại đô thị biển Việt Nam.

Dựa trên tư duy nghiên cứu và tiếp thu ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của các chuyên gia, nhà khoa học, với quan điểm: Tầm nhìn quy hoạch là nền tảng, phát triển thị trường bất động sản là động lực để xây dựng đô thị biển bền vững; thực hiện chiến lược xây dựng đô thị biển bền vững là phương cách để Việt Nam tiến ra biển, để khẳng định mạnh mẽ vị thế của một quốc gia biển; Sau Hội thảo, Hiệp hội Bất động sản Việt Nam và Ban Tổ chức sẽ xây dựng văn bản kiến nghị về những vấn đề mà Hội thảo nêu ra để gửi tới Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Xây dựng và các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan nhằm đưa ra góc nhìn về kinh tế, chính sách, pháp lý góp phần phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam.

Thưa Quý vị!

Nhân dịp này, thay mặt cho Hiệp hội Bất động sản Việt Nam và Ban Biên tập Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam, xin trân trọng cảm ơn đại diện lãnh đạo các Ban, Bộ, ngành Trung ương, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo và lãnh đạo các doanh nghiệp đã tham dự, đồng hành cùng Hội thảo.

Kính chúc các quý vị đại biểu dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt!

Xin chúc chương trình thành công tốt đẹp!

Trân trọng cảm ơn sự lắng nghe của quý vị và chúc Quý vị có nhiều niềm vui trong chuyến công tác tại thành phố Hội An xinh đẹp!

Ông Hồ Quang Bửu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam phát biểu khai mạc Hội thảo

Trước tiên, thay mặt cho UBND tỉnh Quảng Nam, tôi xin gửi tới quý vị đại biểu, quý chuyên gia, các nhà khoa học, nhà báo lời chào trân trọng và lời chúc tốt đẹp nhất.

Về công tác phát triển đô thị, tỉnh Quảng Nam đã quan tâm và xác định rất sớm từ ngày chia tách tỉnh. Trong giai đoạn 2010 - 2015, Tỉnh ủy đã có Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 17/05/2011 của Tỉnh ủy Quảng Nam về phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh. Đến thời điểm hiện tại, phát triển đô thị của tỉnh Quảng Nam cũng ghi nhận một số kết quả, thành tựu. Tuy nhiên, kết quả trên vẫn chưa thực sự đáp ứng như kỳ vọng.

Ngày 24/1/2022, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Trong đó, có những điểm đáng chú ý. Thứ nhất, đây là Nghị quyết đầu tiên của Bộ Chính trị về phát triển đô thị sau 35 năm đổi mới. Thứ hai, Nghị quyết nhận định rõ đô thị hóa là tất yếu khách quan, là động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Ba là, chú trọng kinh tế đô thị, đô thị thông minh, kết nối khu vực và thế giới. Thứ tư là, quan tâm đến thể chế, chính sách.

Trong bối cảnh mới hiện nay, Nghị quyết là cơ sở, căn cứ chính trị quan trọng cho sự ra đời của các cơ chế, chính sách mới tạo động lực để phát triển đô thị góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

Ngày 17/06/2022, Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Bộ Xây dựng đã tổ chức Diễn đàn phát triển bền vững đô thị Việt Nam với chủ đề Phát triển đô thị bền vững theo hướng đô thị xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai và dịch bệnh.

Ngày 25/7/2022, UBND tỉnh Quảng Nam phối hợp với Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Quy hoạch xây dựng đô thị ven biển ven sông tỉnh Quảng Nam theo hướng sinh thái và bền vững” nhằm tiếp tục tranh thủ các ý kiến, nhận định của các chuyên gia đóng góp cho tỉnh Quảng Nam những ý tưởng, giải pháp nhằm hoàn thành các mục tiêu phát triển đô thị theo các mục tiêu phát triển bền vững tại Nghị Quyết 06-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Và hôm nay, tại tỉnh Quảng Nam, hội thảo chủ đề “Phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam thời kỳ mới” được tổ chức bởi Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam và Viện Nghiên cứu Bất động sản Việt Nam, chúng tôi hy vọng được ghi nhận lại nhiều kết quả tốt đẹp; giúp chúng tôi làm rõ hơn một số vấn đề mang tính cốt lõi, chiến lược trong thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, gồm:

Thứ nhất, mô hình nào cho hệ thống đô thị ven sông, ven biển? Đó là duy trì mô hình phát triển đô thị theo điểm, gắn với các cực hay chuyển sang mô hình chuỗi, thúc đẩy sự lan dần tạo thành các mảng đô thị lớn.

Thứ hai là sử dụng hiệu quả tài nguyên. Chúng tôi có đất, có biển, có sông và quan trọng là chúng tôi thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà đầu tư lớn. Vấn đề chúng tôi quan tâm đó là phương án nào để sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đó; vừa đáp ứng cho mục tiêu trước mắt nhưng đồng thời vẫn đảm bảo nguồn dự trữ cho những mục tiêu lâu dài.

Thứ ba là những bài học, một số cảnh báo và giải pháp lớn nhằm ứng phó với các nguy cơ môi trường trong quá trình đô thị hóa; đặc biệt đối với khu vực nhạy cảm sông – biển; vừa thích nghi với khí hậu vừa phải tạo nét đặc sắc riêng đối với đô thị vùng sông, vùng biển.

Thứ tư, kinh tế đô thị, công ăn việc làm và an sinh xã hội; để đưa các đô thị thực sự trở thành nơi đáng sống, tạo được nguồn thu lớn; khẳng định vai trò là động lực phát triển kinh tế, là hạt nhân thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động.

Trong khuôn khổ thời gian hạn chế, khó có thể đáp ứng một cách đầy đủ những yêu cầu và mong muốn của Tỉnh. Bằng sự cầu thị, chúng tôi sẽ tiếp tục lắng nghe các ý kiến đóng góp, các ý tưởng phát triển từ các nhà chuyên môn, nhà khoa học, nhà đầu tư… cùng với một mục tiêu lớn nhất, đó là tìm một hướng đi phù hợp để phát triển đô thị tỉnh Quảng Nam.

Thay mặt UBND tỉnh, tôi xin hoan nghênh, chào mừng Hội thảo “Phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam thời kỳ mới”. Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp!

Chương trình chính thức bắt đầu

 Hội thảo "Phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam thời kỳ mới" có sự tham dự của:

Về phía đại diện các cơ quan Trung ương:

GS.TS. Hoàng Văn Cường - Đại biểu Quốc hội, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

- PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi - Đại biểu Quốc hội, Nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Về phía lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các cơ quan tỉnh Quảng Nam:

- Ông Hồ Quang Bửu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam         

- Ông Nguyễn Xuân Hà - Phó Chủ tịch UBND thị xã Điện Bàn

- Ông Nguyễn Minh Lý - Phó Chủ tịch UBND TP. Hội An.

Về phía lãnh đạo các cơ quan tỉnh Thừa Thiên – Huế:

- Bà Nguyễn Thị Bích Thảo - Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư & Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Về phía các chuyên gia, nhà khoa học:

- KTS. Trần Ngọc Chính - Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng

- GS.TSKH. Đặng Hùng Võ - Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

- TS. Đặng Việt Dũng - Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, Nguyên Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng

- PGS.TS. Trần Đình Thiên - Thành viên Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng, Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

- TS. Cấn Văn Lực - Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV

- TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh

- TS.KTS. Ngô Trung Hải - Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội các đô thị Việt Nam

- TS.KTS. Ngô Viết Nam Sơn - Chủ tịch NgoViet Architects & Planners

- Ông Nguyễn Đức Lập - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Đào tạo Bất động sản

- Ông Phan Việt Hoàng - Phó Tổng Thư ký Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Môi giới Bất động sản Khánh Hòa

Về phía Hiệp hội Bất động sản Việt Nam:

- TS. Nguyễn Văn Khôi - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam

- Nhà báo Phạm Nguyễn Toan, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Tổng Biên tập Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam

Về phía Ban tổ chức:

- Ông Bùi Văn Doanh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Bất động sản Việt Nam

- Nhà báo Bùi Văn Khương - Phó Tổng Biên tập Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam 

Cùng sự có mặt của lãnh đạo các cơ quan thuộc UBND tỉnh Quảng Nam, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế, lãnh đạo các doanh nghiệp và đại diện hơn 50 cơ quan báo chí, truyền hình tham dự Hội thảo.

Ông Hồ Quang Bửu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam

 

Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định mục tiêu đến năm 2030, kinh tế thuần biển đóng góp khoảng 10% GDP cả nước; kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển chiếm 65 - 70% GDP cả nước; thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh, thành phố ven biển gấp từ 1,2 lần bình quân cả nước… Đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước.

Ngày 24/01/2022, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về "Quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045", tạo động lực phát triển đô thị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững. Nghị quyết khẳng định mục tiêu và nhiệm vụ tiếp tục phát triển các chuỗi đô thị biển gắn với thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển.

Với bờ biển trải dài hơn 3.260km từ Bắc vào Nam, Việt Nam có lợi thế và tiềm năng to lớn để phát triển các đô thị biển đảo đặc sắc, là trụ cột và động lực để phát triển kinh tế biển. Miền Bắc đã hình thành các đô thị du lịch biển như Hạ Long (gắn với vùng di sản thiên nhiên thế giới), Vân Đồn, Cát Bà, Đồ Sơn, Sầm Sơn.

Tại khu vực miền Trung (Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam…), đô thị sông, biển có các đặc trưng riêng mang nhiều màu sắc và tiềm năng phát triển. Đặc biệt, khi phát triển tại các vùng di sản như: Cố đô Huế gắn liền với dòng Hương Giang; phố cổ Hội An gắn với sông Hoài và cửa Đại; Đà Nẵng gắn với sông Hàn… mô hình đô thị sông - biển có thêm thế mạnh để phát triển du lịch, bất động sản nghỉ dưỡng và nhiều hạ tầng xã hội khác.

Tại miền Nam, đang hình thành các đô thị đảo tiêu biểu như Phú Quốc hay đô thị hướng biển như Cần Giờ, Vũng Tàu… với nhiều tiềm năng và khát vọng phát triển…

Tuy nhiên, nhìn tổng thể đến nay, Việt Nam vẫn đang vắng bóng những đô thị biển đúng nghĩa, có thể phát huy, khai thác tối đa những giá trị, lợi thế mà biển cả mang lại. Thay vào đó, đô thị hướng biển ở nước ta đang đối mặt với rất nhiều thách thức cản trở quá trình phát triển bền vững, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu gia tăng. Tất cả đang đòi hỏi cần những nghiên cứu nghiêm túc tầm quốc gia và quốc tế để có những tầm nhìn chiến lược và chính sách phát triển phù hợp.

Vấn đề then chốt là xác lập tầm nhìn và quy hoạch, định vị không gian đô thị biển để phát triển tương xứng với tiềm lực tăng trưởng kinh tế và giá trị độc tôn của từng đô thị, vừa bảo tồn, phát huy các giá trị di sản - thiên nhiên và tăng tính kết nối giữa các địa phương, thu hút các nguồn lực của doanh nghiệp để kiến tạo nên những công trình đẳng cấp, giàu giá trị văn hóa, khơi dậy tiềm năng phát triển du lịch và phát triển kinh tế xanh trong thời kỳ mới.

Trên cơ sở đó, được sự chỉ đạo và bảo trợ của Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam và Viện Nghiên cứu Bất động sản Việt Nam tổ chức Hội thảo: Phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam thời kỳ mới. Hội thảo có sự tham dự của lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Nam, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế, 30 chuyên gia, nhà khoa học, lãnh đạo doanh nghiệp bất động sản và 50 cơ quan báo chí, truyền hình.

Thời gian: 13h00, ngày 03/08/2022.

Địa điểm: Phòng Grand Ballroom, Vinpearl Cửa Đại, phường Cửa Đại, TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Tại Hội thảo, dưới sự điều phối của TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, các đại biểu, chuyên gia sẽ trình bày tham luận về:

Thực trạng, tiềm năng và định hướng phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam; Phát triển đô thị ven biển xanh và bền vững: Giải pháp từ quy hoạch; Phát triển kinh tế đô thị biển và hạ tầng đô thị biển Việt Nam; Xây dựng trung tâm tài chính đô thị biển; Phát triển thị trường bất động sản gắn với đô thị biển Việt Nam; Đô thị biển: Tầm nhìn định hướng cho tương lai…

Cùng với đó là phiên tọa đàm với các vấn đề: Quy hoạch đô thị biển Việt Nam: Tầm nhìn và cơ hội; Phát triển thị trường bất động sản tại các đô thị biển Việt Nam thời kỳ mới./.

Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự


TOP