Khơi dậy sức mạnh khoa học - công nghệ, mở lối cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Khơi dậy sức mạnh khoa học - công nghệ, mở lối cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Thứ Ba, 17/03/2026 - 06:06

Định hướng phát triển cho giai đoạn 2026 - 2030, Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩy các đột phá chiến lược, trong đó xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm, đóng vai trò dẫn dắt quá trình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

TS. Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam (VIDE) nhìn nhận, khi khoa học - công nghệ và tri thức trở thành động lực chủ đạo của tăng trưởng, việc đầu tư bài bản cho các lĩnh vực này sẽ tạo ra dư địa phát triển mới, gia tăng sức cạnh tranh quốc gia và mở rộng không gian phát triển dài hạn cho đất nước trong kỷ nguyên kinh tế số. Trong bối cảnh đó, việc nhận diện rõ các nút thắt, đồng thời xác định cách tiếp cận phù hợp để tạo đột phá trong khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

❃ ❃ ❃

ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG "KHÔNG GIỚI HẠN"

Theo TS. Trần Quý, trong bối cảnh các dư địa tăng trưởng truyền thống dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ đang dần chạm tới giới hạn, việc Đại hội XIV khẳng định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt cũng như phương thức phát triển mới cho thấy Đảng đã nhìn nhận rõ xu thế vận động tất yếu của thời đại. Theo ông, sở dĩ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo được đặt ở vị trí trung tâm bởi đây chính là "động lực tăng trưởng không giới hạn". Nếu như các nguồn lực truyền thống như vốn hay đất đai mang tính hữu hạn, thì sức sáng tạo của con người cùng với sức mạnh của công nghệ số lại có khả năng mở rộng không gian phát triển gần như vô hạn, tạo ra tốc độ tăng trưởng theo hàm mũ thay vì chỉ gia tăng tuyến tính. Chính vì vậy, khi khoa học - công nghệ được đặt vào vị trí trung tâm của mô hình phát triển, nền kinh tế cũng có cơ hội bước sang một quỹ đạo tăng trưởng mới, bền vững hơn và có giá trị cao hơn.

Khơi dậy sức mạnh khoa học - công nghệ, mở lối cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc- Ảnh 1.

TS. Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam (VIDE).

Không chỉ vậy, theo TS. Trần Quý, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số còn là nền tảng để kiến tạo một mô hình quản trị quốc gia hiện đại. Theo đó, chuyển đổi số được hiểu sâu xa hơn là quá trình tái cấu trúc toàn diện hệ thống quản trị. Trong mô hình đó, phương thức điều hành sẽ chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", từ quản lý dựa trên kinh nghiệm và cảm tính sang điều hành dựa trên dữ liệu thời gian thực. Nhờ vậy, hiệu quả quản trị được nâng cao đáng kể, đồng thời tạo ra môi trường minh bạch và thuận lợi hơn cho hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, khoa học - công nghệ đang mở ra phương thức kiến tạo giá trị hoàn toàn mới cho nền kinh tế. Nếu trước đây công nghệ chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ sản xuất, thì trong bối cảnh hiện nay, khoa học - công nghệ đang trực tiếp giải quyết các bài toán phát triển, qua đó hình thành những ngành nghề và lĩnh vực kinh tế mới như kinh tế dữ liệu, kinh tế chia sẻ hay công nghiệp bán dẫn - những lĩnh vực đang định hình cấu trúc của nền kinh tế trong kỷ nguyên số.

Ở góc độ rộng hơn, việc Đại hội XIV xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm còn có ý nghĩa rất lớn đối với mục tiêu tự chủ chiến lược, tự cường của quốc gia. Theo ông, "tự chủ" trong thời đại ngày nay không đồng nghĩa với việc khép kín hay tách mình khỏi dòng chảy toàn cầu, mà là khả năng làm chủ các công nghệ chiến lược để không bị phụ thuộc hoặc dễ tổn thương trước những cú sốc địa chính trị và kinh tế. Trong bối cảnh đó, sở hữu các nền tảng số có tính chủ quyền và hệ thống trung tâm dữ liệu quốc gia là điều kiện tiên quyết để bảo vệ chủ quyền không gian mạng. Khi năng lực khoa học - công nghệ nội sinh được củng cố, Việt Nam sẽ có đủ nền tảng để tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu với vị thế của một đối tác có giá trị, thay vì chỉ dừng lại ở vai trò gia công.

"Trong dài hạn, sức cạnh tranh của một quốc gia sẽ không còn được đo bằng chi phí lao động thấp, mà bằng khả năng giải quyết các thách thức toàn cầu thông qua công nghệ và đổi mới sáng tạo", TS. Trần Quý nhận định, đồng thời cho rằng chính nền tảng tri thức và công nghệ đó sẽ mở ra không gian phát triển mới, tạo động lực để Việt Nam từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.

GỠ ĐIỂM NGHẼN THỂ CHẾ ĐỂ "KÍCH HOẠT" HỆ SINH THÁI ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Nhìn nhận về những điểm mới trong tư duy phát triển được xác lập tại Đại hội XIV, TS. Trần Quý đặc biệt nhấn mạnh cách tiếp cận mới đối với chuyển đổi số, khi coi đây không chỉ là công cụ quản lý, mà còn là phương thức tạo ra mô hình kinh doanh mới, việc làm mới và giá trị gia tăng mới. Theo ông, trong bối cảnh kinh tế số trở thành xu thế toàn cầu, cách tiếp cận này mở ra không gian phát triển mới cho doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và dữ liệu.

"Khi chuyển đổi số được đặt ở trung tâm chiến lược phát triển, các ngành kinh tế truyền thống cũng sẽ dần được tái định hình thông qua công nghệ và dữ liệu, qua đó hình thành những ngành nghề mới, tạo ra việc làm có giá trị gia tăng cao hơn và nâng cao năng suất, sức cạnh tranh của nền kinh tế trong dài hạn", TS. Trần Quý nhìn nhận.

Tuy vậy, nhìn từ thực tiễn triển khai, TS. Trần Quý cho rằng hệ thống thể chế của Việt Nam dù đang có những bước chuyển đáng kể nhưng vẫn còn khoảng cách nhất định so với tốc độ phát triển của công nghệ. Ông đánh giá cao việc Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (2025) lần đầu luật hóa khái niệm "đổi mới sáng tạo" ngang hàng với "khoa học - công nghệ", đồng thời đưa cơ chế Sandbox vào khuôn khổ pháp lý. Song, theo vị chuyên gia, các khảo sát gần đây cho thấy vẫn phần lớn doanh nghiệp hiện vẫn bày tỏ lo ngại về tính dự báo và ổn định của chính sách khi tham gia vào các lĩnh vực công nghệ mới.

Cụ thể hơn, TS. Trần Quý cho rằng, quá trình thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hiện nay vẫn đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn. Trước hết là độ trễ của thể chế và tư duy quản lý, một số quy định vẫn mang nặng tư duy "không quản được thì cấm", trong khi các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ tài chính (Fintech) hay y tế số lại biến đổi từng ngày. Điều này khiến doanh nghiệp công nghệ còn dè dặt bởi ranh giới giữa đổi mới sáng tạo và nguy cơ vi phạm quy định đôi khi chưa được xác định rõ ràng.

Bên cạnh đó, theo chuyên gia, việc sử dụng ngân sách nhà nước cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) hiện vẫn bị ràng buộc bởi nhiều thủ tục quyết toán chặt chẽ, chưa chấp nhận đặc tính rủi ro vốn có của nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, quá trình định giá và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu từ khu vực công sang khu vực tư vẫn còn nhiều vướng mắc liên quan đến quy định quản lý tài sản công. Bên cạnh đó, do tính liên ngành cao của chuyển đổi số, nhiều mô hình kinh doanh số phải chịu sự điều chỉnh của nhiều bộ, ngành khác nhau, trong khi sự thiếu đồng bộ về kết nối dữ liệu và quy định chuyên ngành vẫn tạo ra các tầng nấc thủ tục chồng chéo.

Từ thực tế đó, TS. Trần Quý cho rằng để chuyển đổi số thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, cần sớm triển khai mạnh mẽ cơ chế Sandbox trên quy mô đa lĩnh vực. Theo ông, Sandbox không nên chỉ được coi là một giải pháp thử nghiệm trong ngắn hạn, mà cần trở thành một "phòng thí nghiệm" đúng nghĩa, với Nhà nước và doanh nghiệp cùng đồng hành, thử nghiệm và hoàn thiện các khung khổ pháp lý cho những mô hình kinh doanh mới.

"Đã có những tín hiệu rất tích cực. Nghị quyết 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu thể chế phải đi trước một bước, đồng thời loại bỏ những tư tưởng kìm hãm để biến thể chế thành lợi thế cạnh tranh quốc gia", TS. Trần Quý nhấn mạnh. Theo ông, khi đội ngũ cán bộ thực thi không còn tâm lý e ngại sai sót nhờ có hành lang bảo vệ cho "tinh thần 6 dám", và khi doanh nghiệp có thể yên tâm rằng rủi ro sáng tạo được pháp luật bảo hộ, thì khi đó hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mới thực sự bùng nổ, tạo động lực mới cho tăng trưởng và phát triển.


KIẾN TẠO "ĐƯỜNG BĂNG" ĐỂ KINH TẾ TƯ NHÂN TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Đề cập đến vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong tiến trình phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, TS. Trần Quý cho rằng đây chính là lực lượng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Nhìn từ tư duy phát triển mà Đại hội XIV đặt ra, TS. Trần Quý cho rằng cách tiếp cận đối với khu vực tư nhân đã có sự thay đổi căn bản. "Kinh tế tư nhân không còn là đối tượng cần hỗ trợ, mà được xem là lực lượng tiên phong, dẫn dắt quá trình đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ vào thực tiễn", ông nhấn mạnh.

Do đó, TS. Trần Quý cho rằng điều quan trọng hiện nay là phải tạo dựng một môi trường thể chế thực sự thuận lợi, đủ sức khơi dậy niềm tin và khuyến khích doanh nghiệp tư nhân chủ động tham gia sâu hơn vào hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cũng như đầu tư cho đổi mới sáng tạo. Theo ông, khi được trao không gian phát triển cùng với một môi trường cạnh tranh minh bạch và ổn định, khu vực kinh tế tư nhân sẽ trở thành lực lượng dẫn dắt quá trình đổi mới sáng tạo, đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Để khơi thông nguồn lực này, TS. Trần Quý cho rằng cần bảo vệ tinh thần dấn thân và chấp nhận rủi ro trong đổi mới sáng tạo của khu vực kinh tế tư nhân. Bản chất của nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ luôn gắn liền với xác suất thất bại cao. "Cần sớm luật hóa các cơ chế miễn hoặc giảm trách nhiệm pháp lý đối với những rủi ro khách quan trong nghiên cứu, đặc biệt trong các dự án khoa học có tính thử nghiệm. Nếu các nhà khoa học và doanh nhân luôn bị ràng buộc bởi những quy định tài chính quá ngặt nghèo, họ sẽ không bao giờ dám nghĩ lớn và dám thử nghiệm những ý tưởng đột phá", TS. Trần Quý nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, cần khơi thông các đòn bẩy tài chính cho đổi mới sáng tạo. Theo TS. Trần Quý, cách thức vận hành của các quỹ hỗ trợ công nghệ, đặc biệt là Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF), cần được đổi mới theo hướng thị trường hơn. Thay vì cơ chế "xin - cho", các nguồn hỗ trợ nên được phân bổ dựa trên kết quả đầu ra và hiệu quả kinh tế của dự án. Đồng thời, việc cho phép doanh nghiệp được khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp tới 100% cho các khoản chi dành cho R&D hoặc đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực chiến lược như bán dẫn sẽ tạo ra cú hích đáng kể cho hoạt động đầu tư công nghệ.

Một yếu tố quan trọng khác, theo TS. Trần Quý, là hình thành thị trường cho các sản phẩm đổi mới sáng tạo. Nhà nước cần đóng vai trò "khách hàng" tiên phong thông qua các chính sách mua sắm công ưu tiên những sản phẩm công nghệ do doanh nghiệp trong nước nghiên cứu và phát triển. Cùng với đó, việc xây dựng một thị trường dữ liệu minh bạch, nơi quyền sở hữu và khai thác dữ liệu được xác lập rõ ràng, sẽ mở ra không gian mới để doanh nghiệp tư nhân khai thác và tạo ra giá trị từ nguồn tài nguyên đặc biệt này.

Nhìn về mục tiêu phát triển trong thập kỷ tới, TS. Trần Quý cho rằng khát vọng xây dựng ít nhất 10 doanh nghiệp công nghệ số có tầm vóc toàn cầu vào năm 2030 là hoàn toàn khả thi, nếu Việt Nam thực sự coi phát triển kinh tế tư nhân là một ưu tiên chiến lược. "Đây không phải là một con số viển vông nếu chúng ta thực sự coi phát triển kinh tế tư nhân là mệnh lệnh từ trái tim", TS. Trần Quý khẳng định, đồng thời nhấn mạnh, khi niềm tin của doanh nghiệp được củng cố và hành lang pháp lý được khơi thông, khu vực tư nhân sẽ tự động đổ nguồn lực vào nghiên cứu và phát triển, qua đó góp phần biến Việt Nam thành một công xưởng mới của khu vực trong kỷ nguyên kinh tế số.

LƯỢNG HOÁ MỤC TIÊU ĐỂ KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ THỰC SỰ TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG

Để cụ thể hóa các định hướng lớn về phát triển khoa học công nghệ mà Đại hội XIV đã đề ra, TS. Trần Quý cho rằng, điều quan trọng nhất là phải chuyển các mục tiêu chiến lược thành những chỉ số đo lường cụ thể, có khả năng giám sát và đánh giá trong thực tiễn, chỉ khi làm được điều đó, quá trình triển khai mới thực sự đi vào thực chất và tránh được tình trạng "nói nhiều làm ít".

Khơi dậy sức mạnh khoa học - công nghệ, mở lối cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc- Ảnh 2.

Để tinh thần và những định hướng lớn của Đại hội XIV thực sự đi vào cuộc sống, cần phải chuyển các mục tiêu chiến lược thành những chỉ số đo lường cụ thể, có khả năng giám sát và đánh giá trong thực tiễn.

Để đánh giá một cách thực chất liệu khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã thực sự trở thành động lực trung tâm của nền kinh tế hay chưa, cần thiết phải theo dõi những chỉ số mang tính định lượng rõ ràng, phản ánh trực tiếp chất lượng tăng trưởng và mức độ chuyển đổi của nền kinh tế. Trước hết là mức đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế. "Tỷ lệ này cần đạt trên 55% tổng tăng trưởng, bởi đây được xem là thước đo quan trọng nhất cho thấy nền kinh tế đang tăng trưởng nhờ đổi mới sáng tạo, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào lao động giá rẻ hay mở rộng vốn đầu tư", TS. Trần Quý nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, tỷ trọng kinh tế số trong GDP cũng là chỉ dấu quan trọng phản ánh mức độ thâm nhập của công nghệ vào nền kinh tế. Theo vị chuyên gia, đến năm 2030, kinh tế số cần chiếm tối thiểu 30% GDP, qua đó cho thấy các nền tảng số và công nghệ mới đã thực sự trở thành động lực lan tỏa trong mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống.

Ngoài ra, một yếu tố quan trọng là mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D). Theo TS. Trần Quý, tổng chi cho R&D của toàn xã hội cần đạt tối thiểu 2% GDP, đồng thời khu vực tư nhân phải đóng vai trò chủ đạo trong dòng vốn đầu tư này. Đây được xem là điều kiện quan trọng để hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động và bền vững, nơi doanh nghiệp trở thành trung tâm của quá trình nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.

Cùng với đó, vị thế của Việt Nam trên các bảng xếp hạng quốc tế về đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh số cũng cần được chú trọng. TS. Trần Quý cho rằng, Việt Nam cần đặt mục tiêu lọt vào nhóm 40 quốc gia dẫn đầu về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), đồng thời nằm trong nhóm 50 nước có năng lực cạnh tranh số cao nhất thế giới. Theo ông, đây không chỉ là những thước đo về năng lực công nghệ, mà còn phản ánh mức độ sẵn sàng của nền kinh tế trước các xu hướng phát triển mới.

Bên cạnh đó, mức độ phát triển của dịch vụ công trực tuyến cũng là một chỉ báo quan trọng về hiệu quả của quá trình chuyển đổi số. Theo TS. Trần Quý, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình và được cá nhân hóa cần đạt trên 80%, đồng thời phải được đo lường bằng mức độ hài lòng thực sự của người dân. Khi các tiện ích số có thể được tiếp cận dễ dàng và chạm tay thấy rõ trong đời sống hằng ngày, khi đó chuyển đổi số mới thực sự tạo ra giá trị thiết thực cho xã hội.

Khơi dậy sức mạnh khoa học - công nghệ, mở lối cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc- Ảnh 3.

Song song với việc thiết lập các chỉ số đo lường, TS. Trần Quý cũng nhấn mạnh sự cần thiết của một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm biến các mục tiêu chiến lược thành kết quả cụ thể. Trong đó, yếu tố con người được ông đặt lên hàng đầu. "Việt Nam cần đổi mới mạnh mẽ chương trình giáo dục theo chuẩn quốc tế, đồng thời tập trung đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao, đặc biệt là khoảng 50.000 kỹ sư trong lĩnh vực bán dẫn và trí tuệ nhân tạo (AI)", TS. Trần Quý nhận định.

Cùng với đó, hạ tầng số cần được đầu tư mạnh mẽ để tạo nền tảng phát triển kinh tế số. "Chúng ta phải phủ sóng 5G trên phạm vi toàn quốc và từng bước làm chủ các công nghệ lõi như IoT, điện toán đám mây (Cloud) hay Blockchain để hình thành ‘đường cao tốc dữ liệu’ cho nền kinh tế", TS. Trần Quý nhấn mạnh.

Ở khía cạnh thực thi, chuyên gia cho rằng cần gắn trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, ngành và địa phương với kết quả chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo thông qua các bộ chỉ số đánh giá cụ thể như PII hay DTI. Theo ông, điều quan trọng không chỉ là xác định đúng hướng đi, mà còn phải triển khai với tốc độ và quyết tâm cao. "Chúng ta cần một tinh thần hành động lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn", TS. Trần Quý nói.

Nhìn rộng hơn, TS. Trần Quý cho rằng Đại hội XIV chính là thời điểm mang tính lịch sử để hiện thực hóa khát vọng phát triển hùng cường của dân tộc. Nếu các động lực từ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự được khơi thông, Việt Nam không chỉ có cơ hội bắt kịp các quốc gia phát triển, mà hoàn toàn có thể vươn lên trở thành một trung tâm công nghệ quan trọng trong khu vực. Đó cũng chính là con đường để tạo dựng nền tảng thịnh vượng bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trong tương lai./.



Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top