Chiều 10/7, tại Hải Phòng, trong khuôn khổ Diễn đàn Phát triển Khu công nghiệp Việt Nam 2026 (Vietnam Industrial Park Summit 2026), Liên Chi hội Bất động sản Công nghiệp Việt Nam phối hợp cùng IEC Consulting tổ chức Chuyên đề 3 với chủ đề "Xúc tiến đầu tư FDI và khơi thông nguồn vốn phát triển khu công nghiệp". Sự kiện được tổ chức dưới sự bảo trợ chuyên môn của Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và sự chỉ đạo của Hiệp hội Bất động sản Việt Nam (VNREA).
Muốn đón dòng vốn chất lượng cao, Việt Nam cần đầu tư mạnh vào hạ tầng và năng lượng sạch
Phát biểu tại phiên chuyền đề, ông Trương Minh, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính nhận định, bối cảnh đầu tư toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng trở thành tiêu chuẩn trong các quyết định đầu tư.
"Cuộc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hiện nay không còn dựa chủ yếu vào ưu đãi hay chi phí sản xuất, mà chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng của hệ sinh thái đầu tư", ông Trương Minh nhìn nhận.

Ông Trương Minh, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính.
Trong bối cảnh đó, theo ông Minh, Việt Nam tiếp tục khẳng định sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế. Đến nay, cả nước đã hình thành gần 500 khu công nghiệp với tổng diện tích tự nhiên trên 150.000ha, tạo quỹ đất công nghiệp hơn 105.000ha. Hệ thống khu công nghiệp, khu kinh tế đã thu hút khoảng 13.000 dự án FDI với tổng vốn đăng ký khoảng 340 tỷ USD, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa, tăng trưởng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Không chỉ gia tăng về quy mô, chất lượng dòng vốn FDI cũng đang có sự chuyển dịch rõ nét. Ngày càng nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu lựa chọn Việt Nam để đầu tư vào các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao như bán dẫn, điện tử, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), nghiên cứu - phát triển (R&D), năng lượng sạch và logistics hiện đại.
"Xu hướng này đặt ra yêu cầu phải tái định vị mô hình phát triển khu công nghiệp, từ không gian sản xuất đơn thuần trở thành hệ sinh thái công nghiệp hiện đại, tích hợp hạ tầng kỹ thuật, logistics, năng lượng, hạ tầng số, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp", ông Trương Minh nhận định.
Từ thực tiễn đó, ông cho rằng Việt Nam cần chủ động chuẩn bị các điều kiện nền tảng để đón dòng vốn FDI thế hệ mới. Trọng tâm là đầu tư đồng bộ vào hạ tầng công nghiệp, logistics, năng lượng sạch và hạ tầng số; thúc đẩy phát triển các khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp thông minh, đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo ông Trương Minh, cùng với việc hoàn thiện hạ tầng, tư duy thu hút FDI cũng cần có bước chuyển căn bản theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW, xác định khu vực FDI là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế và nâng cao chất lượng sàng lọc dự án trên cơ sở các tiêu chí về công nghệ, môi trường, hiệu quả sử dụng đất và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Quan trọng hơn, Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ thu hút FDI theo số lượng sang chất lượng, lấy giá trị gia tăng, mức độ lan tỏa công nghệ và khả năng kết nối với doanh nghiệp trong nước làm thước đo hiệu quả. Theo đó, cần ưu tiên các dự án trong lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo, năng lượng sạch, vật liệu mới và các ngành công nghệ chiến lược có khả năng thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Song song với đó, việc phát triển khu công nghiệp thế hệ mới cần được đẩy nhanh theo hướng khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp chuyên ngành và khu công nghiệp hỗ trợ, gắn kết chặt chẽ với phát triển đô thị, logistics, năng lượng sạch và hạ tầng số để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các nhà đầu tư chiến lược. Ông cũng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ, đồng thời ưu tiên đào tạo đội ngũ chuyên gia, kỹ sư và nguồn nhân lực chất lượng cao, coi đây là nền tảng để nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và tạo sức bật mới cho nền kinh tế trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng đón làn sóng FDI thế hệ mới
Nếu hạ tầng cứng là điều kiện cần để thu hút dòng vốn đầu tư, thì theo các chuyên gia, nguồn nhân lực chất lượng cao chính là "hạ tầng mềm" quyết định khả năng giữ chân và nâng cấp dòng vốn FDI trong giai đoạn phát triển mới.
Ông Trần Vân Nam, Đại diện Trung tâm Hợp tác Phát triển Việt - Trung, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng FPT Polytechnic, Phó chủ tịch Liên minh bán dẫn Việt Nam cho rằng, Việt Nam đang bước vào giai đoạn thu hút FDI có chọn lọc. Thay vì cạnh tranh bằng lao động giá rẻ và chi phí sản xuất thấp, các địa phương cần hướng tới các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và có khả năng lan tỏa công nghệ. Trong quá trình đó, nguồn nhân lực công nghệ cao chính là "hạ tầng mềm" mang tính quyết định.

Ông Trần Vân Nam, Đại diện Trung tâm Hợp tác Phát triển Việt - Trung, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng FPT Polytechnic, Phó chủ tịch Liên minh bán dẫn Việt Nam.
Theo ông, địa phương hay khu công nghiệp nào chuẩn bị tốt hệ sinh thái nhân lực sẽ có lợi thế lớn hơn trong cuộc cạnh tranh thu hút các tập đoàn công nghệ. Bởi nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là điều kiện để đón các ngành như AI, bán dẫn, điện tử, tự động hóa hay công nghệ số, mà còn quyết định khả năng doanh nghiệp mở rộng đầu tư, xây dựng trung tâm R&D, chuyển giao công nghệ và gia tăng giá trị tại Việt Nam. Ngược lại, nếu thiếu nhân lực chất lượng cao, Việt Nam sẽ khó tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng lớn như thiết kế, nghiên cứu - phát triển và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Từ thực tế đó, ông Trần Vân Nam cho rằng cần xây dựng một hệ sinh thái phát triển nhân lực gắn chặt giữa địa phương, doanh nghiệp FDI và các trường đại học, cao đẳng. Theo ông, các địa phương và chủ đầu tư khu công nghiệp cần chuyển từ mục tiêu gia tăng tỷ lệ lấp đầy sang chủ động chuẩn bị năng lực tiếp nhận các dự án công nghệ cao thông qua chiến lược phát triển nhân lực theo từng ngành, đầu tư các trung tâm thực hành, phòng Lab hiện đại, đồng thời thúc đẩy mô hình đào tạo theo đơn đặt hàng và hình thành hệ sinh thái tuyển dụng ngay tại địa phương.
"Để hiện thực hóa mục tiêu này, các địa phương cần quy hoạch khu công nghiệp gắn với quy hoạch nguồn nhân lực trên cơ sở dự báo nhu cầu lao động theo từng ngành; thiết lập cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa địa phương, nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo, thực hành và tuyển dụng; đồng thời ưu tiên đầu tư vào thiết bị công nghệ hiện đại, đội ngũ chuyên gia, chương trình đào tạo tài năng và các chính sách học bổng để nâng cao chất lượng nhân lực", ông Nam nhấn mạnh.
Từ thực tiễn làm việc với các nhà đầu tư thứ cấp, bà Trần Huyền Yên Phương, Phó Giám đốc Ban Hoạch định Chiến lược, Tổng Công ty IDICO - CTCP nhận định, chi phí đầu tư có thể giúp Việt Nam được lựa chọn ban đầu, nhưng chính những giá trị phi chi phí như chất lượng hạ tầng, hệ sinh thái dịch vụ, năng lực hỗ trợ và môi trường đầu tư mới là yếu tố quyết định khả năng giữ chân nhà đầu tư trong dài hạn. "Chi phí đầu tư có thể giúp Việt Nam được lựa chọn, tuy nhiên giá trị phi chi phí mới khiến các nhà đầu tư gắn bó lâu dài và lựa chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư", bà nhấn mạnh.

Bà Trần Huyền Yên Phương, Phó Giám đốc Ban Hoạch định Chiến lược, Tổng Công ty IDICO - CTCP
Bà Trần Huyền Yên Phương nhấn mạnh, hệ sinh thái nhân lực là trụ cột quan trọng tạo nên sức cạnh tranh của khu công nghiệp trong giai đoạn mới. Dẫn số liệu của Tổng cục Thống kê, bà cho biết quý II/2026, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,23%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15-24 tuổi lên tới 8,67%, tương đương khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm và cũng không tham gia học tập, đào tạo.
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp trong các khu công nghiệp vẫn không tuyển đủ lao động có kỹ năng phù hợp. Theo bà, nghịch lý này phản ánh khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn của thị trường. Một mặt, các địa phương mong muốn thu hút đầu tư, tạo việc làm tại chỗ, hạn chế tình trạng ly hương và nâng cao chất lượng sống của người dân; mặt khác, các nhà đầu tư FDI và DDI lại cần lực lượng lao động có tay nghề, sẵn sàng làm việc ngay khi nhà máy đi vào vận hành và đủ ổn định để giảm chi phí đào tạo lại.
Vì vậy, bà cho rằng cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và chính quyền địa phương để xây dựng mô hình đào tạo theo nhu cầu thực tế của thị trường, vừa giải quyết tình trạng thiếu nguồn tuyển sinh ở các trường nghề, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp. "Trong giai đoạn tới, một hệ sinh thái vận hành hiệu quả, ổn định và bền vững, từ hạ tầng, thủ tục đến yếu tố con người, mới chính là nội lực quyết định sức cạnh tranh của các khu công nghiệp Việt Nam", bà Trần Huyền Yên Phương nhấn mạnh./.