Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam

Thứ Hai, 03/08/2026 - 06:08

LỜI TÒA SOẠN

Năm 2026 là năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đồng thời là thời điểm nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới - một hành trình lịch sử đã làm thay đổi sâu sắc diện mạo kinh tế, xã hội và vị thế quốc gia. Khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, cùng tinh thần về một "kỷ nguyên vươn mình của dân tộc" mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh, đang đặt ra yêu cầu về một cuộc đổi mới lần thứ hai mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn.

Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia đã chứng minh rằng, phía sau mỗi giai đoạn cất cánh đều là sự trưởng thành của một cộng đồng doanh nghiệp mang khát vọng dân tộc. Việt Nam cũng đang bước vào thời điểm như vậy. Bốn mươi năm Đổi mới đã hình thành một đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân ngày càng lớn mạnh về quy mô, năng lực và bản lĩnh kiến tạo trên hành trình dựng xây đất nước. Và cuộc đổi mới lần thứ hai đang đồng thời đặt lên vai họ những trọng trách lớn lao hơn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển quốc gia, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đổi mới sáng tạo, xây dựng đội ngũ doanh nhân dân tộc lớn mạnh, đủ năng lực cạnh tranh toàn cầu, đủ bản lĩnh gánh vác những sứ mệnh mới của đất nước.

Trong lời hiệu triệu mới của thời đại, vai trò của doanh nghiệp, doanh nhân không còn dừng ở việc tạo ra tăng trưởng, việc làm hay nguồn thu ngân sách. Thay vào đó, mỗi quyết định đầu tư vào công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; mỗi sản phẩm chinh phục thị trường quốc tế; mỗi thương hiệu Việt được khẳng định bằng chất lượng và uy tín… đều góp phần bồi đắp sức mạnh nội sinh, nâng cao vị thế quốc gia và hiện thực hóa khát vọng hùng cường. Đó chính là ý nghĩa của tinh thần "kiến quốc" trong kỷ nguyên mới - xây dựng một Việt Nam thịnh vượng bằng tri thức, đổi mới sáng tạo, năng lực cạnh tranh và tinh thần dân tộc.

Lòng yêu nước của doanh nhân hiện nay được thể hiện bằng lựa chọn dấn thân vào những lĩnh vực Việt Nam cần chinh phục, bằng quyết tâm đưa trí tuệ Việt, thương hiệu Việt và giá trị Việt vươn ra thế giới. Dù hoạt động ở bất kỳ lĩnh vực nào, mỗi doanh nghiệp phát triển bền vững, mỗi doanh nhân dám nghĩ lớn, dám đổi mới và dám tiên phong đều đang góp thêm một viên gạch cho nền móng của tương lai thịnh vượng.

Nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập và hướng tới kỷ niệm 22 năm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10/2004 - 13/10/2026), Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam (Reatimes) thực hiện chuyên đề: "Doanh nghiệp, doanh nhân trên hành trình tiên phong kiến quốc" như một diễn đàn để nhìn lại hành trình trưởng thành của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam sau bốn thập niên Đổi mới; đồng thời ghi nhận, tôn vinh và lan toả những đóng góp, khát vọng và tinh thần dấn thân của đội ngũ doanh nhân trong việc kiến tạo những động lực phát triển mới cho đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Câu chuyện của từng doanh nghiệp, doanh nhân sẽ được đặt trong góc nhìn đa chiều và bối cảnh rộng lớn hơn để lý giải vì sao có những doanh nghiệp vươn lên trở thành lực lượng dẫn dắt, vì sao có những doanh nhân sẵn sàng lựa chọn con đường khó, và vì sao khát vọng kinh doanh của những doanh nghiệp tiên phong luôn “gặp gỡ” khát vọng dân tộc… Qua đó khẳng định rằng, mỗi bước tiến của doanh nghiệp hôm nay đều có thể trở thành một dấu mốc quan trọng trên hành trình kiến tạo tương lai bền vững. Bởi xét đến cùng, năng lực cạnh tranh của quốc gia được tạo nên từ chính năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp; sức mạnh của nền kinh tế cũng được bồi đắp từ tầm nhìn, khát vọng và bản lĩnh của từng doanh nhân.

Trân trọng giới thiệu tới độc giả!

Nếu ở phần đầu của cuộc trò chuyện, vai trò của doanh nhân đã được nhận diện, thì một câu hỏi quan trọng hơn được đặt ra là: Điều gì sẽ tạo nên "đường băng" đủ dài để những khát vọng ấy có thể cất cánh?

Bởi thực tế cho thấy, trong một nền kinh tế đang chuyển mình, năng lực của doanh nghiệp không chỉ được quyết định bởi nội lực, mà còn được định hình bởi môi trường, từ khả năng tiếp cận vốn, công nghệ, nhân lực cho đến cơ hội tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu. Tất cả đều phụ thuộc rất lớn từ cách thiết kế thể chế, độ mở của "luật chơi" và hiệu quả của các chính sách hỗ trợ.

Nói cách khác, nếu doanh nhân là lực lượng tiên phong góp phần mở đường cho tăng trưởng, thì thể chế chính là nền tảng quyết định con đường ấy có thể đi xa đến đâu, đi nhanh đến mức nào và có bền vững hay không.

Tiếp tục cuộc trao đổi với Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam (Reatimes.vn), PGS. TSKH. Võ Đại Lược, Chủ tịch Hội đồng quản lý Trung tâm Kinh tế Thái Bình Dương (VAPEC), nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới cho rằng, trong giai đoạn phát triển mới, bài toán không chỉ là khơi dậy khát vọng hay thúc đẩy đổi mới, mà quan trọng hơn là phải chuyển từ tư duy "huy động nguồn lực" sang "nuôi dưỡng chủ thể tạo ra nguồn lực". Điều đó đòi hỏi một môi trường thể chế đủ mạnh, tổ chức thực thi hiệu lực, hiệu quả để không chỉ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, mà còn giúp họ tích lũy năng lực, làm chủ công nghệ và từng bước nâng cao vị thế cạnh tranh.

Từ góc nhìn đó, câu chuyện về thể chế không còn dừng lại ở cải cách thủ tục hay hoàn thiện khung pháp lý, mà là câu chuyện về cách thiết kế một hệ sinh thái phát triển - nơi các nguồn lực được kết nối hiệu quả, đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển thực chất và những doanh nhân dám dấn thân có thể chuyển hóa khát vọng thành sức mạnh cạnh tranh thực sự của nền kinh tế.

- Từ những yêu cầu mới của mô hình tăng trưởng và “luật chơi” toàn cầu như ông đã phân tích, có thể thấy vấn đề không chỉ dừng lại ở thay đổi tư duy mà là xây dựng những điều kiện nền tảng cho phát triển. Trong đó, đổi mới sáng tạo đang được xem là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Vậy làm thế nào để các doanh nghiệp truyền thống có thể tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo?

PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Đổi mới sáng tạo không chỉ là câu chuyện của khoa học, công nghệ, mà trước hết là câu chuyện của tư duy phát triển và cách chúng ta tổ chức, phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế. Nói cách khác, những điểm nghẽn hiện nay trong đổi mới sáng tạo thực chất cũng bắt nguồn từ cách các nguồn lực này được vận hành và kết nối.

Để các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp truyền thống, có thể tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, theo tôi cần bắt đầu từ việc xây dựng một nền tảng đủ mạnh cho đổi mới sáng tạo.

Trước hết là nguồn lực cho khoa học, công nghệ và hoạt động nghiên cứu - phát triển (R&D). Ở nhiều quốc gia, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo được hình thành dựa trên sự kết hợp giữa nguồn lực của Nhà nước, doanh nghiệp và các quỹ đầu tư chuyên biệt như quỹ thiên thần hay quỹ đầu tư mạo hiểm.

Những quỹ này đóng vai trò quan trọng trong việc “bắc cầu” giữa nghiên cứu và thị trường, hỗ trợ thương mại hóa các phát minh, sáng chế. Khi một ý tưởng hay một công nghệ mới được hình thành, các quỹ đầu tư sẽ cung cấp nguồn lực tài chính để đưa các sáng chế đó vào ứng dụng thực tiễn và phát triển thành sản phẩm trên thị trường. Trong khi đó, tại Việt Nam, cơ chế này vẫn còn khá hạn chế, số lượng và quy mô các quỹ đầu tư mạo hiểm chưa đủ lớn để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới.

Thứ hai là vấn đề kết nối trong hệ sinh thái. Đổi mới sáng tạo không thể diễn ra một cách đơn lẻ trong từng doanh nghiệp mà cần một mạng lưới liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ và các khu công nghệ cao. Chính sự kết nối này sẽ tạo ra sự lan tỏa tri thức, giúp các kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành sản phẩm và dịch vụ cụ thể. Đồng thời, các khu công nghệ cao cũng cần đóng vai trò trung tâm trong việc tiếp nhận và ứng dụng các phát minh, sáng chế mới từ trong và ngoài nước.

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 1.
Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 2.

Đổi mới sáng tạo không thể diễn ra một cách đơn lẻ trong từng doanh nghiệp mà cần một mạng lưới liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ và các khu công nghệ cao. (Ảnh minh họa)

Thứ ba, tôi muốn nhấn mạnh vai trò trung tâm của chính những doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân. Ở các nền kinh tế phát triển, đây chính là lực lượng trực tiếp tạo ra và dẫn dắt đổi mới, từ sản xuất, quản trị đến mô hình kinh doanh. Vì vậy, thay vì chỉ đóng vai trò “tiếp nhận”, doanh nghiệp cần được khuyến khích tham gia chủ động hơn vào quá trình sáng tạo và thương mại hóa công nghệ.

Tuy nhiên, yếu tố mang tính quyết định vẫn là con người và chiến lược phát triển nhân tài. Đổi mới sáng tạo suy cho cùng là sản phẩm của nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhiều quốc gia đã thành công khi coi nhân tài là nền tảng của đổi mới sáng tạo. Trung Quốc là một ví dụ đáng chú ý với các chương trình bài bản nhằm thu hút chuyên gia, đặc biệt là kiều bào quay trở về cống hiến và đóng góp cho hệ sinh thái đổi mới trong nước. Trong khi đó, Việt Nam vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một chiến lược đủ mạnh và nhất quán để quy tụ và phát huy nguồn lực này.

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 3.
Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 4.

Đổi mới sáng tạo không chỉ là câu chuyện của công nghệ, mà trước hết là câu chuyện của con người và chiến lược phát triển nhân tài. (Ảnh minh họa: CMC)

Bên cạnh đó, đổi mới sáng tạo đòi hỏi một môi trường học thuật cởi mở và cơ chế hợp tác quốc tế linh hoạt hơn. Trong bối cảnh tri thức ngày càng mang tính toàn cầu, việc tiếp cận công nghệ, trao đổi học thuật và hợp tác nghiên cứu quốc tế cần được tạo điều kiện thuận lợi.

Đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, đổi mới sáng tạo không thể chỉ dựa vào nguồn lực trong nước, mà phải gắn với quá trình hội nhập sâu rộng vào các mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu, từ tiếp cận công nghệ, học hỏi kinh nghiệm đến mở rộng hợp tác khoa học - công nghệ.

Nói cách khác, để doanh nghiệp tham gia sâu vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, điều quan trọng không chỉ là “có công nghệ”, mà là phải xây dựng được một hệ sinh thái đủ mở, đủ liên kết và đủ khuyến khích, nơi các nguồn lực được phân bổ hiệu quả và công nghệ có thể được hình thành, lan tỏa và ứng dụng vào thực tiễn. Khi đó, ngay cả các doanh nghiệp truyền thống cũng có thể từng bước tham gia và trở thành một phần của quá trình đổi mới.

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 5.
Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 6.

Với phương châm trở thành một thành phố cây xanh lớn nhất Việt Nam, Ecopark không chỉ là một khu dân cư, mà còn là một khu đô thị sinh thái xanh với đầy đủ tiện ích, dịch vụ hiện đại bậc nhất. (Ảnh: Ecopark)

- Nếu đổi mới sáng tạo là con đường tất yếu để doanh nghiệp nâng cấp vị thế, thì theo ông, yếu tố nào sẽ quyết định việc doanh nghiệp Việt Nam có thể xây dựng năng lực nội sinh, làm chủ công nghệ và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu?

PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Nhìn ở cấp độ doanh nghiệp, chúng ta nói nhiều đến công nghệ, nhân lực hay chiến lược đầu tư, thì nhìn sâu hơn, yếu tố mang tính quyết định lại ở chính môi trường thể chế và cách Nhà nước thiết kế “luật chơi” cho thị trường. Nói cách khác, tôi cho rằng thể chế chính là nền tảng quyết định doanh nghiệp có thể tích lũy và phát huy năng lực nội sinh hay không.

Trước hết, một môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và khuyến khích sáng tạo là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp dám đầu tư dài hạn. Thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với không ít rào cản về thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ và các chi phí phát sinh. Khi nguồn lực còn bị phân tán cho những vấn đề này, doanh nghiệp rất khó tập trung cho các khoản đầu tư có tính chiến lược như đổi mới công nghệ, nghiên cứu - phát triển hay nâng cấp quản trị.

Trong khi đó, để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, doanh nghiệp không chỉ cần vốn mà quan trọng hơn là cần thời gian và “không gian chính sách” đủ rộng để thử nghiệm, điều chỉnh và nâng cấp năng lực. Nếu môi trường kinh doanh còn mang tính ngắn hạn, thiếu ổn định và chưa tạo điều kiện cho các dự án đầu tư dài hạn, doanh nghiệp sẽ rất khó chuyển từ gia công sang các khâu có giá trị gia tăng cao hơn.

Thứ hai, thể chế cần tạo ra động lực thực sự cho đổi mới sáng tạo. Điều này không chỉ dừng ở các chính sách khuyến khích chung, mà phải cụ thể hóa bằng các cơ chế hỗ trợ rõ ràng như ưu đãi thuế cho hoạt động R&D, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dài hạn. Trong nhiều trường hợp, rào cản lớn nhất không phải là thiếu ý tưởng hay công nghệ, mà là thiếu cơ chế để những ý tưởng đó được nuôi dưỡng và phát triển thành sản phẩm.

Nói cách khác, khi “luật chơi” thực sự khuyến khích đổi mới, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh và tạo điều kiện cho đầu tư dài hạn, doanh nhân Việt Nam hoàn toàn có thể từng bước làm chủ công nghệ và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 7.

Trung tâm Sunshine R&D của Sunshine Group tại Khu đô thị Đại Phước (Đồng Nai) là chiến lược đầu tư R&D lớn nhất từ khu vực tư nhân Việt Nam từ trước tới nay.

- Trong bối cảnh cần huy động hiệu quả cả nguồn lực Nhà nước và khu vực tư nhân, tinh thần “công - tư đồng kiến quốc” đang được nhấn mạnh như một hướng tiếp cận quan trọng. Theo ông, mô hình hợp tác công - tư cần được triển khai như thế nào để phát huy hiệu quả trong giai đoạn phát triển mới?

PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Theo tôi, tinh thần “công - tư đồng kiến quốc” trước hết phải được hiểu là sự kết hợp hiệu quả giữa vai trò kiến tạo của Nhà nước và năng lực vận hành của khu vực kinh tế tư nhân. Nói cách khác, Nhà nước tạo lập khuôn khổ, định hướng và bảo đảm các mục tiêu dài hạn, còn khu vực kinh tế tư nhân đảm nhận vai trò tổ chức thực thi, vận hành và tối ưu hóa hiệu quả. Hay có thể nói, việc quản trị, vận hành cần giao cho những người thực sự có năng lực, đặc biệt là các nhà quản trị chuyên nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân.

Trong một chuyến công tác tại Đức vào thời điểm nước này vừa hoàn tất tiến trình thống nhất Đông và Tây Đức, tôi có dịp trao đổi với một số giáo sư và chuyên gia kinh tế hàng đầu của họ. Tôi từng đặt câu hỏi về các doanh nghiệp nhà nước ở Đông Đức - vốn từng được đánh giá là hiệu quả nhất trong khối xã hội chủ nghĩa giờ ra sao. Họ nói rằng phần lớn các doanh nghiệp đó đã được bán lại cho khu vực tư nhân, thậm chí có những doanh nghiệp được chuyển nhượng với mức giá rất thấp.

Nhưng điều quan trọng là Chính phủ Liên bang Đức đã lựa chọn rất kỹ những nhà quản trị tư nhân xuất sắc nhất, những người có năng lực, tầm nhìn và kinh nghiệm để tiếp nhận và điều hành các doanh nghiệp này. Nhờ đó, chỉ sau vài năm, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đó được cải thiện rõ rệt, lợi nhuận và nguồn thu ngân sách tăng gấp nhiều lần so với thời kỳ do bộ máy nhà nước trực tiếp quản lý.

Từ câu chuyện đó có thể thấy, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc vốn của ai, mà là ai quản trị và quản trị như thế nào. Trong mô hình hợp tác công - tư, nếu lựa chọn được đúng nhà đầu tư và đội ngũ quản trị có năng lực thì cùng một nguồn lực có thể tạo ra hiệu quả hoàn toàn khác.

Ngoài ra, để PPP phát huy hiệu quả trong giai đoạn mới, cần thiết kế các cơ chế hợp đồng đủ linh hoạt và minh bạch, đặc biệt là trong phân chia lợi ích và rủi ro. Các dự án hạ tầng, năng lượng hay chuyển đổi số thường có vòng đời dài và mức độ rủi ro cao, do đó nếu không có cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân sẽ khó tham gia mạnh mẽ.

Nhìn rộng ra, chìa khóa của hợp tác công - tư không chỉ nằm ở nguồn lực hay chủ thể tham gia, mà ở cách thiết kế thể chế, từ lựa chọn nhà đầu tư, phân bổ rủi ro đến cơ chế giám sát và vận hành. Trong đó, yếu tố con người, đặc biệt là đội ngũ quản trị đóng vai trò quyết định hiệu quả thực thi. Khi có được những nhà quản trị đủ năng lực và một cơ chế vận hành phù hợp, PPP hoàn toàn có thể trở thành một động lực quan trọng để huy động nguồn lực xã hội và thúc đẩy phát triển trong giai đoạn mới.

- Từ góc nhìn của ông, thể chế chính là “chìa khóa” cho sự phát triển của doanh nghiệp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã bắt đầu nhiệm kỳ mới với yêu cầu hành động quyết liệt, tháo gỡ các điểm nghẽn và đưa các chủ trương phát triển vào thực tiễn. Ông có thể chia sẻ cụ thể đâu là những đột phá thể chế quan trọng nhất cần được tiếp tục thúc đẩy để tạo dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi và ổn định cho doanh nghiệp phát triển?

PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Nếu như trong mô hình hợp tác công - tư, vấn đề cốt lõi là cách thiết kế cơ chế vận hành để phân bổ và vận hành nguồn lực hiệu quả, thì yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện nền tảng thể chế của toàn bộ nền kinh tế. Đây chính là điều kiện tiên quyết để những cơ chế như PPP có thể vận hành hiệu quả và bền vững.

Hiện nay, hệ thống luật pháp của chúng ta vẫn còn nhiều bất cập, chưa thực sự tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển. Đây cũng là một trong những điểm nghẽn lớn khiến Việt Nam khó bứt phá, như nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có Ngân hàng Thế giới đã từng nhận định.

Nếu nhìn vào lịch sử phát triển của các nền kinh tế như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) hay Singapore, có thể thấy một điểm chung là họ rất chú trọng đến việc xây dựng một hệ thống thể chế hiện đại và phù hợp với nền kinh tế thị trường. Trong nhiều giai đoạn, họ thậm chí chủ động tiếp thu, “nội địa hóa” các mô hình pháp luật và thể chế tiên tiến từ bên ngoài để rút ngắn quá trình phát triển.

Chẳng hạn, trong thời kỳ Minh Trị, Nhật Bản đã lựa chọn một cách tiếp cận rất thực tế khi mạnh dạn tiếp thu các mô hình pháp luật, thể chế và khoa học, công nghệ của phương Tây. Nhờ những cải cách quyết liệt đó, chỉ trong vài thập niên, Nhật Bản đã chuyển mình thành một cường quốc. Sau đó, Đài Loan (Trung Quốc) cũng có những bước đi tương tự trong quá trình hoàn thiện thể chế. Đây là bài học quan trọng về tư duy cải cách thể chế theo hướng mở và chủ động.

Từ thực tiễn đó, theo tôi, có một số đột phá thể chế quan trọng cần được thúc đẩy trong thời gian tới.

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng minh bạch, ổn định và dễ dự báo hơn, qua đó giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.

Thứ hai, cần nâng cao vai trò của Quốc hội trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật, bảo đảm các bộ luật quan trọng được thiết kế với tầm nhìn dài hạn và phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, cần thành lập các hội đồng tư vấn chuyên sâu để tham gia vào quá trình xây dựng các bộ luật quan trọng. Những hội đồng này không chỉ bao gồm các chuyên gia trong nước mà còn có thể mời các tổ chức quốc tế và các chuyên gia có kinh nghiệm từ bên ngoài tham gia tư vấn. Qua đó, chúng ta có thể tiếp thu những kinh nghiệm quốc tế tốt nhất để xây dựng một hệ thống thể chế hiện đại và phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế.

Và quan trọng hơn, cải cách thể chế không chỉ dừng lại ở việc “viết luật”, mà phải bảo đảm luật đi vào cuộc sống một cách hiệu quả và nhất quán, tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và khuyến khích sáng tạo. Chỉ khi đó doanh nghiệp mới có thể mạnh dạn đầu tư, đổi mới và phát triển bền vững.

Ta cần một môi trường thể chế đủ mạnh để nuôi dưỡng, khuyến khích những “khát vọng lớn”. Khi đó, thể chế sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp và nền kinh tế bứt phá trong giai đoạn phát triển mới.

- Có thể nói, vấn đề không chỉ là cải thiện môi trường kinh doanh, mà là tạo ra những “đòn bẩy chính sách” đủ mạnh để thúc đẩy các doanh nghiệp dẫn dắt. Trong bối cảnh Việt Nam muốn hình thành các doanh nghiệp có tầm vóc khu vực và toàn cầu, cần cơ chế gì để hỗ trợ các doanh nghiệp tiên phong, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ, năng lượng và hạ tầng chiến lược, thưa ông?

PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Theo tôi, một hướng đi cần được xem xét là xây dựng một đạo luật riêng về doanh nghiệp tư nhân Việt Nam để thúc đẩy khu vực doanh nghiệp này phát triển mạnh mẽ hơn. Trong nhiều năm qua, khu vực kinh tế tư nhân đã có bước phát triển đáng kể, nhưng nhìn tổng thể các chính sách hỗ trợ vẫn còn phân tán, thiếu sự phối hợp và chưa tạo được động lực đủ mạnh để doanh nghiệp bứt phá. Nếu muốn hình thành những “đầu tàu” thực sự, cần có các cơ chế mang tính chiến lược, giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực một cách hiệu quả hơn.

Đặc biệt, đối với các lĩnh vực nền tảng như công nghệ cao, năng lượng hay hạ tầng chiến lược, cần có các cơ chế tài chính và chính sách đủ mạnh để khuyến khích đầu tư dài hạn. Đây là những ngành đòi hỏi vốn lớn, chu kỳ đầu tư dài và mức độ rủi ro cao, nên nếu chỉ dựa vào nguồn lực thị trường, doanh nghiệp tư nhân rất khó tham gia ở quy mô lớn. Các công cụ như ưu đãi thuế, vốn, quỹ đầu tư phát triển hay các hình thức hợp tác với Nhà nước cần được thiết kế đồng bộ để tạo “đòn bẩy” cho khu vực kinh tế tư nhân.

Bên cạnh đó, cần mở rộng không gian thị trường cho doanh nghiệp trong nước, đặc biệt thông qua các dự án lớn và các chương trình đầu tư công. Nếu được tham gia sâu hơn vào các dự án hạ tầng, năng lượng hay chuyển đổi số quốc gia, doanh nghiệp tư nhân không chỉ có cơ hội tích lũy kinh nghiệm mà còn nâng cao năng lực công nghệ và quản trị ở quy mô lớn.

Một điểm rất quan trọng là phải bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Khi doanh nghiệp tư nhân có cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển một cách công bằng, họ sẽ có thể trở thành lực lượng tiên phong trong nhiều lĩnh vực mới.

Tôi cho rằng, nếu có được những chính sách đúng và cơ chế phù hợp, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng được các doanh nghiệp tư nhân có tầm vóc khu vực và từng bước khẳng định vị thế trên thị trường toàn cầu.

- Như ông đã đề cập, thực tế cho thấy, một số doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu bước ra thị trường quốc tế với những bước đi khá táo bạo, như VinFast, FPT hay TH. Theo ông, những câu chuyện này phản ánh điều gì về sự thay đổi trong tư duy và khát vọng của thế hệ doanh nhân Việt Nam thời đại mới?

PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Có thể nói, một lớp “doanh nhân dân tộc” đang dần xuất hiện, họ là những người không chỉ phát triển doanh nghiệp vì lợi ích kinh tế mà còn gắn khát vọng phát triển doanh nghiệp với khát vọng phát triển của đất nước. Họ có thể được xem như những “người mở đường” cho quá trình hiện đại hóa và nâng cao vị thế kinh tế của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu.

Và tôi cho rằng, mỗi doanh nghiệp đang mở ra một hướng đi khác nhau cho kinh tế Việt Nam.

Hiện nay, đã có những doanh nhân sẵn sàng bước vào những ngành công nghiệp công nghệ cao và mức độ cạnh tranh rất lớn.

Ở góc độ đó, VinFast không chỉ là câu chuyện riêng của một doanh nghiệp, mà còn cho thấy khát vọng của một thế hệ doanh nhân muốn khẳng định năng lực của người Việt trong những ngành công nghiệp hiện đại. Khi một doanh nghiệp Việt Nam dám đầu tư vào lĩnh vực như ô tô điện - một lĩnh vực có mức độ cạnh tranh rất cao trên thế giới, cho thấy một sự thay đổi đáng kể trong tư duy phát triển: Từ “đi sau” sang “đi cùng và từng bước vươn lên”. Và VinFast, theo tôi, đang trở thành một biểu tượng cho khát vọng công nghiệp hóa của Việt Nam trên bản đồ kinh tế thế giới.

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 8.
Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 9.
Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 10.

VinFast đang trở thành một biểu tượng cho khát vọng công nghiệp hóa của Việt Nam trên bản đồ kinh tế thế giới.

Trong khi đó, FPT lại cho thấy con đường hội nhập khác thông qua công nghệ và dịch vụ số. Việc mở rộng hoạt động sang nhiều thị trường quốc tế trong lĩnh vực phần mềm, chuyển đổi số hay trí tuệ nhân tạo cho thấy doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể cạnh tranh bằng tri thức và công nghệ.

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 11.

FPT chứng minh rằng doanh nghiệp Việt hoàn toàn có thể hội nhập bằng chính năng lực sáng tạo của mình và đưa trí tuệ Việt Nam cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. (Ảnh minh họa)

Còn với TH, hướng đi lại nằm ở việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp và xây dựng mô hình phát triển bền vững. Những dự án nông nghiệp quy mô lớn, áp dụng công nghệ hiện đại cho thấy một tư duy mới trong phát triển nông nghiệp: Chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình nông nghiệp công nghệ cao, gắn với chuỗi giá trị toàn cầu.

Một tín hiệu đáng chú ý là số lượng doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đầu tư ra nước ngoài trong những năm gần đây đang có xu hướng gia tăng. Theo Số liệu của Cục Thống kê, trong năm 2025, tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, bao gồm cấp mới và điều chỉnh đạt hơn 1,36 tỷ USD, tăng 88,7% so với năm 2024.

Rõ ràng, có thể thấy tư duy của doanh nhân Việt Nam đang dần thay đổi: Từ “an toàn” sang “chấp nhận thách thức”, từ “gia công” sang “tạo giá trị” và từ “nội địa” sang “toàn cầu”. Đây là một tín hiệu tích cực đối với quá trình hiện đại hóa nền kinh tế.

Tuy nhiên, tôi vẫn muốn nhấn mạnh rằng, để những doanh nghiệp như vậy phát triển mạnh hơn, vẫn cần một môi trường thể chế thuận lợi và ổn định, như những chính sách hỗ trợ rõ ràng hơn trong việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài. Việc đầu tư ra thị trường quốc tế không chỉ giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, mà còn là cơ hội để tiếp cận công nghệ mới, mô hình quản trị hiện đại và những ý tưởng phát triển tiên tiến.

Khi doanh nhân có đủ điều kiện để theo đuổi những dự án lớn và dài hạn, chúng ta có thể kỳ vọng sẽ xuất hiện thêm nhiều doanh nghiệp Việt Nam có khả năng cạnh tranh và khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.

- Có thể nói, phía sau những bước đi tiên phong của các doanh nghiệp như VinFast không chỉ là chiến lược kinh doanh, mà còn là bản lĩnh chấp nhận rủi ro của doanh nhân dẫn dắt. Câu chuyện của VinFast hay doanh nhân Phạm Nhật Vượng thường được nhắc tới như một minh chứng cho tinh thần dấn thân trong kinh doanh. Theo PGS. TSKH. Võ Đại Lược, tinh thần “dám nghĩ, dám làm và dám chịu rủi ro” của những doanh nhân như vậy có ý nghĩa như thế nào đối với khát vọng công nghiệp hóa và tự cường của nền kinh tế Việt Nam?

PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Thực tế, khu vực doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam vẫn chủ yếu phát triển mạnh trong một số lĩnh vực như bất động sản hay dịch vụ. Những doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào các ngành chế tạo, công nghiệp công nghệ cao như ông Phạm Nhật Vượng vẫn còn rất ít.

Trong bối cảnh đó, tinh thần “dám nghĩ, dám làm và dám chịu rủi ro” của những doanh nhân như vậy không chỉ là câu chuyện của một doanh nghiệp, mà còn mở ra một hướng đi tốt cho nền kinh tế.

Trong nhiều trường hợp, bước ngoặt của phát triển không nằm ở nguồn lực, mà nằm ở ý tưởng và tư duy. Tôi từng có dịp đến Quảng Ninh, nơi có một khu vực cảng khá lớn, khi đó, lãnh đạo địa phương đã thuê chuyên gia nước ngoài khảo sát. Sau khi nghiên cứu, chuyên gia này đề xuất một phương án khá táo bạo là lấp khu cảng này để phát triển hệ thống hạ tầng và không gian đô thị mới. Sau khi triển khai theo hướng đó, khu vực này đã trở thành một “vùng đất vàng”, mang lại giá trị kinh tế rất lớn.

Điều đó cho thấy, nếu có tầm nhìn đủ rộng và dám lựa chọn những hướng đi khác biệt, những nguồn lực tưởng chừng quen thuộc vẫn có thể tạo ra giá trị hoàn toàn mới.

Xét về vị thế địa kinh tế, Việt Nam nằm ở trung tâm của khu vực châu Á, có đường bờ biển dài, phía sau là rừng núi và tài nguyên phong phú. Đây là những điều kiện mà không nhiều quốc gia có được, nhưng lợi thế ấy chỉ thực sự trở thành động lực khi được khai thác bằng tư duy mới và những quyết định đủ táo bạo. Vấn đề quan trọng không chỉ là “có gì”, mà là “nhìn thấy gì” và “dám làm đến đâu”.

Chính vì vậy, nền kinh tế Việt Nam rất cần những tinh thần dấn thân như doanh nhân Phạm Nhật Vượng: Dám nghĩ lớn, dám bước vào những lĩnh vực mới và chấp nhận những thách thức lớn. Nhưng quan trọng hơn, đó là những doanh nghiệp có tầm nhìn để nhận ra các động lực phát triển của đất nước và biến những lợi thế ấy thành tài sản, thành động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 12.

Câu chuyện của VinFast thường được nhắc tới như một minh chứng cho tinh thần dấn thân trong kinh doanh.

- Theo ông, những doanh nhân tiên phong như vậy có thể đóng vai trò như thế nào trong việc xây dựng “thương hiệu Việt Nam” trên thị trường toàn cầu?

PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Nếu ở góc độ trước đó, chúng ta nói nhiều đến vai trò “mở đường” của doanh nhân trong việc mở ra các lĩnh vực mới, thì sâu xa hơn, những doanh nghiệp tiên phong còn đóng vai trò như những “đại diện” của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Thông qua họ, hình ảnh về năng lực sản xuất, trình độ công nghệ và uy tín của nền kinh tế Việt Nam được thể hiện rõ nét trên thị trường quốc tế.

Khi một doanh nghiệp Việt Nam có thể xây dựng thương hiệu đủ sức cạnh tranh ở các thị trường lớn, điều đó không chỉ mang lại giá trị kinh tế cho doanh nghiệp mà còn nâng cao vị thế, uy tín trên trường quốc tế và tăng khả năng cạnh tranh. Ở một góc độ nào đó, thương hiệu doanh nghiệp cũng chính là một yếu tố quan trọng góp phần định hình “thương hiệu quốc gia”.

Hơn thế, những doanh nghiệp tiên phong còn có khả năng tạo ra hiệu ứng lan tỏa. Khi một doanh nghiệp vươn ra được thị trường quốc tế, điều đó không chỉ mở rộng cơ hội cho chính doanh nghiệp đó, mà còn góp phần “mở đường” cho các doanh nghiệp khác, từ việc học hỏi kinh nghiệm, nâng cao tiêu chuẩn sản xuất cho đến tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Ở chiều ngược lại, chính áp lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng buộc doanh nghiệp phải tuân thủ những chuẩn mực cao hơn, không chỉ về chất lượng sản phẩm mà còn về công nghệ, quản trị, minh bạch và phát triển bền vững. Khi ngày càng nhiều doanh nghiệp đạt được những chuẩn mực này, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng sẽ được nâng lên một cách thực chất.

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 13.

Một khía cạnh khác cần nhấn mạnh là vai trò của doanh nghiệp trong việc định vị ngành. Những doanh nghiệp tiên phong, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng hay hạ tầng, không chỉ bán sản phẩm ra thế giới mà đang góp phần định hình cách thế giới nhìn nhận về năng lực của Việt Nam trong các ngành đó. Đây là một bước chuyển rất quan trọng, từ việc tham gia chuỗi giá trị với vai trò gia công sang từng bước xây dựng vị thế ở các khâu có giá trị gia tăng cao hơn.

Có thể nói, mỗi doanh nghiệp thành công trên thị trường quốc tế chính là một “điểm tựa uy tín” cho hình ảnh quốc gia. Khi những điểm tựa đó ngày càng nhiều và đủ mạnh, “thương hiệu Việt Nam” sẽ ngày càng được định hình rõ nét từ chính năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt trên thị trường toàn cầu.

- Nếu như trong công nghiệp, những doanh nghiệp như VinFast thể hiện tinh thần dám đi vào những lĩnh vực khó, thì ở một hướng khác, ngày càng có nhiều doanh nghiệp lựa chọn con đường phát triển xanh, bền vững và dài hạn. Thưa ông, những mô hình phát triển xanh của các doanh nghiệp như TH có thể đóng góp như thế nào vào quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh của Việt Nam?

PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Trong giai đoạn hiện nay, tiêu chí phát triển đang dần chuyển sang một thước đo cao hơn, đó là tính bền vững và trách nhiệm với môi trường. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi sang nền kinh tế xanh là một xu thế tất yếu của thế giới.

Trong quá trình đó, vai trò của doanh nghiệp là rất quan trọng, bởi doanh nghiệp chính là nơi trực tiếp quyết định cách thức sản xuất, sử dụng tài nguyên và phát thải. Nếu không có sự chuyển đổi từ khu vực doanh nghiệp, các mục tiêu về giảm phát thải, kinh tế tuần hoàn hay phát triển bền vững rất khó có thể đạt được một cách thực chất.

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 14.
Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 15.

Tâp đoàn TH là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam thực hiện chuyển đổi một phần đồng cỏ, đàn bò sang chăn nuôi organic (hữu cơ) để sản xuất sữa tươi organic theo tiêu chuẩn Châu Âu. (Ảnh: Tập đoàn TH)

Thực tế cũng đã xuất hiện những doanh nghiệp tư nhân đi trước trong lĩnh vực này. Như tôi đã đề cập, Tập đoàn TH lựa chọn xây dựng mô hình nông nghiệp công nghệ cao theo hướng kinh tế tuần hoàn. Tại các trang trại bò sữa công nghệ cao, toàn bộ chuỗi sản xuất được tổ chức theo hướng tuần hoàn khép kín, từ đồng cỏ, chăn nuôi đến chế biến sản phẩm. Chất thải được xử lý để quay trở lại phục vụ sản xuất, nước thải được xử lý và tái sử dụng, năng lượng tái tạo và lò hơi sinh khối giúp giảm đáng kể lượng khí thải trong sản xuất. Ở đó, mỗi khâu không chỉ được tính toán về hiệu quả kinh tế, mà còn được đặt trong mối quan hệ hài hòa với môi trường và hệ sinh thái.

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 16.
Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 17.
Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 18.

Các sản phẩm thương hiệu TH true MILK ra đời đã nhanh chóng chiếm được niềm tin của người tiêu dùng nhờ chất lượng sản phẩm luôn tuân theo những giá trị cốt lõi mà Tập đoàn TH đã xác định như: Vì sức khỏe cộng đồng, Hoàn toàn từ thiên nhiên, Tươi - ngon - bổ dưỡng, Thân thiện với môi trường...

Điều đáng chú ý là đằng sau những mô hình như vậy cho thấy một cách tiếp cận phát triển khác - một cách làm coi trọng sự bền vững, coi trọng trách nhiệm và ở một tầng sâu hơn, là sự tử tế trong kinh doanh. Khi doanh nghiệp lựa chọn tạo ra những sản phẩm an toàn hơn, những quy trình sạch hơn, họ không chỉ đang làm kinh tế, mà còn đang góp phần nâng cao chất lượng sống của xã hội.

Những đóng góp ấy cũng đã được quốc tế ghi nhận. Năm 2025, Anh hùng Lao động Thái Hương được Tổng thống Nga Vladimir Putin trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị tại Điện Kremlin. Điều này cho thấy những mô hình phát triển xanh và bền vững của doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể tạo được dấu ấn và uy tín trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, doanh nghiệp muốn “xanh hóa” cũng không thể chỉ dựa vào nỗ lực của riêng mình. Để những mô hình như TH có thể lan tỏa, cần có hệ thống chính sách, cơ chế và nguồn lực hỗ trợ từ phía Nhà nước, như tín dụng xanh, hỗ trợ lãi suất cho các dự án thân thiện với môi trường, hoàn thiện các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với thông lệ quốc tế…

Trong quá trình đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước cần đóng vai trò tiên phong. Khi những doanh nghiệp lớn của Nhà nước thực hiện các tiêu chuẩn xanh một cách nghiêm túc, họ sẽ tạo ra những chuẩn mực mới cho thị trường, qua đó, khu vực doanh nghiệp tư nhân sẽ có thêm động lực và cơ sở để chuyển đổi theo.

Có thể nói, các mô hình phát triển xanh như TH không chỉ góp phần giảm tác động môi trường, mà còn đang mở ra một hướng nâng cấp mới cho nền kinh tế, nơi tăng trưởng gắn liền với chất lượng, hiệu quả và khả năng hội nhập sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 20.
Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 21.

FVF (Thuộc tập đoàn TH) là dự án đóng vai trò tiên phong trong nền nông nghiệp hữu cơ. (Ảnh: Tập đoàn TH)

- Đằng sau những mô hình phát triển xanh ấy, có thể thấy rõ sự thay đổi trong cách doanh nghiệp nhìn nhận về vai trò và trách nhiệm của mình. Thưa ông, những triết lý kinh doanh gắn với sức khỏe cộng đồng và trách nhiệm xã hội phản ánh điều gì về sứ mệnh của một lớp doanh nhân Việt Nam mới?

PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Có lẽ, điều đáng nói ở đây không chỉ là một cách làm mới, mà là một cách nghĩ mới. Khi doanh nghiệp bắt đầu đặt câu hỏi “mình mang lại điều gì cho xã hội”, thay vì chỉ “mình đạt được bao nhiêu lợi nhuận”, thì đó đã là một bước chuyển rất quan trọng về tư duy phát triển.

Trong giai đoạn phát triển mới, doanh nghiệp không thể chỉ theo đuổi mục tiêu lợi nhuận đơn thuần, mà cần đặt hoạt động sản xuất - kinh doanh trong mối quan hệ hài hòa với môi trường, xã hội và lợi ích dài hạn của cộng đồng. Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế phải đi cùng với trách nhiệm xã hội và chất lượng phát triển.

Tôi muốn nhắc tới Tập đoàn TH với triết lý phát triển gắn với sức khỏe cộng đồng và phát triển bền vững. Bên cạnh mô hình nông nghiệp công nghệ cao theo hướng kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, bà Thái Hương nhiều lần nhấn mạnh định hướng phát triển thực phẩm sạch, dinh dưỡng lành mạnh cho người dân, đồng thời tiên phong tham gia các chương trình như Sữa học đường hay nhiều sáng kiến dinh dưỡng dành cho trẻ em. Có thể thấy, đằng sau những lựa chọn ấy không chỉ là chiến lược kinh doanh mà còn là cách doanh nghiệp theo đuổi những giá trị tử tế như một nền tảng phát triển lâu dài.

Nhìn rộng hơn, mô hình này gắn với khái niệm “doanh nghiệp vì xã hội”, nghĩa là doanh nghiệp phát triển nhưng đồng thời cũng đóng góp trở lại cho cộng đồng. Khi doanh nghiệp gắn lợi ích của mình với lợi ích của cộng đồng, thì tăng trưởng kinh tế sẽ không chỉ dừng lại ở con số mà được phản ánh bằng những cải thiện thực chất về đời sống xã hội. Và đó mới là nền tảng bền vững cho một quốc gia phát triển lâu dài.

- Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cũng đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ doanh nhân có tinh thần yêu nước, trách nhiệm xã hội và thượng tôn pháp luật. Theo ông, những phẩm chất này có ý nghĩa như thế nào trong việc hình thành một lớp “doanh nhân dân tộc” gắn sự phát triển của doanh nghiệp với lợi ích quốc gia?

PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Chúng ta nói nhiều đến trách nhiệm xã hội và triết lý kinh doanh. Những yêu cầu như tinh thần yêu nước, ý thức thượng tôn pháp luật và trách nhiệm với quốc gia chính là các chuẩn mực nền tảng để định hình một lớp doanh nhân dân tộc trong giai đoạn phát triển mới. Đây trở thành điều kiện để bảo đảm sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế.

Trước hết, tinh thần yêu nước trong bối cảnh hiện nay được thể hiện bằng những lựa chọn phát triển có trách nhiệm: Đầu tư vào các lĩnh vực then chốt, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt và góp phần củng cố nền tảng kinh tế quốc gia. Khi doanh nhân đặt mục tiêu phát triển của doanh nghiệp trong mối liên hệ với lợi ích dài hạn của đất nước, họ sẽ có xu hướng lựa chọn những chiến lược bền vững hơn, thay vì chạy theo lợi ích ngắn hạn.

Thứ hai, thượng tôn pháp luật là yếu tố đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch và hiện đại. Một nền kinh tế muốn phát triển lành mạnh phải dựa trên các chuẩn mực rõ ràng, nơi mọi chủ thể đều tuân thủ luật pháp và cạnh tranh một cách công bằng. Khi doanh nhân coi việc tuân thủ pháp luật là nguyên tắc cốt lõi, họ không chỉ bảo vệ doanh nghiệp của mình trước rủi ro mà còn góp phần nâng cao chất lượng thể chế và niềm tin của thị trường.

Bên cạnh đó, trách nhiệm xã hội của doanh nhân trong giai đoạn mới cũng cần được nhìn nhận ở phạm vi rộng hơn. Không chỉ dừng lại ở các hoạt động thiện nguyện hay hỗ trợ cộng đồng, trách nhiệm xã hội còn thể hiện ở việc doanh nghiệp tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị, đóng góp cho ngân sách, tạo việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây chính là những đóng góp mang tính nền tảng đối với sự phát triển của nền kinh tế.

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 22.
Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 23.

“Doanh nhân dân tộc” trong thời kỳ mới chính là những người vừa làm kinh tế giỏi, vừa ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với xã hội và quốc gia. (Ảnh minh họa)

Có thể kể tới như Vingroup với Giải thưởng VinFuture - một Giải thưởng được nhiều chuyên gia đánh giá cùng đẳng cấp với giải Nobel, nhằm tôn vinh các nghiên cứu khoa học và các phát minh, sáng chế đổi mới công nghệ ở tất cả các lĩnh vực khoa học, công nghệ, mang lại những tiến bộ quan trọng cho cuộc sống con người và cải thiện môi trường sống bền vững cho tương lai.

Đó chính là hình ảnh của “doanh nhân dân tộc” trong thời kỳ mới - những người vừa làm kinh tế giỏi, vừa ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với xã hội và quốc gia. Và chính từ đó, khái niệm “làm giàu cho mình” được mở rộng thành “làm giàu cho nước” trong một nghĩa đầy đủ và bền vững hơn.

- Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng vươn lên mạnh mẽ, ông muốn gửi gắm thông điệp gì tới cộng đồng doanh nhân Việt Nam?

PGS. TSKH. Võ Đại Lược: Trong giai đoạn phát triển mới, tôi cho rằng điều làm nên sức mạnh của doanh nghiệp trước hết vẫn là tinh thần sáng tạo.

Nhưng sáng tạo ở đây cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Đó không chỉ là đổi mới về khoa học - công nghệ, mà còn là khả năng tìm ra những cách làm mới trong tổ chức sản xuất, trong tiếp cận thị trường, trong quản trị doanh nghiệp và đặc biệt là trong cách kết nối các nguồn lực. Trong một thế giới đang biến đổi rất nhanh, doanh nghiệp nếu không liên tục đổi mới sẽ rất khó duy trì được lợi thế cạnh tranh và tạo ra những bước tiến lớn. Giá trị của một doanh nghiệp, thậm chí của một quốc gia, nhiều khi cũng được quyết định bởi năng lực sáng tạo đó.

Nhưng sáng tạo thôi chưa đủ. Doanh nhân còn cần một điều quan trọng hơn, đó là cái tâm và trách nhiệm với xã hội. Bởi đằng sau thành công của doanh nghiệp luôn có sự “đóng góp vô hình” của xã hội, từ môi trường kinh doanh, từ thị trường và từ niềm tin của cộng đồng. Vì vậy, doanh nhân phải có trách nhiệm với cộng đồng và với sự phát triển chung của đất nước.

Đó là hai yếu tố doanh nhân Việt Nam trong giai đoạn mới cần có. Khi sáng tạo được đặt trên nền tảng của cái tâm và trách nhiệm với cộng đồng, thì những giá trị mà doanh nghiệp tạo ra không chỉ cho chính doanh nghiệp, mà còn trực tiếp góp phần mở rộng “biên độ phát triển” của quốc gia.

Tôi cho rằng, khát vọng vươn lên của dân tộc chỉ có thể trở thành hiện thực khi được “thắp lửa” từ chính khát vọng đổi mới và dấn thân của cộng đồng doanh nhân. Và đó cũng là sứ mệnh lớn nhất của doanh nhân Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

- Xuyên suốt cuộc trò chuyện, PGS. TSKH. Võ Đại Lược nhiều lần nhấn mạnh niềm tin của ông vào một lớp doanh nhân Việt Nam năng động, bản lĩnh, trách nhiệm và khát vọng, có thể góp phần đưa đất nước tiến xa hơn trên con đường tự cường và thịnh vượng.

Xin trân trọng cảm ơn PGS. TSKH. Võ Đại Lược vì những chia sẻ sâu sắc và đầy tâm huyết, góp phần truyền thêm cảm hứng cho cộng đồng doanh nhân Việt Nam trong hành trình đổi mới và phát triển./.

Kiến tạo chính sách để doanh nhân dân tộc mở rộng “biên độ” phát triển của Việt Nam - Ảnh 24.

 

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top