Kinh tế, đô thị và bất động sản biển Việt Nam

Đô thị biển ở Việt Nam được định hướng phát triển gắn với các khu kinh tế ven biển trên nguyên tắc không gây ô nhiễm và bảo đảm hiệu quả trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Trên thực tế, trong thời gian vừa qua các khu kinh tế của nước ta được đánh giá là hoạt động chưa đạt hiệu quả cao.

Xưa kia khi giao thông trên biển chưa thuận tiện, bảo vệ bờ biển còn rất khó khăn trước ngoại xâm và thiên tai thì các hạng mục kinh tế biển chưa thể phát triển, các quốc gia có biển thường gặp khó khăn khi phải chống chọi với xâm lược và thiên tai từ đường biển. Trên thế giới, các nước ven biển đã phải giải quyết nhiều bài toán khó cho sinh kế cộng đồng dân cư ven biển. Đất đai lúc khô lúc ngập, gần như không có tiềm năng tạo sinh kế. Nghề chính vẫn chỉ là làm muối, đánh bắt và nuôi trồng hải sản ven biển. Hoàn cảnh tự nhiên khó khăn nên cuộc sống không khá lên được. Các cường quốc vùng biển thì tổ chức các đội tàu mạnh để phát triển thương mại đường xa trên biển và hải quân mạnh để xâm chiếm đất đai vùng xa. Nhìn lại lịch sử thế giới thì thấy rõ điều này.

Sau đại chiến thế giới 2, hòa bình trên toàn thế giới được thiết lập với khả năng chắc chắn hơn, ý tưởng các quốc gia chung sống hòa bình để phát triển kinh tế được thể hiện khá rõ ràng. Cuộc sống vùng ven biển được cộng đồng quốc tế quan tâm với lý thuyết “quản lý tích hợp dải ven bờ” (ICZM - Integrated Coastal Zone Management). Công cụ này được hầu hết các quốc gia có biển áp dụng, một mặt mang lại lợi ích quốc gia và mặt khác cũng làm cho cuộc sống người dân ven biển tốt hơn. Từ đó, ngoại xâm từ biển gần như không còn, các quốc gia chỉ tập trung vào khai thác biển dưới góc độ kinh tế. Các ngành kinh tế biển thường nghe thấy như dầu khí, khai thác khoáng sản biển, đánh bắt - nuôi trồng hải sản, vận tải biển... phát triển ngày càng mạnh. Tiếp theo mạch khai thác kinh tế, nhiều ngành kinh tế mới đã ra đời như du lịch biển, khai thác năng lượng tái tạo biển, nông nghiệp.... Nhiều quốc gia có biển đã chọn cách phát triển từ vùng biển ngược lên vùng núi và nhiều quốc gia có biển đã mở rộng diện tích ra biển.

Khi kinh tế biển phát triển mạnh như vậy, lại làm cho tình trạng “xâm lược” biển của các quốc gia mạnh ngày càng tăng trong hoàn cảnh Luật biển của Liên Hợp Quốc chỉ như một ước lệ vì không có lực lượng quân sự mạnh nào để bảo vệ việc thực thi công ước quốc tế này về biển. Hướng tới tương lai xa, chúng ta lại phải nghĩ tới ngữ cảnh “định dạng lại địa chính trị biển” khi “địa kinh tế biển” có thay đổi.

GS Đặng Hùng Võ

Từ góc nhìn thiên tai vùng biển, con người vẫn chưa thể chế ngự được các thiên tai biển như núi lửa, động đất, sóng thần, siêu bão... Đó là những rủi ro khó tránh khỏi bị hủy diệt khi xảy ra. Những ví dụ gần có cả như sóng thần ở Phuket đánh vào du lịch, động đất - sóng thần đánh vào nhà máy điện hạt nhân Fukushima và nhiều siêu bão ở Mỹ, Philippines… Đây là những yếu tố tạo nên khó khăn nhất làm cho kinh tế biển khó bền vững.

Mặc dù câu chuyện kinh tế biển còn phức tạp nhưng đó vẫn là một hình thái kinh tế hấp dẫn và triển vọng lớn. Khi kinh tế phát triển thì các dạng không gian đô thị sẽ hình thành phục vụ công nghiệp biển, nông nghiệp hiện đại biển và kinh doanh dịch vụ biển, từ đó kinh tế bất động sản biển phát triển như một hạ tầng cần thiết để phát triển kinh tế biển. Bất động sản cũng phải phát triển như một ngành kinh tế riêng theo nhiều dạng thức khác nhau.                

đô thị biển

1. Khai thác năng lượng tái tạo từ biển

Việc khai thác và sử dụng năng lượng hóa thạch của trái đất là một trong những công nghiệp cơ sở quan trọng nhất của công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Trong từng bước phát triển, loài người đã nhận thấy rằng sử dụng năng lượng hóa thạch là nguyên nhân gây phát thải lớn gắn với hiệu ứng nhà kính.

Công nghệ cao đã dẫn con người tới việc sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục tiêu sản xuất điện. Hệ lụy môi trường gần như không có những rủi ro tai nạn khi không kiểm soát được các tai nạn do phản ứng hạt nhân gây ra. Thực tế đã cho thấy tai nạn thảm khốc tại nhà máy Chernobyl do con người gây ra và tại nhà máy Fukushima do thiên tai gây ra. Xu hướng toàn cầu dẫn tới bài bác các nguồn năng lượng từ phản ứng hạt nhân.

Người ta đã nghĩ tới nguồn năng lượng từ thủy điện mà đặt cho tên gọi là “nguồn năng lượng không khói”. Nhưng rồi, loài người cũng nhận ra những nhược điểm vô cùng lớn của thủy điện. Nhà máy này thường phải đặt trên vùng núi gắn với ngập nước nhiều vùng rừng lớn. Cây mục trong nước là nguồn phát thải CO2 khá lớn, gây tổn hại cho môi trường không kém gì đốt nhiên liệu hóa thạch. Mặt khác, thủy điện còn gây ngập lụt cho cộng đồng cư dân địa phương mỗi khi các nhà máy thủy điện đồng bộ xả nước.

Phát hiện mới gần đây là sử dụng năng lượng tái tạo từ thiên nhiên bao gồm ánh sáng mặt trời và gió. Đúng là các nguồn năng lượng tái tạo này không trực tiếp gây bất kỳ hệ lụy môi trường nào. Nhưng rồi con người cũng nhận ra nhược điểm lớn của các nhà máy điện năng lượng tái tạo từ ánh sáng mặt trời và gió là (1) tốn quá nhiều diện tích đất; (2) các tấm pin ánh sáng mặt trời có tuổi thọ không cao và tạo ra nguồn rác thải lớn khó xử lý. Người ta rồi cũng không muốn hưởng ứng việc phát triển năng lượng tái tạo từ ánh sáng mặt trời và đưa các cánh đồng cánh quạt gió thu năng lượng tái tạo ra các vùng đất đai ít khả năng sử dụng và có nhiều gió. Những vùng bãi biển, đảo xa ít người thường được lựa chọn.

Gần đây nhất, con người đã nghĩ tới nguồn năng lượng tái tạo từ biển mà cụ thể là từ sóng biển và từ thủy triều. Thực tế đã cho thấy một số nhà máy khai thác nguồn năng lượng từ tái tạo từ biển đã đi vào hoạt động khá hiệu quả. Năm 2016, các nhà sản xuất điện từ sóng biển và thủy triều quy mô lớn đầu tiên trên đã khánh thành và đi vào hoạt động. Nhà máy điện từ sóng biển của hãng ECO Wave Power (EWP) đặt tại Gibraltar đã khánh thành vào ngày 26/5 và từ thủy triều của dự án MeyGen tại Scotland đã khánh thành vào ngày 12/9. Các máy phát điện này đều sử dụng các tuabin nên gần như không tác động xấu đến môi trường. Từ đó, nhiều dự án lớn đã được tư duy, đề xuất, thực hiện ở nhiều nơi, có cả ở Việt Nam, tạo nên một xu hướng mới rất tích cực.

2. Nông nghiệp biển  

Đánh bắt hải sản vốn là nghề khai thác kinh tế biển từ lâu đời. Theo tư duy truyền thống, người ta dẫn tới nghề nuôi trồng hải sản của biển, trong đó có cả thực vật và động vật biển, không chỉ động vật sống dưới nước mà cả động vật bay trên trời sống nhờ vào biển. Nhiều loại tảo biển có nguồn dinh dưỡng đặc biệt mà rau trên cạn không có. Động vật cũng vậy, cả động vật sống dưới biển và sống nhờ biển đều cung cấp những dinh dưỡng nông nghiệp trên đất không tạo ra được.

3. Thể thao và du lịch biển

Khi các quốc gia và con người có thu nhập nhiều hơn thì thể thao và du lịch là các yếu tố có cơ hội phát triển mạnh để đáp ứng những nhu cầu mới của con người. Môi trường biển là nơi nảy sinh được các yếu tố mới này. Nhiều môn thể thao trên biển đã hình thành như lướt ván theo sóng biển, đua thuyền trên biển, bơi biển và được đưa vào thi đấu quốc tế.

Du lịch biển đảo không phải là mới nhưng hình thái du lịch đã thay đổi nhiều, ví dụ như gắn với các hình thức trải nghiệm, khám phá, tìm cảm giác mới trong môi trường mặt biển, nước biển hay đáy biển.

4. Xu hướng lấn biển và đô thị biển

Trước đây, việc bảo vệ bờ biển để bảo vệ đất liền được coi như nhiệm vụ trọng yếu của quốc gia. Hiện nay, các quốc gia có biển đều có xu hướng lấn biển để mở rộng lãnh thổ và khai thác tài nguyên biển ở mức độ cao nhất. Singapore là quốc gia mua cát của các nước láng giềng để lấn biển nhằm mở rộng lãnh thổ. Trung Quốc đã xây dựng nhiều công trình trên các đá ngầm để mở rộng lãnh thổ ở biển xa phía Đông. Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất đã tạo nên quần thể đô thị trên biển hình cây cọ rất độc đáo phục vụ du lịch. Công ước quốc tế về Luật biển 1982 đã như quá hẹp so với nhu cầu mở rộng hoạt động lấn biển của các quốc gia có biển. Nhu cầu tái định dạng địa kinh tế biển đang được đặt ra.

Quá trình lấn biển thể hiện ở tính đa dạng trong phát triển các hình thái đô thị biển. Trước đây, các quốc gia chỉ muốn giữ an toàn cho các đô thị ven biển nên thường bố trí khuất xa bờ biển và dựa vào các vịnh nhỏ tự nhiên tạo lợi thế tiếp cận biển sâu. Đến nay, con người đã chủ động phòng tránh thiên tai, đụng độ trên biển nên các hình thức đô thị biển gắn với phát triển kinh tế đã phong phú hơn xưa rất nhiều. Có đô thị ven bờ, có đô thị trên biển và có đô thị trên mặt biển. Tất nhiên, hình thái đô thị phải phù hợp với khả năng khai thác kinh tế biển tại khu vực với tầm nhìn dài hạn, đô thị phải có mật độ kinh tế cao.

đô thị biển

Như trên đã nói, kể từ khi con người nhận thấy nguy cơ biến đổi khí hậu làm nước biển dâng tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về phát triển bền vững tại Rio De Janeiro, Brazil vào năm 1992. Dải ven bờ của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam được đặt trong nguy cơ bị nhấn chìm trong vài chục năm tới. Những cơ hội lớn và rủi ro lớn của dải ven biển đã thúc đẩy các chuyên gia hình thành lý thuyết về quản lý tích hợp dải ven bờ (ICZM) nhằm bảo đảm phát triển bền vững cho vùng ven biển.

ICZM là một hệ thống quản lý tài nguyên theo cách tiếp cận tích hợp, tổng thể và quy trình lập kế hoạch tương tác nhằm giải quyết các vấn đề quản lý phức tạp ở vùng ven biển. Uỷ ban châu Âu đã đưa ra định nghĩa ICZM chi tiết hơn với nội dung “ICZM là một quá trình năng động, đa ngành và có tương tác nhằm thúc đẩy quản lý bền vững các vùng ven biển, bao gồm toàn bộ chu trình thu thập thông tin, lập kế hoạch, ra quyết định, quản lý và giám sát việc thực hiện. ICZM sử dụng sự tham gia và hợp tác có hiểu biết chung của tất cả các bên liên quan nhằm đánh giá các mục tiêu xã hội trong một khu vực ven biển nhất định và thực hiện các hành động nhằm đạt được các mục tiêu này.

Với tầm nhìn dài hạn, ICZM tìm kiếm giải pháp cân bằng các mục tiêu môi trường, kinh tế, xã hội, văn hóa và giải trí, tất cả đều nằm trong giới hạn do các động lực tự nhiên đặt ra. 'Tích hợp' trong ICZM được hiểu theo nghĩa tích hợp các mục tiêu và tích hợp nhiều công cụ cần thiết để đáp ứng các mục tiêu này, có nghĩa là tích hợp tất cả các lĩnh vực chính sách, các ngành và các cấp quản lý có liên quan, cũng có nghĩa là tích hợp các thành phần trên bờ và dưới biển của vùng ven bờ, theo cả thời gian và không gian”.

Mục tiêu chung của ICZM bao gồm: (1) Bảo vệ con người và tài sản (giảm rủi ro lũ lụt; cứu hộ khẩn cấp; phòng chống lũ lụt; giảm xói mòn, trượt lở đất); (2) tăng cường bền vững và dịch vụ hệ sinh thái (bảo vệ thiên nhiên; quản lý các chất thải ra biển; giới hạn đất sụt lún; ứng phó biến đổi khí hậu); (3) phát triển kinh tế (sử dụng đất; du lịch; cảng biển; các ngành kinh tế); (4) nâng cao nhận thức cộng đồng (công khai thông tin và lấy ý kiến cộng đồng; các công cụ tài chính); (5) quản trị (giám sát và đánh giá ICZM; hình thành khung pháp luật và thể chế; phát triển nền tảng tri thức). Những đất nước phát triển có biển đã áp dụng ICZM để quản lý tích hợp dải ven biển rất hiệu quả, lợi ích thu được lớn và ngăn ngừa được nhiều rủi ro từ tai biến thiên nhiên.

Kinh nghiệm từ các nước phát triển và các nước mới nổi, vùng ven biển là vùng có mật độ kinh tế rất cao do tiếp cận trực tiếp tài nguyên biển, đồng thời kết nối dễ dàng với các trung tâm kinh tế quốc tế thông qua hàng hải, tức là vùng ven biển luôn có vị trí địa kinh tế rất thuận lợi. Vùng ven biển là vùng được tập trung phát triển trước, từ đó làm cơ sở để phát triển tiếp các vùng không có biển. Trung Quốc đã trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới cũng một phần từ chiến lược phát triển vùng ven biển phía Đông trước, từ đó phát triển tiếp lên vùng núi phía Tây. Khi nói tới phát triển, phải đặt ra kế hoạch công nghiệp hoá và đô thị hoá. Điều này có nghĩa là đô thị biển đóng vai trò trung tâm của phát triển kinh tế biển. Trên thế giới, 2/3 số lượng các thành phố lớn đều là thành phố gắn với cảng biển trên vùng ven bờ hoặc trên các đảo. Trong số 10 siêu thành phố lớn nhất thế giới thì có tới 7 thành phố trên vùng ven biển.

Từ ngữ cảnh đô thị biển trên thế giới, có thể rút ra một số kết luận cho định hướng phát triển đô thị biển của Việt Nam.

Thứ nhất, sức sống kinh tế của đô thị biển rất mạnh do lợi dụng được tiềm năng lớn về địa kinh tế biển.

Thứ hai, mật độ kinh tế của đô thị biển ngày càng lớn do công nghệ khai thác biển phát triển ngày càng mạnh.

Thứ ba, sức sống kinh tế của đô thị biển sẽ bền vững nếu giải quyết tốt vấn đề quản lý rủi ro từ các tai biến thiên nhiên do biển gây ra.

Thứ tư, quản lý tích hợp dải ven bờ biển (ICZM) là công cụ quan trọng trong quản lý phát triển các đô thị biển.

Đô thị có nhiều khu vực nhưng đều là các bất động sản, trong đó có bất động sản gắn với du lịch, có bất động sản gắn với công nghiệp, có bất động sản gắn với các dịch vụ hạ tầng và có bất động sản để ở. Đến đây, lại thấy phát triển đô thị biển phải được xây dựng và phê duyệt với tầm nhìn tổng hợp và dài hạn căn cứ vào tiềm năng kinh tế biển của khu vực, đừng để xảy ra tình trạng phát triển tự phát theo cách nhìn ngắn hạn rồi sau đó phải sửa đổi gây thiệt hại. Điều này có nghĩa là phải có quy hoạch phù hợp để phát triển vùng biển. Kinh tế bất động sản cũng theo quy hoạch đó mà phát triển. 

bất động sản

Việt Nam là quốc gia có biển với đường bờ biển dài tới 3.260km dọc theo Biển Đông từ Móng Cái tới Mũi Cà Mau và từ đó tới Hà Tiên trên bờ Vịnh Thái Lan. Vùng biển của Việt Nam bao gồm quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Hoàng Sa và nhiều đảo lớn như Phú Quốc, Côn Sơn, Bạch Long Vĩ, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ và nhiều đảo khác.

Từ thời phong kiến, Việt Nam đã có 2 đô thị biển tham gia vào thương mại quốc tế gồm Vân Đồn và Hội An. Trong thời Pháp thuộc, Pháp đã cho phát triển nhiều đô thị biển phục vụ hàng hải và du lịch bao gồm Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn, Vũng Tàu. Người dân vùng ven biển sống chủ yếu bằng nghề chài lưới ven bờ, thu nhập không cao và luôn chịu ảnh hưởng tiêu cực của bão lũ ven biển.

Trong giai đoạn hiện nay, mãi tới 2007 Nhà nước mới ban hành chiến lược biển Việt Nam. Trên thực tế, kinh tế biển nước ta phát triển ở mức độ chưa cao, chủ yếu là khai thác dầu khí và một số loại khoáng sản biển, đánh bắt cá xa bờ, giao thông đường biển và du lịch biển thông thường. Phát triển kinh tế mạnh hơn tư duy về phát triển các đô thị. Đến nay, Việt Nam đã có khoảng 40 đô thị biển, trong đó đô thị biển lớn nhất là TP.HCM và cũng là đô thị lớn nhất cả nước. Tiếp đó là Đà Nẵng, Hải Phòng, Nha Trang...

Bên cạnh đó, nhiều đô thị biển hiện tại chưa phát triển nhưng có nhiều tiềm năng phát triển trong thời gian tới như Phú Quốc, Vân Đồn, Bắc Vân Phong... Đô thị biển Việt Nam bắt đầu phát triển theo hướng làm rõ động lực kinh tế của từng đô thị như du lịch, khai thác dầu khí, hàng hải, đánh bắt xa bờ, nuôi trồng thuỷ sản...

bất động sản

Hiện nay, phát triển đô thị biển phục vụ vụ du lịch đang được các địa phương quan tâm phát triển. Cũng vì hướng đi này đã dẫn đến cách thức phát triển với tầm nhìn ngắn hạn. Nhiều địa phương đã cho phép xây dựng các nhà cao tầng rất cao chạy dọc bờ biển như một tường thành ngăn trở giữa đất liền và biển. Dân địa phương không còn đường đi xuống biển kiếm sống, phản ánh những bức xúc lên lãnh đạo cấp tỉnh. Nhiều lãnh đạo tỉnh đã phê duyệt dự án rồi lại quyết định dẹp bỏ nhà cao tầng đã xây dựng để mở lối xuống biển cho dân. Như vậy, quy hoạch chỉ như có tầm nhìn ngắn hạn, thiếu đầy đủ và chưa toàn diện.  

Bên cạnh những tiềm năng kinh tế lớn, đô thị biển Việt Nam chưa làm tốt nhiệm vụ quản lý rủi ro do thiên tai từ biển. Trong tháng 10 và tháng 11 năm 2020, thảm họa bão lụt đã gây tổn thất lớn về người, nhà cửa và tài sản của nhiều hộ gia đình trong một dải ven biển miền Trung từ Nghệ An cho tới Bình Định. Riêng 2 cơn bão số 6 (Linfa) và cơn bão số 7 (Nangka) đã làm 154 người chết và mất tích; 6.235 ngôi nhà bị cuốn trôi và 377.500 ngôi nhà bị ảnh hưởng; gần 16,7 nghìn ha hoa màu, 2,7 triệu vật nuôi và hơn 100 nghìn tấn lương thực bị mất trắng. Xét về kinh tế, khoảng 460km kênh thuỷ lợi và 580km đường giao thông bị hỏng, thiệt hại lên tới 15.470 tỷ đồng. Đấy là chưa kể tới các cơ sở văn hoá, y tế, giáo dục, thể thao gần như bị hỏng chưa thể khôi phục để vận hành trở lại. Tiếp theo, cứ vài ngày là có một bão mới. Những tên bão như Sandel (số 8), Molave (số 9), Goni (số 10), Khanun (số 11), Etau (số 12), Vamco (số 13) đã hành hạ người dân, các đô thị, làng mạc trên suốt dải đất ven biển miền Trung. Thực trạng này cho thấy ta đã ý thức được rủi ro thiên tai trên vùng ven biển nhưng chưa có hành động cụ thể về quản lý rủi ro.

Cũng vào tháng 10/2020, Ngân hàng Thế giới hoàn thành nghiên cứu về rủi ro thiên tai và giải pháp cho khu vực ven biển Việt Nam. Báo cáo mang tên “Tăng cường khả năng chống chịu khu vực ven biển: Phát triển khu vực ven biển Việt Nam - cơ hội và rủi ro thiên tai”. Từ thực tiễn, báo cáo này đã chỉ ra rằng: “Dù có tiến bộ đáng kể nhưng các biện pháp quản lý rủi ro thiên tai hiện tại của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu”. Báo cáo này đã chỉ ra con số “11, 8 triệu cư dân ven biển đang gặp rủi ro cao do lũ lớn và 35% khu dân cư đang nằm trong vùng hay bị sạt lở; mỗi năm, kinh tế bị thiệt hại 852 triệu USD (0,5% GDP) và 316.000 việc làm do lũ sông và lũ ven biển”.

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới đã đề xuất 5 khuyến nghị cho Việt Nam.

Thứ nhất là thiết lập và tăng cường hệ thống dữ liệu như công cụ trợ giúp ra quyết định tích cực.

Thứ hai là quy hoạch ven biển dựa trên phân tích rủi ro.

Thứ ba là tăng cường khả năng chống chịu của hạ tầng và dịch vụ công vùng ven biển.

Thứ tư là tận dụng các giải pháp thuận thiên. Và thứ năm là nâng cao năng lực phòng ngừa, ứng phó và phục hồi. Các khuyến nghị này chắc chắn sẽ giúp ta nâng cấp tư duy và quy hoạch cụ thể phát triển đô thị biển nước ta.

Về phía Nhà nước, ngày 22/10/2018 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045, trong đó định hướng tập trung xây dựng và nhân rộng mô hình khu kinh tế ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh, đảm bảo các khu kinh tế ven biển phải đóng vai trò chủ đạo trong phát triển vùng và gắn kết liên vùng. Đến năm 2020, các khu kinh tế ven biển đóng góp 15% - 20% GDP của cả nước, tạo ra 1,3 - 1,5 triệu việc làm phi nông nghiệp, kinh tế của 28 đơn vị hành chính cấp tỉnh ven biển phải chiếm 65% - 70% GDP của cả nước.

Để thực hiện Nghị quyết của Đảng nói trên, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 05/2/2020 với nội dung đưa ra các giải pháp chủ yếu về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. Nghị quyết đã đặt mục tiêu tổng quát là đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái ven biển quan trọng.

Nghị quyết này đã đưa ra những giải pháp cụ thể về: (1) Phát triển hạ tầng và du lịch trên các địa bàn trọng điểm và động viên người dân chuyển đổi nghề nghiệp sang dịch vụ du lịch; (2) phát triển hệ thống cảng biển và kinh tế hàng hải, nâng cấp hệ thống dịch vụ logistics bảo đảm chất lượng cao, chi phí thấp; (3) phát triển các ngành công nghiệp biển như đóng và sửa chữa tàu biển, lọc hoá dầu, năng lượng, chế tạo cơ khí… trên nguyên tắc thân thiện môi trường; (4) tiếp tục phát triển ngành khai thác dầu khí và tài nguyên khoáng sản biển; (5) phát triển khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển.

Như vậy, đô thị biển ở Việt Nam được định hướng phát triển gắn với các khu kinh tế ven biển trên nguyên tắc không gây ô nhiễm và bảo đảm hiệu quả trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Trên thực tế, trong thời gian vừa qua các khu kinh tế của nước ta được đánh giá là hoạt động chưa đạt hiệu quả cao. Trong số 18 khu kinh tế ven biển, chỉ có khoảng 5 khu có các hoạt động kinh tế đáng kể như Chu Lai, Dung Quất, Vũng Áng, Nghi Sơn, Đình Vũ. Bên cạnh đó, còn có sự cố ô nhiễm môi trường biển 4 tỉnh miền Trung do khu Vũng Áng gây ra. Nhìn chung, các khu kinh tế ven biển của Việt Nam sức sống kinh tế còn yếu kém, chưa thể tạo sức sống cho các đô thị biển.

Có thể lấy ví dụ về một khu kinh tế ven biển của Thượng Hải, Trung Quốc mang tên Shanghai Xinzhuang Industry Park (SHXIP). Sự thực, theo tên gọi thì đây chỉ là một khu công nghiệp chứ không phải là khu kinh tế, nhưng nội dung lại như một khu kinh tế của Việt Nam. SHXIP được thành lập vào năm 1995 trên diện tích 23km2.  Khu này có 810 doanh nghiệp hoạt động, trong đó có 564 doanh nghiệp FDI bao gồm 17 trụ sở khu vực, 96 trung tâm nghiên cứu - phát triển với tổng vốn đầu tư FDI là 96 tỷ USD gồm 50% từ Mỹ và châu Âu, 25% từ Nhật Bản và Hàn Quốc, 14% từ Đài Loan và Ma Cao, 11% từ Nam Á, có mặt hầu hết các nhà đầu tư lớn trên thế giới. Trong khu này có 3 trường phổ thông quốc tế, 26 trường đại học, 2 khách sạn, 2 trung tâm thể thao phục vụ người lao động trong khu này.

Đây là một khu công nghiệp nhưng chứa trong lòng nó là một đô thị lớn. Tính theo tất cả các chỉ số kinh tế thì SHXIP vượt tổng các khu công nghiệp của Việt Nam. Kể từ khi thành lập, SHXIP đã có định hướng xây dựng một hệ sinh thái đô thị - công nghiệp - dịch vụ cộng sinh. Tại Việt Nam, khái niệm hệ sinh thái này mới được tiếp nhận tại Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 về quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế. Ngay vào năm 2021, Chính phủ lại ban hành Nghị định 35/2021/NĐ-CP thay thế Nghị định 82 nhằm tiếp tục quy định chi tiết hơn về các khu tích hợp công nghiệp - dịch vụ - đô thị đã được quy định tại Nghị định 82/2018/NĐ-CP, trong đó có quy định chi tiết về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất công nghiệp, dịch vụ (đất sản xuất, kinh doanh) sang làm đất ở.

Nhìn lại, có thể thấy Nhà nước ta đã đưa ra các chủ trương đúng, thường chậm hơn các nước khác, nhưng cái chính là thiếu các giải pháp đồng bộ và khả thi. Đây là kinh nghiệm cần rút ra để đổi mới trong phát triển các đô thị biển nước ta. Đưa ra ví dụ trên chỉ với mục đích để chúng ta xem lại cách thức phát triển chưa chuyên nghiệp trong thời gian qua và tạo cách nhìn mới mang tính chuyên nghiệp cho phát triển trong thời gian tới. Việt Nam nói chung và các đơn vị hành chính cấp tỉnh nói riêng cần xây dựng tầm nhìn mới để quy hoạch phát triển kinh tế biển như một trọng tâm. Từ đó, lan tỏa sự phát triển đi các địa phương khác không có biển.

Theo phân tích địa kinh tế, nước ta nằm ở vị trí quan trọng trong bản đồ địa kinh tế toàn cầu, nằm trên đường hàng hải nối giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Kinh tế biển có cơ hội phát triển mạnh với những ngành công nghiệp mới dựa vào biển. Hàng hải cũng tạo nên con đường giao thông quan trọng trong vận hành nền kinh tế hướng ngoại.

Mặt khác, các rủi ro do thiên tai đi vào từ biển cũng lớn nhưng chưa lớn tới mức cực đại như đã xảy ra trong khu vực. Bên cạnh đó, rủi ro về địa chính trị biển liên quan đến tranh chấp vùng biển cũng đang ở mức độ cao, nhất là với các nước lớn.

Trong hoàn cảnh này, một quy hoạch hoàn hảo phát triển kinh tế biển, đô thị biển, bất động sản biển cần được nghiên cứu, phê duyệt và triển khai với tầm nhìn dài hạn, cũng phải gắn với các giải pháp phòng tránh các rủi ro thiên tai và địa chính trị vùng biển./.

Bài viết cùng tác giả GS.TSKH. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường »

Nên đọc
Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự


TOP