Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu trở thành quốc gia có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và tiến tới là nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân được kỳ vọng tạo thêm động lực để nền kinh tế tăng tốc, khai thác hiệu quả các nguồn lực và thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Các chuyên gia cho rằng việc hiện thực hóa các mục tiêu này không chỉ phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng mà còn gắn chặt với cải cách thể chế, nâng cao chất lượng nguồn lực và đổi mới phương thức quản trị phát triển.

Công nhân ươm cây giống tại vườn ươm của một doanh nghiệp ở Bắc Ninh. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Mục tiêu tăng trưởng cao và dư địa phát triển
Theo Tiến sỹ Lý Đại Hùng, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành quốc gia có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao là một mục tiêu mang tính định lượng rõ ràng, được đo bằng mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người theo giá hiện hành tính bằng USD.
Tiến sỹ Lý Đại Hùng, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) nhận định Nghị quyết 68 có ý nghĩa quan trọng ở chỗ tạo khung chính sách để huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực. (Ảnh: Thanh Hương/TTXVN)
Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, ngưỡng thu nhập trung bình cao hiện dao động từ 4.496 đến 13.935 USD, trong khi Việt Nam năm 2024 đạt khoảng 4.490 USD. Điều này cho thấy khoảng cách không còn lớn, song để vượt ngưỡng đòi hỏi nền kinh tế phải duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tiếp.
Khi nhìn lại số liệu tăng trưởng từ sau Đổi mới đến nay, theo dữ liệu của Cục Thống kê, Việt Nam chỉ có năm 1995 đạt mức tăng trưởng 9,45%, là thời điểm tiệm cận rõ nhất với ngưỡng 10%/năm. Vì vậy, yêu cầu tăng trưởng bình quân khoảng 10% mỗi năm trong giai đoạn tới có thể xem là một bước chuyển quan trọng về cấu trúc và động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tiến sỹ Lý Đại Hùng cho rằng cơ sở để hướng tới mục tiêu này không chỉ đến từ những tiềm năng phát triển còn lớn mà còn từ những chuyển dịch tích cực trong cơ cấu kinh tế và quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng. Tuy nhiên, “cửa sổ cơ hội” của Việt Nam cũng có giới hạn khi quá trình già hóa dân số đang diễn ra nhanh, đặt ra yêu cầu phải tận dụng hiệu quả giai đoạn dân số vàng còn lại để bứt phá về thu nhập và năng suất.
Để duy trì tăng trưởng cao đòi hỏi tỷ lệ đầu tư so với GDP phải được duy trì ở mức cao hơn so với giai đoạn trước. Trong ba thập kỷ qua, tỷ lệ này bình quân hơn 32%, góp phần giúp kinh tế duy trì mức tăng trưởng trên 6% mỗi năm. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu mới, cần cải thiện hiệu quả sử dụng vốn, chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô sang nâng cao năng suất.
Bên cạnh vốn đầu tư, chất lượng nguồn nhân lực được xem là yếu tố then chốt. Nguồn nhân lực không chỉ quyết định khả năng hấp thụ công nghệ mà còn là nền tảng của đổi mới sáng tạo. Do đó, nâng cao kỹ năng lao động, thúc đẩy giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu thị trường là điều kiện cần để chuyển hóa nguồn lực thành tăng trưởng thực chất.
Sản xuất các mặt hàng xuất khẩu. (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)
Theo Tiến sỹ Lý Đại Hùng, Nghị quyết 68 có ý nghĩa quan trọng ở chỗ tạo khung chính sách để huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực. Khi các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và chất lượng nhân lực được tháo gỡ, nền kinh tế sẽ có thêm cơ sở để duy trì quỹ đạo tăng trưởng cao, qua đó tiến gần hơn mục tiêu phát triển dài hạn.
Đổi mới mô hình quản trị phát triển
Từ góc độ nghiên cứu, Tiến sỹ Nguyễn Cao Đức, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng một trong những yếu tố quyết định để đạt được mục tiêu tăng trưởng bứt phá là đổi mới mô hình quản trị phát triển. Trong bối cảnh chuyển đổi số và môi trường kinh tế toàn cầu biến động nhanh, cách thức quản trị truyền thống không còn đủ khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Cao Đức, mô hình quản trị phát triển tích hợp đa tầng, dựa trên nguyên lý “xếp lớp thể chế tối ưu,” giúp tạo sự cân bằng giữa ổn định và đổi mới. Mô hình này gồm bốn lớp chức năng có tính bổ trợ lẫn nhau, từ bảo đảm kỷ cương hành chính, nâng cao hiệu năng quản lý, tăng cường kết nối và điều phối, đến vai trò dẫn dắt chiến lược của Nhà nước trong kiến tạo phát triển.
Thực tiễn triển khai cho thấy Việt Nam đã có những bước chuyển rõ nét trong củng cố nền tảng quản trị. Các nỗ lực cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả điều hành đã góp phần cải thiện môi trường kinh doanh và tăng cường kỷ luật thực thi. Đây được xem là tiền đề quan trọng để nâng cao năng suất và thúc đẩy tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Ở cấp độ cao hơn, việc tăng cường kết nối giữa các chủ thể trong nền kinh tế giúp nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. Theo Tiến sỹ Nguyễn Cao Đức, khi cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương được cải thiện, nguy cơ phân mảnh chính sách sẽ giảm, đồng thời tạo điều kiện để các nguồn lực xã hội được huy động đồng bộ hơn.
Hoạt động sản xuất tại một doanh nghiệp. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)
Một điểm nhấn trong mô hình quản trị mới là vai trò kiến tạo của Nhà nước trong định hướng phát triển dài hạn. Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng quản lý mà còn chủ động dẫn dắt, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và tạo môi trường thuận lợi cho khu vực tư nhân phát triển. Đây cũng là yếu tố góp phần nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp và chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.
Các định hướng đổi mới quản trị đã bắt đầu tạo chuyển biến trong hiệu quả điều hành và khả năng thích ứng của nền kinh tế. Hệ thống điều hành ngày càng hướng tới tính minh bạch, hiệu quả và dựa trên dữ liệu, qua đó nâng cao khả năng thích ứng của nền kinh tế trước các biến động bên ngoài.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Cao Đức, Nghị quyết 68 không chỉ đặt ra mục tiêu tăng trưởng mà còn mở ra yêu cầu về nâng cấp năng lực quản trị quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới.
Việc triển khai các định hướng cải cách thời gian qua đã bước đầu tạo nền tảng cho quá trình này, khi hệ thống điều hành ngày càng hướng tới tính minh bạch, hiệu quả và dựa trên dữ liệu, qua đó nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của môi trường kinh tế.
Vì vậy, khi mô hình quản trị được vận hành hiệu quả, các nguồn lực phát triển sẽ được kết nối tốt hơn, tạo nền tảng để nâng cao năng suất, tăng sức chống chịu của nền kinh tế và từng bước tiến gần mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao./.