Theo báo Tuổi Trẻ, ngày 19/4, ông Lưu Nhất Phong – Giám đốc Ban Quản lý dự án các công trình giao thông và dân dụng tỉnh Gia Lai – cho biết, dự án thành phần 2 thuộc tuyến cao tốc Quy Nhơn – Pleiku, đoạn có điều kiện kỹ thuật phức tạp nhất, dự kiến sẽ được khởi công vào ngày 19/5 tới.
Sau thời gian triển khai, các dự án thành phần của tuyến cao tốc đang được tỉnh Gia Lai đẩy nhanh tiến độ. Trong đó, dự án thành phần 1 (km0 – km22) và thành phần 3 (km90 – km125) hiện đã bước vào giai đoạn thi công, tiến độ phụ thuộc chủ yếu vào công tác giải phóng mặt bằng tại các địa phương.

Đèo Anh Khê trên Quốc lộ 19. Ảnh: Trần Hóa
Dự án cao tốc Quy Nhơn – Pleiku có tổng chiều dài khoảng 125 km, đi qua 16 xã, phường của tỉnh Gia Lai, được đầu tư với quy mô 4 làn xe, vận tốc thiết kế 100 km/h, tổng mức đầu tư hơn 43.000 tỷ đồng. Riêng các đoạn qua đèo An Khê và đèo Mang Yang, do điều kiện địa hình phức tạp, tốc độ khai thác dự kiến dưới 80 km/h.
Toàn tuyến được chia thành 3 dự án thành phần, gồm: đoạn Km0+00 – Km22+00; đoạn Km22+00 – Km90+00 và đoạn Km90+00 – Km125+00. Theo kế hoạch, dự án sẽ hoàn thành và đưa vào khai thác trong năm 2029.
Khi hoàn thành, tuyến cao tốc Quy Nhơn – Pleiku được kỳ vọng sẽ trở thành trục giao thông chiến lược, rút ngắn thời gian di chuyển giữa Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Cụ thể, thời gian đi lại giữa Quy Nhơn và Pleiku dự kiến giảm còn khoảng 1,5 giờ, thay vì khoảng 4 giờ như hiện nay qua Quốc lộ 19.
Cụ thể, với dự án thành phần 1, có tổng cộng 1.550 hộ dân thuộc diện giải tỏa. Đến nay, phương án bồi thường đã được phê duyệt cho 1.313 hộ, trong đó 1.084 hộ đã nhận tiền. Các địa phương đã bàn giao được 14,5/22km mặt bằng cho chủ đầu tư để tổ chức thi công.
Ở chiều ngược lại, dự án thành phần 2 (km22 – km90) – đoạn tuyến được đánh giá khó khăn nhất – vẫn đang trong giai đoạn gấp rút hoàn thiện giải phóng mặt bằng. Dự án này có 1.712 hộ bị ảnh hưởng, hiện đã kiểm đếm được 1.358 hộ, xác nhận nguồn gốc đất cho 1.132 hộ và phê duyệt phương án bồi thường cho 435 hộ.
Trong khi đó, dự án thành phần 3 đã đạt tiến độ khả quan hơn khi các địa phương đã hoàn tất phê duyệt phương án bồi thường, chi trả và bàn giao hơn 23km mặt bằng cho chủ đầu tư triển khai xây dựng.

Công trường thi công dự án. Ảnh: TẤN LỰC
Theo Ban Quản lý dự án, công tác phối hợp giữa các địa phương và chủ đầu tư nhìn chung diễn ra thuận lợi. Tuy nhiên, thời gian gần đây, việc giá vật liệu xây dựng tăng mạnh đã phát sinh nhiều vướng mắc. Nhiều hộ dân cho rằng mức bồi thường đối với nhà cửa, vật kiến trúc hiện chưa đủ để xây dựng nơi ở mới, dẫn đến tâm lý chần chừ, chưa đồng thuận nhận tiền.
Trước thực tế này, các địa phương đã kiến nghị tỉnh xem xét điều chỉnh đơn giá bồi thường cho phù hợp với mặt bằng thị trường, nhằm đảm bảo quyền lợi người dân và tạo thuận lợi cho công tác vận động, giải phóng mặt bằng.
Phản hồi về vấn đề này, ông Nguyễn Tự Công Hoàng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai – cho biết, về cơ bản, đơn giá bồi thường hiện nay đã ở mức tương đối tốt so với giá chuyển nhượng thực tế, góp phần tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Tuy nhiên, nếu không xác định rõ nguồn gốc đất đai, việc áp dụng đơn giá cao có thể dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện; ngược lại, nếu thực hiện quá chặt chẽ lại có nguy cơ gây thiệt thòi cho người dân.
Do đó, tỉnh yêu cầu các địa phương phải triển khai công tác giải phóng mặt bằng theo nguyên tắc "nhanh nhưng phải đúng, trúng và hiệu quả", đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và người dân, đồng thời tránh thất thoát ngân sách.
Hiện nay, tiến độ giải phóng mặt bằng tại dự án thành phần 2 vẫn còn chậm. Lãnh đạo tỉnh Gia Lai yêu cầu các địa phương tập trung hoàn thành công tác này trước ngày 30/4, tạo điều kiện khởi công đúng kế hoạch vào ngày 19/5, đồng thời đảm bảo cả ba dự án thành phần có thể thi công đồng bộ, khớp nối tiến độ.
Liên quan đến kiến nghị điều chỉnh đơn giá bồi thường, UBND tỉnh Gia Lai đã thống nhất chủ trương tăng giá bồi thường đối với nhà cửa, vật kiến trúc. Các cơ quan chuyên môn đang khẩn trương hoàn thiện phương án để sớm ban hành và áp dụng trong thực tế.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng yêu cầu huy động toàn bộ hệ thống chính trị, từ cấp xã đến thôn, làng, tăng cường tuyên truyền, vận động để người dân hiểu rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của dự án, từ đó tạo sự đồng thuận trong bàn giao mặt bằng. Các vướng mắc phát sinh phải được xử lý ngay từ cơ sở, không để hình thành điểm nóng, ảnh hưởng đến tiến độ chung của dự án.
Sau sáp nhập, 3 tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước là Lâm Đồng, Gia Lai, Đắk Lắk.
Trong đó, tỉnh Lâm Đồng (gồm tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông và Bình Thuận cũ) rộng nhất với hơn 24.000km2, dân số 3,8 triệu. Tỉnh Gia Lai (được hợp thành từ tỉnh Gia Lai, Bình Định cũ) rộng thứ hai với gần 22.000km2. Đắk Lắk (gồm Đắk Lắk, Phú Yên cũ), rộng hơn 18.000km2, đứng thứ ba cả nước.