Quy hoạch may đo...
Một nét chì kẻ trên giấy can chỉ mất vài giây để vẽ, nhưng cái bóng của nó có thể trùm lên số phận của nhiều thế hệ con người. Giữ cho nét chì ấy thẳng thắn, công tâm và thấm đẫm lòng trắc ẩn chính là bài thử thách lớn nhất về lương tri của những người đang nắm giữ quyền năng định hình diện mạo tương lai cho những thành phố của chúng ta.
***
Trên một bản vẽ quy hoạch chi tiết, nét bút chì của người vẽ mảnh chưa đầy một mili. Nhưng khi đặt nét vẽ ấy áp xuống mặt đất thực, nó có thể là một khối bê tông cao mấy mươi mét, một đại lộ thênh thang, hoặc một chỉ giới đường đỏ cắt phăng nửa căn nhà, xóa sổ một nếp đình làng ba trăm năm, hay đẩy một gia đình ra khỏi mảnh đất tổ tiên đã chôn nhau cắt rốn qua nhiều đời.
Có một thứ quyền lực thầm lặng nhưng tuyệt đối ẩn sau những nét chì ấy. Người ta có thể gọi nó bằng những danh xưng trang trọng và hợp thời: tái thiết đô thị, chỉnh trang không gian, nâng tầm diện mạo, hiện đại hóa hạ tầng… Nhưng ở phía bên kia tờ đồ án trải trên bàn họp, người dân bình thường nhìn vào nó bằng sự thắc thỏm. Họ không đọc bản vẽ bằng các chỉ số về hệ số sử dụng đất, mật độ xây dựng hay tầng cao tối đa. Họ nhìn vào đó để tìm cánh cổng nhà mình, tìm gốc cây đầu ngõ, tìm cái quán nước chè chén mà mỗi ban mai cha ông họ vẫn ngồi tựa lưng vào tường gạch cũ.
Tái thiết đô thị là một nhu cầu có thật, thậm chí là đòi hỏi vô cùng cấp thiết của những thành phố đang lớn quá nhanh. Ai từng len lỏi qua những con ngõ sâu hun hút của một làng ven đô đã bị phố hóa tự phát mới thấy hết cái ngột ngạt đến thắt nghẽn của hạ tầng. Những con ngõ chỉ vừa một chiếc xe máy lách qua, dây điện chăng mắc như mạng nhện khổng lồ trùm lên mái tôn, xe cứu thương hay cứu hỏa không bao giờ với tới được. Những túi trũng ngập úng mỗi khi trời đổ cơn mưa rào, nước tràn vào bậc cửa mang theo sự nhếch nhác và mỏi mệt. Không một đứa trẻ nào có nổi một mét vuông đất công viên để chạy nhảy ngoài mảnh sân gạch chật chội trước hiên nhà. Nếu không tái thiết, nếu không can thiệp, những tế bào đô thị ấy sẽ dần xơ cứng và biến thành những bẫy rủi ro chực chờ phát nổ. Can thiệp vào đó là trách nhiệm của công quyền, là bổn phận với tương lai.


(Ảnh minh hoạ)
Thế nhưng, điều khiến lòng người bất an chưa bao giờ nằm ở bản thân ý niệm tái thiết hay chỉnh trang. Người ta âu lo bởi cái cách mà tấm áo mới của đô thị được cắt may.
Trong đời sống thường nhật, khái niệm may đo luôn gợi lên sự sang trọng và chu đáo. Một bộ âu phục may đo riêng theo số đo của từng người bao giờ cũng vừa vặn, che đi những khuyết điểm cơ thể và tôn vinh dáng vẻ của người mặc. Nhưng khi cụm từ "may đo" ấy trượt sang lĩnh vực quy hoạch không gian sống của hàng triệu con người, nó bỗng mang một sắc thái đầy bất trắc.
Quy hoạch, về bản chất cốt lõi của khoa học và đạo đức, phải là chiếc áo may sẵn cho cộng đồng, dựa trên số đo của lợi ích công cộng và quy luật tự nhiên. Nó phải đo đếm xem nơi nào trũng nhất để làm hồ điều hòa giữ nước, nơi nào thông thoáng nhất để mở đường thoát hiểm cứu người, nơi nào có cây đa, giếng nước, mái đình để khoanh vùng bảo tồn ký ức, và nơi nào cư dân đang cần một mái trường, một trạm xá, một bóng cây râm mát sau giờ lao động nhọc nhằn.
Nhưng trong thực tế của những cơn sốt đất đai và áp lực địa tô, chiếc áo quy hoạch đôi khi lại bị biến tướng thành một sản phẩm may đo vụ lợi. Người ta không may áo theo hình thể của mảnh đất hay nhu cầu của số đông cư dân bản địa, mà may đo theo túi tiền, theo toan tính kinh doanh và theo những mẫu sản phẩm địa ốc định sẵn của một vài người đứng sau tấm rèm vô hình.
Nếu nhìn thật kỹ vào những đồ án quy hoạch may đo, người ta sẽ nhận ra những đường chỉ vụng về giấu sau vẻ hào nhoáng của ngôn từ kỹ thuật. Đó là những con đường lớn đang chạy thẳng băng bỗng nhiên lượn cong một cách kỳ lạ. Độ cong ấy không hề tuân theo trắc địa địa hình, không vướng phải một di tích lịch sử cần bảo tồn hay một mạch nước ngầm thiêng liêng nào cả. Nó "cong mềm mại" chỉ để lách qua ranh giới một khu đất kho xưởng của ai đó đã kịp thâu tóm từ nhiều năm trước, thậm chí để lách qua… một cánh đồng, rồi lại đột ngột bẻ hướng đâm thẳng vào khu dân cư đông đúc, có sổ đỏ ổn định lâu đời. Chỉ bằng một nét uốn lượn tài tình ấy, mảnh đất kẹt trong góc khuất của một nhà đầu cơ bỗng nhiên biến thành đất bám mặt tiền trục đối ngoại đắt giá sở hữu hai, ba hướng nhìn thoáng đãng, trong khi gánh nặng bồi thường, giải tỏa, di dời và nỗi đau đứt gãy đời sống được đẩy trọn vẹn sang vai những người dân thấp cổ bé họng và ngân sách công.
Đó còn là sự trớ trêu trong việc hoán đổi công năng và vị trí không gian. Ở những bản vẽ may đo lệch lạc, những rẻo đất đẹp nhất, đắc địa nhất, tiếp giáp mặt nước, hưởng trọn gió lành và cảnh quan tự nhiên bao giờ cũng được quy hoạch thành biệt thự, shophouse, hoặc những tòa tháp căn hộ hạng sang khép kín. Còn trường học, trạm y tế, và đặc biệt là những khối nhà tái định cư cho người dân bị thu hồi đất lại bị dồn nén về những góc khuất, những vùng rìa, những nơi trũng thấp và bất lợi nhất về giao thông. Công viên cây xanh và mặt nước, trên danh nghĩa là hạ tầng phục vụ công cộng, nhưng khi vẽ ra lại nằm lọt thỏm trong lòng một dự án khép kín, biến thành tiện ích riêng tư cho những người có tiền mua nhà, biến người dân xung quanh thành những kẻ đứng ngoài nhìn vào không gian sống vốn từng thuộc về mảnh đất quê hương mình.
Một trong những hệ lụy nhức nhối nhất của quy hoạch may đo chính là hiện tượng thay máu cư dân một cách lạnh lùng. Có những đồ án mang danh nghĩa chỉnh trang một khu dân cư xập xệ, nhưng khi đưa ra chỉ tiêu tái định cư tại chỗ thì con số chỉ vỏn vẹn vài mươi phần trăm. Phần lớn cư dân bản địa - những người đã gắn bó với mảnh đất từ thuở còn là đồng bãi hoang vu, những người chịu đựng cảnh ngập ngụa, tăm tối suốt mấy mươi năm - bỗng nhiên nhận ra mình không còn chỗ đứng trong tương lai của chính nơi mình sinh sống. Họ nhận một khoản tiền bồi thường tính theo bảng giá đất định sẵn, cầm tờ quyết định thu hồi đất rồi dắt díu nhau trôi dạt về những vùng ven xa xôi, nhường lại mảnh đất vàng trung tâm cho một lớp cư dân mới có mức thu nhập cao hơn gấp nhiều lần.
Đó không phải là tái thiết đô thị. Đó là sự chuyển dịch địa tô có chủ đích, biến quy hoạch thành công cụ thanh lọc xã hội, tước đoạt cơ hội thụ hưởng thành quả phát triển của những người yếu thế.
Người nông dân mất ruộng có thể được học nghề làm công nhân, nhưng một thị dân nghèo ở làng trong phố khi bị bứng khỏi mặt đất sẽ sống bằng gì? Đô thị Việt Nam có một đặc thù rất riêng biệt, vừa là điểm yếu về hạ tầng nhưng lại là mạch sống nuôi dưỡng hàng triệu số phận: đó là nền kinh tế tầng trệt, kinh tế bám ngõ. Dưới tầng trệt của ngôi nhà nhỏ hai, ba tầng xây kiên cố bám mặt ngõ, người ta mở một quán phở, một tiệm sửa xe máy, một quầy tạp hóa, hay ngăn ra đôi ba căn phòng trọ cho sinh viên, người lao động ngoại tỉnh thuê. Dòng tiền nhỏ giọt ấy chảy đều đặn mỗi ngày, nuôi sống cả gia đình, đóng học phí cho con cái, chăm sóc thuốc men cho người già.
Khi một bản quy hoạch may đo quyết định san phẳng toàn bộ để dựng lên những khối tháp cao tầng lộng lẫy, người ta thường hứa hẹn về một cuộc sống văn minh, sạch sẽ và an toàn hơn. Nhưng văn minh để làm gì nếu người dân lên đến tầng hai mươi của tòa chung cư tái định cư mà không biết ngày mai kiếm sống bằng cách nào? Họ không thể mang cái bếp than tổ ong, chiếc máy vá săm xe hay gánh hàng rong lên hành lang thang máy. Nếu không giải quyết được bài toán sinh kế, không bố trí được mặt bằng kinh doanh dịch vụ phù hợp cho chính những tiểu thương bản địa, thì sự hiện đại ấy chỉ là một lớp sơn hào nhoáng phủ lên sự bế tắc thầm lặng của những phận đời vừa bị bứt rễ.
Đô thị không phải là bức tranh treo trên tường hay để nhìn qua màn hình máy tính của những nhà quy hoạch. Đô thị là một cơ thể sống phức tạp, đa dạng và có linh hồn riêng. Linh hồn của một vùng đất không nằm ở những khối bê tông cốt thép vô tri, mà kết tinh trong ký ức cộng đồng, trong những mối quan hệ láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau, trong những phiên chợ cóc sớm mai và bóng mát của những cây cổ thụ trước cổng làng.
Khi người ta cắt may chiếc áo quy hoạch vừa khít cho túi tiền của một nhóm lợi ích, họ đã vô tình cắt đứt những mạch máu tự nhiên của cơ thể đô thị ấy. Cái giá phải trả cho một bản quy hoạch bị may đo sai lệch không chỉ là những đồng tiền ngân sách thất thoát, không chỉ là những lá đơn khiếu kiện vượt cấp kéo dài từ năm này qua tháng khác, mà là sự đứt gãy của niềm tin xã hội.
Người dân chưa bao giờ quay lưng lại với sự phát triển. Họ sẵn sàng lùi hàng rào, hiến một phần đất của gia đình để mở rộng con đường làng cho xe cứu hỏa đi qua, cho trẻ con đi học không bị lội bùn. Họ sẵn sàng chia sẻ khó khăn với chính quyền khi hiểu rằng sự hy sinh của mình thực sự vì lợi ích chung của xóm giềng, của thành phố. Nhưng người dân sẽ không bao giờ cam chịu khi nhận ra sự hy sinh của họ chỉ để làm giàu cho một bản vẽ kinh doanh được ngụy trang khéo léo dưới danh nghĩa công cộng. Một khi sự hoài nghi đã nhen nhóm, mọi nỗ lực vận động sẽ trở nên vô nghĩa, và bản quy hoạch dù vẽ đẹp đến đâu cũng sẽ rơi vào cảnh trùm mền, trở thành quy hoạch treo, giam lỏng cuộc sống của người dân trong sự mòn mỏi qua nhiều thế hệ.
Quy luật của sự phát triển luôn có những nguyên tắc bất biến mà nếu vi phạm, người ta sẽ phải trả giá rất đắt. Một công trình xây dựng sai phép có thể bị phạt tiền hoặc cưỡng chế đập bỏ trong vài tuần. Một con đường trải nhựa kém chất lượng có thể cào lên làm lại trong vài tháng. Nhưng một bản quy hoạch sai lầm một khi đã thành hình hài trên thực địa thì trăm năm sau cũng không thể nào sửa chữa nổi. Nó sẽ định hình vĩnh viễn cấu trúc không gian, phân hóa giai tầng xã hội và khóa chặt tương lai phát triển của cả một vùng đất.
Chúng ta từng nói rất nhiều về việc chống tham nhũng chính sách, chống lợi ích nhóm trong công tác xây dựng pháp luật. Đã đến lúc phải nhìn nhận hiện tượng quy hoạch may đo cũng là một dạng thức lạm quyền tinh vi và để lại hậu quả xã hội nặng nề không kém. Ngăn chặn nó không thể chỉ dựa vào những lời kêu gọi đạo đức nghề nghiệp chung chung của giới kiến trúc sư hay các nhà quản lý, mà phải bằng những hàng rào thể chế minh bạch và nghiêm ngặt.
Quy hoạch công phải được trả về một cách thực sự cho công quyền và cộng đồng. Việc lắng nghe ý kiến người dân không thể chỉ là những cuộc họp lấy lệ ở nhà văn hóa tổ dân phố với những tấm bản đồ treo quá cao, nét vẽ quá nhỏ và ngôn từ kỹ thuật quá xa lạ với người bình dân. Phải để người dân hiểu rõ mảnh đất của họ sẽ biến đổi ra sao, sinh kế của họ sẽ được bù đắp thế nào, và họ có quyền nói không với những đường chỉ may đo bất thường cắt xén vào cuộc sống của họ. Cần những cơ chế phản biện độc lập từ các nhà khoa học đô thị, các chuyên gia xã hội học, để mỗi nhát cắt của chỉ giới đường đỏ đều phải giải trình được tính hợp lý tối cao về mặt khoa học chứ không phải về mặt doanh thu.
Thành phố đáng sống không phải là thành phố có nhiều tòa nhà chọc trời nhất hay những đại lộ rộng thênh thang nhất. Thành phố đáng sống là nơi mà mỗi người dân, dù là người bán xôi đầu ngõ hay một chủ doanh nghiệp lớn, đều cảm thấy mình có một góc nhỏ an toàn để nương náu và phát triển. Ở đó, chiếc áo quy hoạch được may rộng rãi, đàng hoàng, bao bọc và che chở cho tất cả mọi người, chứ không phải là chiếc áo dạ hội bó sát chỉ dành riêng cho một vài vị khách thượng lưu bước lên sân khấu, bỏ lại sau lưng hàng vạn con người co ro dưới cái lạnh của sự lãng quên.
Một nét chì kẻ trên giấy can chỉ mất vài giây để vẽ, nhưng cái bóng của nó có thể trùm lên số phận của nhiều thế hệ con người. Giữ cho nét chì ấy thẳng thắn, công tâm và thấm đẫm lòng trắc ẩn chính là bài thử thách lớn nhất về lương tri của những người đang nắm giữ quyền năng định hình diện mạo tương lai cho những thành phố của chúng ta./.