Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn trăm năm: Quyết sách vì dân, vì tương lai thịnh vượng
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích về đột phá chiến lược của quy hoạch Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Trong đó làm rõ sự cần thiết của tầm nhìn dài hạn, đồng thời chỉ ra các điểm nhấn của quy hoạch như: Tái cấu trúc toàn diện không gian đô thị, phát triển hạ tầng giao thông công cộng, phân bổ lại nguồn lực, gắn với cải cách thể chế để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả thực thi, trên nền tảng xuyên suốt là lấy con người làm trung tâm. Tầm nhìn trăm năm là sự chuyển đổi căn bản từ tư duy quy hoạch nhiệm kỳ, phân mảnh sang tư duy kiến tạo không gian phát triển dài hạn, tích hợp và có trách nhiệm với các thế hệ tương lai. Qua đó, bài viết hướng tới mục tiêu phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc về quy hoạch, bảo vệ tính đúng đắn của chủ trương, củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội để quy hoạch được triển khai hiệu quả trong thực tiễn.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm đã được HĐND TP. Hà Nội thông qua vào cuối tháng 3 và đang trong quá trình hoàn thiện để chính thức phê duyệt, công bố. Đây là bản quy hoạch được thực hiện dựa trên định hướng chỉ đạo của Đảng trong bối cảnh Thủ đô Hà Nội được xác định "sứ mệnh mới" đặt trong bước ngoặt phát triển có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với tương lai thịnh vượng của dân tộc.
Quy hoạch với tầm nhìn 100 năm tạo ra cuộc tái thiết đô thị chưa từng có tiền lệ nhưng không phải là một "bản vẽ" xa rời hiện thực, càng không phải những định hướng thiếu căn cứ, mà là quyết sách chiến lược, xuất phát từ đòi hỏi cấp bách của thực tiễn, gắn liền với sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy và phương pháp, chuyển từ cách tiếp cận "quy hoạch hàn lâm" sang "quy hoạch hành động". Quy hoạch không chỉ có tính mở, linh hoạt mà còn dựa trên trục tư duy xuyên suốt, đó là lấy con người làm trung tâm và chất lượng sống của người dân làm thước đo cao nhất, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường.
Trong bối cảnh xuất hiện không ít cách nhìn phiến diện, thậm chí sai lệch gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự đồng thuận xã hội, cần làm rõ các định hướng chỉ đạo của Đảng và bản chất, giá trị của tầm nhìn quy hoạch cũng như các nội dung quy hoạch cụ thể, từ đó nhận diện, phản bác và làm thất bại những luận điệu đang bóp méo thông tin, gây nhiễu loạn dư luận và có thể cản trở hiệu quả thực thi trên thực tế.
Thủ đô Hà Nội đã trải qua 8 lần xây dựng và điều chỉnh quy hoạch, gắn với từng giai đoạn lịch sử và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị "Về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới" đã thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của Thủ đô. Theo đó, Hà Nội không chỉ là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, nơi hội tụ và lan tỏa tinh hoa văn hóa, trí tuệ và nguồn lực của đất nước mà còn là trung tâm kiến tạo, giữ vai trò dẫn dắt, định hình mô hình và tư duy phát triển mới, đồng thời là hạt nhân, trung tâm kết nối, động lực phát triển của cả vùng và cực tăng trưởng cả nước.[1]
Trước đó, làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đầu năm 2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm đặc biệt quan trọng của Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh đất nước đang đứng trước bước ngoặt phát triển có ý nghĩa lịch sử. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Tổng Bí thư khẳng định, Hà Nội không thể phát triển theo tư duy của một địa phương lớn mà phải được định vị và vận hành như một trung tâm kiến tạo và phát triển quốc gia, có vai trò dẫn dắt, định hình các mô hình phát triển mới với tư duy mới. Trong đó, mỗi vấn đề Hà Nội giải quyết thành công và hiệu quả, từ tổ chức không gian phát triển, quản trị đô thị, xử lý ùn tắc, ô nhiễm, ngập úng đến kỷ luật đầu tư công, cải cách hành chính và chuyển đổi số… sẽ có tác động rất lớn đến cách nghĩ, cách làm của các địa phương trên toàn quốc. "Hà Nội chậm, cả nước sẽ chậm".[2]
Sự thay đổi trong cách tiếp cận về trọng trách và sứ mệnh của Hà Nội trong bối cảnh mới là cơ sở lý luận quan trọng để xây dựng một bản quy hoạch tổng thể nhất quán với những định hướng phát triển mang tính chiến lược, làm điểm tựa nền tảng kiến tạo động lực để Hà Nội có thể vượt qua những giới hạn phát triển hiện hữu, hướng tới mục tiêu trở thành Thủ đô có tầm vóc quốc tế, là điểm đến hấp dẫn và là biểu trưng cho một Việt Nam phát triển trong tương lai.
Trên thực tế, việc triển khai đồng thời quy hoạch Thủ đô thời kỳ 2021 - 2030 và quy hoạch chung Thủ đô đến năm 2045 trong thời gian qua đã gây ra sự chồng chéo, phân mảnh, và thiếu đồng bộ giữa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức không gian, đồng thời chưa giải quyết triệt để các tồn tại, điểm nghẽn như ùn tắc giao thông, úng ngập, ô nhiễm môi trường, quá tải hạ tầng, lãng phí nguồn lực… Đây là thách thức lớn đối với các mục tiêu phát triển của Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
Những bất cập trong công tác quy hoạch và quản lý đô thị không chỉ được nhận diện từ thực tiễn, mà đã được chỉ rõ trong Nghị quyết 02/NQ-TW của Bộ Chính trị. Theo đó, công tác quy hoạch còn thiếu đồng bộ, chưa theo kịp tốc độ phát triển; các "điểm nghẽn" như ùn tắc giao thông, ngập úng, ô nhiễm môi trường chậm được khắc phục; việc khai thác nguồn lực, quản lý đất đai, tổ chức không gian phát triển còn nhiều hạn chế; đặc biệt, các không gian mới như không gian ngầm, không gian đô thị mới và kinh tế số chưa được tổ chức và phát huy hiệu quả. Quan trọng hơn, vai trò của Hà Nội với tư cách là trung tâm lan tỏa, động lực dẫn dắt phát triển vùng và quốc gia vẫn chưa được thể hiện rõ nét[3].
Những hạn chế mang tính hệ thống đó cho thấy, vấn đề không chỉ nằm ở khâu triển khai, mà bắt nguồn từ chính tư duy quy hoạch chưa đủ dài hạn, thiếu tính tích hợp và chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới. Định hướng này cũng được khẳng định rõ trong Nghị quyết 02-NQ/TW khi yêu cầu chuyển từ "quy hoạch tĩnh" sang "quy hoạch động và mở", gắn với ứng dụng dữ liệu số và các nền tảng phân tích, mô phỏng đô thị thông minh - một cách tiếp cận mới nhằm bảo đảm quy hoạch có căn cứ khoa học, minh bạch và khả năng thích ứng dài hạn. Đây chính là cơ sở thực tiễn và lý luận trực tiếp đặt ra yêu cầu phải xây dựng một quy hoạch tổng thể với tầm nhìn đủ dài, đủ rộng và đủ linh hoạt để khắc phục các điểm nghẽn và kiến tạo không gian phát triển mới.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm được xây dựng trên cơ sở hợp nhất các quy hoạch cũ, xóa chồng chéo, manh mún, thiết lập một nền tảng quy hoạch thống nhất, dài hạn, bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Việc kéo dài tầm nhìn chính vì thế là bước đột phá trong tư duy quy hoạch, vừa đáp ứng những yêu cầu mới đang đặt ra, vừa khắc phục hạn chế trước đây khi quy hoạch thường chỉ trong tầm nhìn 10 - 20 năm, phụ thuộc vào các giai đoạn mang tính nhiệm kỳ, không chỉ không định hình được diện mạo Thủ đô như kỳ vọng mà còn dẫn đến những bất cập khó khắc phục[4].
Quy hoạch tầm nhìn 100 năm tạo cơ sở để xác lập những trục phát triển chiến lược đủ ổn định, cho phép Hà Nội chủ động tích hợp các xu hướng phát triển mới như đô thị thông minh, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế sáng tạo… thích ứng với các biến động dài hạn như gia tăng dân số, áp lực hạ tầng, kể cả những thách thức mới như biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống… ngay từ giai đoạn đầu.
Như vậy, tầm nhìn trăm năm không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật quy hoạch mà còn là biểu hiện của bản lĩnh và trách nhiệm đối với tầm vóc, vị thế của Thủ đô trong tương lai. Đó là lựa chọn dứt khoát nhằm khắc phục những hạn chế cố hữu, tạo nền tảng để Thủ đô phát triển có trật tự, có chiều sâu và khả năng cạnh tranh trong dài hạn. Tầm vóc mới của Hà Nội không thể được dẫn dắt bằng những quy hoạch ngắn hạn, chắp vá theo từng giai đoạn, bởi mọi vấn đề cốt lõi - từ hạ tầng, dân số, môi trường đến cấu trúc không gian đều có độ trễ hàng chục năm, thậm chí nhiều thế hệ. Nếu không có một tầm nhìn đủ dài, đô thị sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn "vừa làm vừa sửa", chi phí khắc phục sai lầm luôn lớn hơn rất nhiều so với đầu tư đúng ngay từ đầu. Thực tế đã chứng minh, những hạn chế trong phát triển đô thị thời gian qua phần nào bắt nguồn từ tư duy ngắn hạn, thiếu liên kết và thiếu tầm nhìn tổng thể.
"Giai đoạn này không cho phép chúng ta tiếp tục phát triển theo quán tính cũ", "quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm phải là công trình của trí tuệ, trách nhiệm và khát vọng phát triển"[5], những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm càng khẳng định tầm quan trọng của một quy hoạch mang tính đột phá tương xứng với tầm vóc phát triển mới của Thủ đô.
Tuy nhiên, một tầm nhìn xa "chưa từng có tiền lệ" sẽ trở nên "viển vông" nếu không dựa trên những cơ sở khả thi và cách làm mới, quyết liệt, bứt khỏi tư duy cũ. Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm đã được thông qua không phải là sự tích hợp cơ học của các quy hoạch trước đây mà là bản thiết kế tổng thể về tầm nhìn chiến lược, khát vọng lớn gắn với từng giai đoạn, lộ trình, bước đi cụ thể và sự chuyển biến về chất trong tư duy, phương pháp quy hoạch cũng như cách đo lường hiệu quả thực thi[6]. Quy hoạch gắn liền với tính hành động khi được đặt song song với yêu cầu hoàn thiện thể chế, giải quyết các điểm nghẽn, khơi thông các nguồn lực, xác lập mô hình tăng trưởng mới. Đó là một bản quy hoạch đủ tầm để không chỉ giải quyết bài toán trước mắt mà còn dự trữ không gian phát triển cho các thế hệ mai sau[7].
Tầm nhìn trăm năm không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật quy hoạch mà còn là biểu hiện của bản lĩnh và trách nhiệm đối với tầm vóc, vị thế của Thủ đô trong tương lai. (Ảnh minh họa)
Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm được đánh giá là cuộc tái cấu trúc toàn diện không gian phát triển, khi chuyển từ quy hoạch "5 vùng đô thị, 5 trục không gian, 5 khu vực đô thị, đô thị vệ tinh" sang mô hình quy hoạch "đa cực - đa trung tâm - đa tầng - đa lớp", định hình Hà Nội sau 50 năm, 100 năm tới là một Thủ đô phát triển, văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc trong khu vực và trên thế giới[8].
Với 9 cực phát triển, 9 trung tâm lớn và 9 trục động lực, Hà Nội đang tái định vị các nguồn lực kinh tế, dân cư và hạ tầng theo hướng cân bằng, hợp lý hơn, thay vì tiếp tục dồn nén vào khu vực lõi vốn đã quá tải. Đây là câu trả lời trực diện cho tình trạng nội đô bị "bó cứng" bởi ùn tắc, ô nhiễm và thiếu khoảng thở, không gian sống xanh.
Đáng chú ý, định hướng tái cấu trúc không gian này không chỉ dừng lại ở phạm vi nội đô, mà đã được đặt trong một tư duy phát triển mở, liên kết vùng và liên kết quốc gia. Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định rõ yêu cầu quy hoạch Thủ đô phải gắn kết chặt chẽ với vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Trung du và miền núi phía Bắc, cũng như các hành lang kinh tế quốc gia và quốc tế…
Trên thực tế, Hà Nội đã chạm tới giới hạn chịu tải, việc mở rộng đường hay làm thêm những tuyến đường mới theo kiểu chắp vá thời gian qua không đủ sức giải quyết tình trạng tắc nghẽn mà thậm chí còn tạo nên những điểm ùn tắc và quá tải mới[9]. Điều này cho thấy, mọi nỗ lực cải thiện đô thị nếu không bắt nguồn từ hạ tầng giao thông đều khó đạt hiệu quả bền vững. Do đó, quy hoạch lần này chú trọng tái cấu trúc giao thông đô thị từ gốc rễ, với tư duy tổng thể và khoa học, biến các nhiệm vụ cần xử lý cấp bách như ùn tắc, ngập úng, môi trường… trở thành trọng tâm của chiến lược hạ tầng và bài toán thích ứng với biến đổi khí hậu tầm nhìn 100 năm.
Trong quy hoạch mới, giao thông công cộng được xác định là "xương sống", với trụ cột là hệ thống đường sắt đô thị, trên cơ sở đó, tái định hình lại toàn bộ không gian đô thị, khắc phục các điểm nghẽn, dẫn dắt phát triển theo mô hình TOD[10]. Không gian xung quanh các nhà ga metro sẽ được mở rộng và tổ chức thành các đô thị nén - tăng mật độ xây dựng, nâng tầng cao, giải phóng mặt đất cho khoảng xanh, đồng thời tích hợp đầy đủ chức năng sống, làm việc và dịch vụ, tiện ích. Đây chính là giải pháp mang tính "đòn bẩy kép": Vừa giảm thiểu phương tiện cá nhân gây ùn tắc, vừa tạo nguồn lực tài chính để tái đầu tư thông qua khai thác giá trị gia tăng từ đất đai. Khi hạ tầng giao thông đi trước dẫn dắt, quy hoạch không còn là sự phân chia không gian tĩnh, mà được vận hành theo logic của khả năng kết nối và hiệu quả.
Cùng với đó, không gian đô thị theo hướng đa tầng (ngầm - mặt đất - trên cao) và đa lớp giá trị (di sản - văn hóa, sinh thái - tự nhiên và kinh tế - số hoá) cho thấy tính mở, linh hoạt của quy hoạch tổng thể. Không gian ngầm được khai thác với tỷ lệ ngầm hóa khu vực lõi khoảng trên 40% để giải quyết các vấn đề cấp bách như ngập úng, thiếu bãi đỗ xe và hạ tầng kỹ thuật. Không gian trên cao mở ra những khả năng phát triển mới trong tương lai liên quan đến công nghệ và các mô hình kinh tế không gian mới. Cấu trúc này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng đất, mà còn tạo ra một đô thị có khả năng thích ứng trước những biến động khó lường, từ biến đổi khí hậu đến sự thay đổi trong mô hình kinh tế.
Đáng chú ý, trong cấu trúc không gian mới, sông Hồng lần đầu tiên được đặt vào vị trí trung tâm và được xác định là trục phát triển chủ đạo, không chỉ về cảnh quan mà còn về văn hóa, kinh tế và kết nối đô thị. Trục đại lộ sông Hồng đóng vai trò kết nối đa chiều, liên kết khu vực lõi di sản với các đô thị mới, các cực tăng trưởng và các hành lang phát triển. Hai bên bờ sông không còn là ranh giới chia cắt, mà trở thành không gian mở, hội tụ các hoạt động văn hóa, kinh tế, dịch vụ, giải trí…, góp phần hình thành diện mạo đô thị hiện đại, hướng sông, đồng thời vẫn bảo tồn chiều sâu lịch sử[11]. Việc chuyển đổi cách tiếp cận về vai trò của dòng sông từ "kiểm soát lũ" sang "khai thác giá trị tổng hợp" không chỉ thể hiện khát vọng về "kỳ tích sông Hồng" - bấy lâu nay chưa được hiện thực hoá mà còn là biểu hiện rõ nét của một tư duy quy hoạch tích hợp đa giá trị, kết nối đa chiều, phát triển bền vững và thích ứng dài hạn.
Các mục tiêu cấu trúc không gian được cụ thể hóa thành các chương trình, dự án theo từng giai đoạn, với lộ trình rõ ràng và thứ tự ưu tiên hợp lý. Giai đoạn 2026 - 2035, Hà Nội tập trung hoàn thiện hệ thống hạ tầng khung, đặc biệt là các tuyến vành đai, đường sắt đô thị và các dự án môi trường cấp bách. Các tuyến đường sắt liên vùng được quy hoạch với tổng chiều dài hơn 1.100km, đi theo các trục động lực, vành đai, các cực tăng trưởng và trung tâm lớn để định hình không gian phát triển mới. Đi kèm với đó là các tuyến vành đai, trục hướng tâm, cầu vượt sông… hình thành một hệ thống giao thông đa tầng, đa chiều, bảo đảm lưu thông hiệu quả và mở rộng không gian phát triển. Các giai đoạn tiếp theo tiếp tục mở rộng mạng lưới hạ tầng, phát triển các trung tâm mới và nâng cao chất lượng dịch vụ đô thị.
Theo đó, mục tiêu đến năm 2035, Hà Nội cơ bản trở thành thành phố "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc", là trung tâm kinh tế, giáo dục, y tế và đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đến năm 2045, Thủ đô hội tụ tri thức và công nghệ toàn cầu, ngang tầm các thủ đô của các nước phát triển; và đến năm 2065 cùng tầm nhìn sau đó, hướng tới trở thành thành phố toàn cầu với chất lượng sống cao. Quy hoạch cũng xác định rõ quy mô dân số theo từng giai đoạn: Đến năm 2035 khoảng 14 - 15 triệu người; năm 2045 khoảng 15 - 16 triệu người; năm 2065 khoảng 17 - 19 triệu người và sau đó khống chế không quá 20 triệu người để bảo đảm ngưỡng chịu tải đô thị.[12]
Để các mục tiêu quy hoạch đi liền với tính hành động và hiệu quả, vấn đề thể chế được đặt ra như một điều kiện tiên quyết. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: "Không có thể chế phù hợp thì không thể có quy hoạch tốt; không có thể chế vượt trội thì không thể tạo ra không gian phát triển vượt trội". Việc hoàn thiện thể chế, sửa đổi Luật Thủ đô thời gian qua được tiếp cận với tư duy đổi mới, tầm nhìn dài hạn, tạo cơ sở pháp lý vượt trội, đủ mạnh để Hà Nội phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế đặc thù, mạnh dạn thí điểm những mô hình mới, cách làm mới gắn liền với cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả[13]. "Tinh thần xuyên suốt là "Trao quyền mạnh hơn - Phân cấp, phân quyền toàn diện, triệt để hơn - Trách nhiệm giải trình rõ ràng hơn", đúng với yêu cầu "Hà Nội quyết - Hà Nội làm - Hà Nội chịu trách nhiệm" đảm bảo đồng bộ của hệ thống pháp luật", Tổng Bí thư nhấn mạnh.[14]
Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội Khóa XVI, Luật Thủ đô (sửa đổi) đã được thông qua và sẽ có hiệu lực ngay từ 1/7/2026, mở ra không gian thể chế để Hà Nội phát triển nhanh, bền vững, tương xứng với vai trò là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và hội nhập quốc tế[15]. Luật mới đã phân cấp, phân quyền thực chất, toàn diện cho chính quyền TP. Hà Nội với 199 thẩm quyền đặc thù, vượt trội để chủ động hơn trong quản lý đất đai, đầu tư và huy động nguồn lực…, giúp tháo gỡ nhanh các điểm nghẽn đầu tư mà không phải chờ đợi quy trình trình duyệt phức tạp; giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu hạ tầng khổng lồ và áp lực ngân sách nhà nước. Khi những "nút thắt" về thủ tục, phân cấp và cơ chế được tháo gỡ, quy hoạch có cơ sở để triển khai nhanh chóng, hiệu quả, loại bỏ tình trạng "chờ đợi" kéo dài làm lỡ nhịp phát triển.
Như vậy, có thể khẳng định, việc tái cấu trúc không gian phát triển, gắn chặt với tổ chức thực thi, chính là bước đi tất yếu để đưa Thủ đô vượt qua những điểm nghẽn hiện hữu, mở ra không gian phát triển mới và hiện thực hóa khát vọng về một đô thị văn minh, hiện đại và đáng sống. Bối cảnh mới không có chỗ cho sự chậm trễ hay lúng túng, thay vào đó là một cam kết hành động thực chất.
Từ cấu trúc không gian đến hệ thống hạ tầng, từ mô hình phát triển đến cơ chế thực thi, quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm đã thể hiện rõ một tư duy mới: Không chấp nhận phát triển manh mún, không thỏa hiệp với những giải pháp ngắn hạn, mà hướng tới một cấu trúc đô thị hiện đại, đồng bộ và bền vững. Những nghi ngại cho rằng quy hoạch chỉ dừng lại trên giấy sẽ được hóa giải với một hệ thống giải pháp toàn diện, được thiết kế đồng bộ từ ý tưởng đến hành động. Và quan trọng hơn, trục tư duy xuyên suốt của quy hoạch là lấy con người làm trung tâm và chất lượng cuộc sống làm thước đo cao nhất. Đây chính là nền tảng cốt lõi để quy hoạch được thực thi đúng hướng.[16]
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nâng tầm tư tưởng "Dân là gốc" - cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam trở thành nguyên tắc hành động và là thước đo cao nhất để đánh giá hiệu quả chính sách. Đảng xác định nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; tôn trọng, lắng nghe và dựa vào nhân dân. "Mọi quyết sách chỉ có ý nghĩa khi được nhân dân đồng tình, ủng hộ và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân; "thế trận lòng dân vững thì khó khăn nào cũng vượt qua, thách thức nào cũng được hóa giải", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định.[17]
Với quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu, quy hoạch phải lấy con người làm trung tâm, chất lượng sống làm thước đo cao nhất. Đồng thời, mục tiêu cao nhất của quy hoạch là một Hà Nội đáng sống, nơi người dân được thụ hưởng môi trường trong lành, không gian văn hóa đặc sắc, dịch vụ công chất lượng cao, an sinh xã hội vững chắc, có cơ hội phát triển toàn diện; và mỗi người dân đều cảm thấy tự hào, hạnh phúc và gắn bó.
Chính từ yêu cầu đó, quy hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm đã được thiết kế theo hướng thận trọng, từng bước và có kiểm soát. Nhưng một quy hoạch có tầm vóc trăm năm, tạo ra một cuộc tái thiết đô thị chưa từng có, khó tránh khỏi việc phải đối diện với những băn khoăn, nghi ngại trong bối cảnh cuộc sống của một bộ phận dân cư có thể sẽ có những xáo trộn nhất định. Những câu hỏi đặt ra về việc quy hoạch sẽ phải đánh đổi, hy sinh sự ổn định vốn có; lo ngại bị lợi ích nhóm chi phối, nhằm đẩy giá đất trục lợi hay nguy cơ di sản bị xoá sổ để đổi lấy tăng trưởng… không phải là vô căn cứ. Thực tiễn phát triển đô thị trong quá khứ đã từng có những bài học khiến dư luận thận trọng hơn. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra lúc này là làm thế nào để biến chủ trương "lấy con người làm trung tâm" thành niềm tin và sự đồng thuận xã hội.
Một trong những điểm cần làm rõ để hóa giải nghi ngại là vấn đề giãn dân nội đô. Trên thực tế, thành phố không có chủ trương di dời dân cư quy mô lớn một cách cơ học. Thông tin về việc di dời đồng loạt hàng trăm nghìn người ra khỏi nội đô là không chính xác. Cách tiếp cận của quy hoạch lần này là cải tạo, chỉnh trang, tái thiết có trọng điểm các khu phố cổ, phố cũ, khu vực quy hoạch cũ… trên cơ sở bảo tồn các giá trị văn hoá lịch sử, di sản, đồng thời tổ chức lại không gian và phân bổ dân cư theo hướng hợp lý hơn, gắn với việc làm, sinh kế và hạ tầng. Điều này có nghĩa là người dân được tạo điều kiện để lựa chọn không gian sống tốt hơn, với hạ tầng đồng bộ, dịch vụ đầy đủ và môi trường sống được cải thiện. Mục tiêu xuyên suốt của công cuộc tái thiết đô thị theo quy hoạch lần này là nâng cao chất lượng sống, bảo tồn di sản và phát triển đô thị bền vững.[18]
Việc hình thành 9 cực phát triển với các vùng đô thị động lực tại các cửa ngõ của thành phố không chỉ nhằm mở rộng không gian, mà còn tạo ra các trung tâm việc làm, giáo dục, dịch vụ để người dân có thể tạo lập cuộc sống ổn định ngay tại nơi ở, thay vì phải phụ thuộc vào khu vực nội đô với cuộc sống chật chội, không gian sống quá tải, không đảm bảo chất lượng. Đây là cách tiếp cận mang tính căn cơ: Giãn dân không phải bằng mệnh lệnh hành chính, mà bằng sức hút của điều kiện sống và cơ hội phát triển của các cực tăng trưởng mới bên ngoài. Khi hạ tầng đi trước, khi việc làm và dịch vụ được phân bổ hợp lý, quá trình dịch chuyển dân cư sẽ diễn ra tự nhiên hơn, giảm thiểu sự xáo trộn.
Vấn đề phát triển trục đại lộ cảnh quan sông Hồng cũng tương tự. Cần nhấn mạnh lại rằng, đây không phải là câu chuyện lấy đất ven sông để phát triển bất động sản, mà là một chiến lược tái cấu trúc không gian đô thị gắn với sinh thái, văn hóa và lợi ích cộng đồng. Quy hoạch xác định rõ nguyên tắc phát triển hai bên bờ sông theo hướng mở, ưu tiên không gian xanh, công viên, mặt nước và các công trình công cộng, đồng thời kiểm soát chặt chẽ mật độ xây dựng, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân tại chỗ về sinh kế, môi trường sống, tiện ích công cộng. Những khu vực cần giải phóng mặt bằng sẽ được thực hiện có chọn lọc, đi kèm với các chính sách tái định cư bảo đảm điều kiện sống tốt hơn cho người dân. Điều quan trọng là, giá trị gia tăng từ đất đai không chỉ phục vụ phát triển kinh tế, mà được tái phân bổ trở lại để tái đầu tư vào việc nâng cao chất lượng sống. Và cảnh quan sông Hồng phải là nơi người dân có thể tiếp cận dễ dàng nhất.[19]
Có thể thấy, "lấy con người làm trung tâm" không phải là một lời khẳng định mang tính nguyên tắc, mà phải được cụ thể hóa bằng từng quyết định, từng chính sách trong quá trình thực hiện quy hoạch. Đồng thuận xã hội phải được xây dựng từ sự minh bạch và nhất quán trong hành động. Khi người dân nhìn thấy quyền lợi của mình được bảo đảm, khi họ được tham gia và được thụ hưởng thành quả phát triển, thì niềm tin sẽ được củng cố.
Thực tiễn tại phường Đại Mỗ cho thấy rõ quá trình chuyển hóa từ chủ trương đến niềm tin xã hội. Những năm gần đây, địa phương đã có bước phát triển nhanh, diện mạo đô thị thay đổi rõ rệt với nhiều khu đô thị mới, hệ thống giao thông từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, cùng với đó là áp lực không nhỏ khi dân cư gia tăng nhanh, hạ tầng có thời điểm chưa theo kịp, một số dự án kéo dài gây bức xúc trong nhân dân. Chính từ thực tiễn đó, yêu cầu về một quy hoạch tổng thể dài hạn, có tầm nhìn và cơ chế thực thi đồng bộ trở nên cấp thiết.
Từ một khu vực chịu nhiều áp lực của quá trình đô thị hóa nhanh, Đại Mỗ đang từng bước chuyển mình theo hướng phát triển có tổ chức, đồng bộ và bền vững hơn. (Ảnh minh họa)
Với quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, phường Đại Mỗ xác định rõ vai trò của mình trong cấu trúc đô thị phía Tây - một khu vực được xem là cực tăng trưởng mới với trục phát triển đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ, dịch vụ và đô thị thông minh. Cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn đã tích cực nắm bắt thông tin quy hoạch mới, đồng thời tham gia đóng góp ý kiến góp phần hoàn thiện quy hoạch.[20] Trên cơ sở đó, phường đang có những bước chuẩn bị vững chắc từ công tác quản lý đất đai, trật tự xây dựng đô thị đến phát triển hạ tầng và các dự án an sinh xã hội… bảo đảm đồng bộ hóa với tầm nhìn phát triển chung của quy hoạch tổng thể Thủ đô[21]. Những nỗ lực tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, triển khai các dự án trọng điểm, công trình khẩn cấp như công viên, hồ thuỷ lợi, khu tái định cư, các tuyến giao thông kết nối… cùng với quyết tâm xử lý các dự án tồn đọng kéo dài như tuyến đường từ Tố Hữu đến đường 70 trong thời gian gần đây cho thấy tinh thần hành động nhằm giải quyết những vấn đề người dân quan tâm và chuẩn bị nền tảng để từng bước hiện thực hóa quy hoạch mới.[22]
Từ một khu vực chịu nhiều áp lực của quá trình đô thị hóa nhanh, Đại Mỗ đang từng bước chuyển mình theo hướng phát triển có tổ chức, đồng bộ và bền vững hơn. Chính những chuyển biến cụ thể đó góp phần củng cố niềm tin của người dân, cho thấy rằng khi quy hoạch được triển khai đúng hướng, minh bạch và gắn với lợi ích thiết thực thì hiệu quả sẽ đi thẳng vào chất lượng cuộc sống.
Trong một hành trình phát triển dài hạn như quy hoạch Thủ đô tầm nhìn trăm năm, niềm tin xã hội chính là "hạ tầng mềm" quan trọng không kém bất kỳ công trình, dự án lớn nào. Và chỉ khi nguyên tắc "lấy con người làm trung tâm" được thực hiện một cách thực chất thì mọi băn khoăn mới được hóa giải, mọi nguồn lực mới được khơi thông và các định hướng lớn của quy hoạch trong bản vẽ mới có thể hiện hữu trên từng công trình, tuyến phố, mang lại sự chuyển biến rõ nét và cuộc sống hạnh phúc hơn cho mỗi người dân Thủ đô.
Các thủ thuật xuyên tạc trên mạng xã hội hiện nay về quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm thường không đi theo hướng phủ nhận trực diện, mà khai thác chính những điểm nhạy cảm như giải phóng mặt bằng, giãn dân nội đô hay phát triển trục cảnh quan sông Hồng để thổi phồng rủi ro, cắt xén thông tin, đánh tráo khái niệm giữa chủ trương và quá trình thực hiện. Một số luận điệu cố tình quy kết quy hoạch thành câu chuyện lợi ích nhóm giữa các dự án bất động sản và chính quyền, hoặc đồng nhất những hạn chế từng xảy ra trong quá khứ với bản chất của quy hoạch lần này, từ đó gieo rắc tâm lý hoài nghi, làm suy giảm niềm tin xã hội. Nguy hiểm hơn, những cách tiếp cận này thường lợi dụng tâm lý lo lắng chính đáng của người dân để dẫn dắt theo hướng cực đoan, khiến vấn đề có thể bị nhìn nhận lệch lạc, thiếu toàn diện.
Rủi ro lớn nhất không nằm ở bản thân các thông tin sai lệch, mà nằm ở hệ quả của nó đối với "đồng thuận xã hội" - yếu tố then chốt để triển khai thành công bất kỳ quy hoạch nào. Một khi dư luận bị dẫn dắt theo hướng nghi ngờ hoặc hiểu sai, người dân có thể mất niềm tin vào chính sách, từ đó hình thành tâm lý phản đối hoặc không hợp tác, ngay cả với những chủ trương đúng đắn. Điều này đặc biệt ảnh hưởng đến các khâu nhạy cảm như giải phóng mặt bằng, tái định cư hay điều chỉnh không gian đô thị vốn đã phức tạp và dễ phát sinh tranh chấp. Thực tế cho thấy, chỉ cần một làn sóng thông tin sai lệch lan rộng cũng có thể khiến một dự án bị chậm tiến độ nhiều năm, làm tăng chi phí và giảm hiệu quả đầu tư. Bên cạnh đó, thông tin sai còn có thể làm méo mó thị trường bất động sản, gây ra các hiện tượng như sốt đất ảo hoặc tâm lý hoang mang khiến giao dịch đình trệ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến người dân mà còn làm sai lệch dòng vốn đầu tư, khiến nguồn lực xã hội không được phân bổ đúng hướng.
Tuy nhiên, những cách diễn giải đó đã bỏ qua một nội dung rất quan trọng được Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định rõ: Hà Nội phải xây dựng cơ chế điều tiết một phần giá trị gia tăng từ đất gắn với quy hoạch và phát triển hạ tầng chiến lược, đồng thời nghiên cứu mở rộng thu hồi đất vùng phụ cận nhà ga, các tuyến giao thông mới để tạo nguồn tái đầu tư, trọng tâm là đường sắt đô thị. Điều này cho thấy, giá trị gia tăng từ đất đai không bị "tư nhân hóa" như một số quan điểm xuyên tạc, mà được thiết kế để quay trở lại phục vụ phát triển hạ tầng và lợi ích chung của xã hội.
Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng đặt trọng tâm vào việc đẩy mạnh tái cấu trúc đô thị, cải tạo các khu đô thị hạ tầng yếu kém, các khu chung cư cũ, đồng thời triển khai các chính sách đột phá về nhà ở xã hội, điều chỉnh linh hoạt các loại hình nhà ở nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân và góp phần bình ổn thị trường bất động sản. Đây là những nội dung cho thấy quy hoạch không nhằm tạo ra các "làn sóng đầu cơ" như một số cách hiểu lệch lạc, mà hướng tới giải quyết những vấn đề xã hội cốt lõi, bảo đảm quyền tiếp cận nhà ở và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Cũng cần phân biệt rõ giữa thông tin xuyên tạc và phản biện xã hội mang tính xây dựng. Những ý kiến phản biện dựa trên dữ liệu và chuyên môn là cần thiết để hoàn thiện quy hoạch, nhưng khi bị trộn lẫn với thông tin sai lệch, chúng dễ bị hiểu sai hoặc bị lợi dụng, cắt xén để phục vụ mục đích xấu. Do đó, việc nâng cao khả năng tiếp nhận thông tin của người dân, đồng thời tăng cường minh bạch thông tin và truyền thông chính sách, là yếu tố quan trọng để bảo đảm quy hoạch được triển khai hiệu quả và bền vững trong dài hạn.
Niềm tin xã hội phải được xây dựng bằng cả hệ thống giải pháp đồng bộ: Từ thiết kế chính sách, tổ chức thực hiện đến công tác truyền thông, đối thoại. Và trong quá trình đó, các tổ chức cơ sở Đảng là "cầu nối" trực tiếp giữa chủ trương với cuộc sống, giữa định hướng vĩ mô với tâm tư, nguyện vọng cụ thể của người dân. Không chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền, các tổ chức cơ sở Đảng cần chủ động nắm bắt dư luận, kịp thời đối thoại, giải đáp những băn khoăn, nhất là ở những khu vực chịu tác động trực tiếp của quy hoạch. Chính sự gương mẫu, trách nhiệm và gần dân của đội ngũ cán bộ cơ sở sẽ là yếu tố then chốt để củng cố niềm tin. Khi mỗi cán bộ, đảng viên thực sự hiểu đúng, nói đúng và làm đúng, thì đó chính là "lá chắn" hiệu quả nhất trước mọi thông tin sai lệch. Ngược lại, nếu ở đâu còn thiếu minh bạch, thiếu trách nhiệm, thì chính những khoảng trống đó sẽ bị lợi dụng để gây nhiễu loạn thông tin, làm ảnh hưởng đến nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trong bối cảnh không gian thông tin ngày càng mở và vận hành theo thời gian thực, việc bảo vệ quy hoạch không chỉ là nhiệm vụ mang tính phản ứng, mà cần được nâng lên thành một năng lực quản trị chủ động của hệ thống. Điều đó đòi hỏi phải từng bước hình thành cơ chế nhận diện sớm, phân tích kịp thời và xử lý có trọng tâm đối với các luồng thông tin sai lệch, trên cơ sở kết hợp giữa dữ liệu, công nghệ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị. Đồng thời, cần phát huy vai trò của báo chí chính thống, các kênh truyền thông uy tín và đội ngũ chuyên gia trong việc dẫn dắt, "giải mã" chính sách bằng lập luận khoa học, ngôn ngữ dễ hiểu và gắn với lợi ích cụ thể của người dân. Khi thông tin đúng không chỉ đi sau để đính chính mà đủ nhanh, đủ rõ và đủ thuyết phục để đi trước một bước, thì môi trường thông tin sẽ dần được "làm sạch", tạo điều kiện để quy hoạch được tiếp nhận trong một không gian nhận thức minh bạch, khách quan và tích cực hơn. Đây chính là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin, bảo vệ tính đúng đắn của chủ trương và bảo đảm quá trình thực thi quy hoạch diễn ra thông suốt, hiệu quả trong thực tiễn.
Tầm nhìn trăm năm của quy hoạch tổng thể Thủ đô hướng tới khát vọng thịnh vượng không cho phép những bước đi nửa vời hay những giải pháp mang tính nhiệm kỳ. Đó là thước đo của bản lĩnh hoạch định, năng lực tổ chức thực hiện và trên hết là sự kiên định với nguyên tắc "vì dân" trong mọi quyết sách.
Với một tầm nhìn đủ xa, một cấu trúc phát triển đủ mở, một cơ chế thực thi đủ mạnh và một nền tảng đồng thuận xã hội đủ vững, Hà Nội có cơ sở để vượt qua những giới hạn hiện hữu, mở ra không gian phát triển mới và từng bước hiện thực hóa khát vọng trở thành Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc. Khi mỗi quyết định đều hướng tới lợi ích lâu dài của cộng đồng, được thực hiện công khai, minh bạch và giúp mỗi người dân nhìn thấy tương lai của mình trong chính những đổi thay của thành phố, quy hoạch sẽ dần hiện hữu trong từng công trình, từng tuyến phố, từng không gian sống tốt đẹp hơn.
Bảo vệ quy hoạch Thủ đô tầm nhìn trăm năm vì thế cũng là bảo vệ một lựa chọn phát triển đúng đắn, nhân văn và có trách nhiệm với tương lai. Đó chính là sức mạnh của "thế trận lòng dân" - nền tảng để Hà Nội vững vàng bước vào kỷ nguyên mới, xứng đáng với vai trò trái tim của cả nước và biểu tượng của một Việt Nam thịnh vượng trong thế kỷ XXI./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO, TRÍCH DẪN
[1] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 02/NQ-TW ngày 17/3/2026 "Về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới".
[3] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 02/NQ-TW ngày 17/3/2026 "Về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới".
[4] https://nhandan.vn/quy-hoach-thu-do-tam-nhin-100-nam-dot-pha-tu-tu-duy-den-hanh-dong-post952443.html
[10] https://hanoimoi.vn/quy-hoach-thu-do-tam-nhin-100-nam-tu-tu-duy-tinh-sang-dong-va-mo-739771.html
[17] https://nhandan.vn/special/bao-cao-ca-vankien-trinh-DHXIV/index.html
[21] https://hanoimoi.vn/phuong-dai-mo-vuon-minh-kien-tao-the-va-luc-moi-733741.html

