Tái cấu trúc hạ tầng du lịch đáp ứng nhu cầu phát triển mới
Muốn du lịch trở thành động lực tăng trưởng bền vững đóng góp trên 10% GDP, con đường duy nhất là phải thực hiện một cuộc đại phẫu, tái cấu trúc căn bản toàn bộ hệ thống hạ tầng du lịch quốc gia dựa trên triết lý phát triển để bảo tồn, và bảo tồn phụng sự cho phát triển.
Một ngày ở bán đảo Cam Ranh, nếu đứng từ triền cát nhìn ra vịnh biển, người ta sẽ bắt gặp một khung cảnh chất chứa nhiều trăn trở. Xen lẫn giữa những rặng dừa xanh ngắt và những khu nghỉ dưỡng năm sao lung linh ánh đèn là hàng dài những khối bê tông dang dở, rêu phong phủ kín những bộ khung sắt đã hoen rỉ qua nhiều mùa gió mặn. Cách đó không xa, tại một số dự án đã hoàn thiện, hàng trăm căn nhà phố thương mại phong cách châu Âu vẫn im lìm cửa đóng then cài, vắng bóng bước chân người qua lại.
Cảnh tượng ấy không phải là cá biệt. Từ dải cát trắng miền Trung kéo dài đến tận bờ biển Phú Quốc, một nguồn lực xã hội khổng lồ đang bị chôn vùi trong đất đá. Chúng ta từng tự hào về tốc độ phát triển thần tốc của hệ thống lưu trú khi dòng vốn tư nhân ồ ạt đổ vào khai phá các miền bờ biển. Nhưng giờ đây, khi những cơn sốt đất lắng xuống và thị trường tài chính điều chỉnh, bức tranh hạ tầng du lịch bộc lộ một nghịch lý chua xót: Sự thừa thãi của những khối tài sản không tạo ra dòng tiền, đặt cạnh sự thiếu thốn cùng cực của những giá trị trải nghiệm có chiều sâu.
Hơn một thập kỷ qua, chúng ta đã mải miết chạy theo quy mô và số lượng, vô tình biến hạ tầng du lịch thành một sân chơi đầu cơ địa ốc ngắn hạn. Chúng ta mải miết xây dựng phần cứng là những khối nhà bê tông mà quên mất rằng văn hóa và di sản mới chính là hạ tầng mềm quyết định sức sống và đẳng cấp của một nền du lịch. Khi Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới ra đời, đó không đơn thuần là một văn kiện chính sách thường kỳ. Đó là một hồi chuông cảnh tỉnh mang tầm nhìn và cả tâm tư thế cuộc, buộc toàn ngành kinh tế, các cơ quan quản lý và giới đầu tư phải đối diện với sự thật: Muốn du lịch trở thành động lực tăng trưởng bền vững đóng góp trên 10% GDP, con đường duy nhất là phải thực hiện một cuộc đại phẫu, tái cấu trúc căn bản toàn bộ hệ thống hạ tầng du lịch quốc gia dựa trên triết lý phát triển để bảo tồn, và bảo tồn phụng sự cho phát triển.
Để hiểu được nguồn cơn của cuộc khủng hoảng thừa hiện nay, cần quay ngược thời gian về giai đoạn những năm 2010, đặc biệt là giai đoạn sau khi Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị được ban hành vào đầu năm 2017 (Nghị quyết số 08-NQ/TW được Bộ Chính trị ban hành vào ngày 16/01/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn). Khi cánh cửa cơ chế mở rộng, khu vực kinh tế tư nhân đã chứng minh sự nhạy bén, tính năng động và tiềm lực tài chính kinh ngạc. Chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm, số lượng phòng lưu trú trên toàn quốc đã tăng trưởng gấp đôi, từ hơn 400 nghìn phòng lên xấp xỉ 800 nghìn, với sự trỗi dậy mạnh mẽ của phân khúc nghỉ dưỡng cao cấp.


Các tập đoàn lớn đã tiên phong khai phá những vùng đất hoang sơ, kiến tạo nên những công trình mang tính biểu tượng, những tuyến cáp treo kỷ lục, những khu vui chơi chủ đề tầm cỡ và cả những cảng biển quốc tế chuyên dụng đầu tiên.
Các tập đoàn lớn đã tiên phong khai phá những vùng đất hoang sơ, kiến tạo nên những công trình mang tính biểu tượng, những tuyến cáp treo kỷ lục, những khu vui chơi chủ đề tầm cỡ và cả những cảng biển quốc tế chuyên dụng đầu tiên. Diện mạo của các trung tâm du lịch ven biển từ Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nha Trang đến Phú Quốc thực sự đã thay đổi ngoạn mục.
Tuy nhiên, mặt trái của sự bùng nổ ấy là sự lẫn lộn tai hại giữa phát triển hạ tầng du lịch phục vụ kinh tế vận hành với hoạt động phân lô, bán nền kiếm lời tài chính. Một giai đoạn dài, thị trường bất động sản nghỉ dưỡng bị cuốn vào cơn lốc căn hộ du lịch, biệt thự biển và nhà phố thương mại. Phần lớn các dự án nghỉ dưỡng ra đời không bắt nguồn từ những bài toán kinh tế vận hành thực tế, từ việc tính toán tỷ lệ lấp đầy buồng phòng hay dòng tiền kinh doanh dịch vụ trong chu kỳ 10 - 20 năm tới. Mục tiêu tối thượng của nhiều nhà phát triển khi ấy cốt yếu là phân lô, huy động vốn nhanh và chuyển nhượng kiếm chênh lệch. Lời hứa hẹn về mức lợi tức cam kết phi thực tế lên tới trên 10% mỗi năm từng được tung ra như một thứ chất kích thích, kéo theo hàng vạn nhà đầu tư cá nhân sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức lao vào vòng xoáy thị trường.
Khi thể chế pháp lý về quyền sở hữu đất thương mại dịch vụ chưa kịp hoàn thiện, các kênh dẫn vốn tín dụng và trái phiếu bị siết chặt, chiếc áo cơ chế lập tức rách toạc trước thử thách nghiệt ngã của thị trường. Hàng trăm nghìn tỷ đồng của xã hội, của các ngân hàng thương mại và người dân đang bị chôn chặt trong những công trình xây dở hoặc những tổ hợp đô thị nghỉ dưỡng thiếu vắng cư dân và du khách. Những khu đất vàng ven biển, thay vì trở thành không gian công cộng mở hay động lực sinh lời dài hạn cho địa phương, lại biến thành những vết sẹo cảnh quan nhức nhối. Đó là một sự lãng phí tài nguyên đất đai và tài sản quốc gia vô cùng xót xa mà phải mất rất nhiều năm chúng ta mới có thể khắc phục được.
Những khu đất vàng ven biển, thay vì trở thành không gian công cộng mở hay động lực sinh lời dài hạn cho địa phương, lại biến thành những vết sẹo cảnh quan nhức nhối. (Ảnh minh hoạ: VnExpress)
Nếu nhìn tổng thể bức tranh tài nguyên, Việt Nam sở hữu những lợi thế tự nhiên và văn hóa hiếm có với hơn ba nghìn hai trăm cây số bờ biển, hệ sinh thái hang động kỳ vĩ bậc nhất thế giới, cùng bề dày lịch sử ngàn năm của năm mươi tư dân tộc anh em. Nhưng nghịch lý cay đắng nằm ở chỗ, chúng ta đang thừa những thứ khách không cần và thiếu những điều khách đang mỏi mắt kiếm tìm.
Chúng ta dư thừa cục bộ hàng chục nghìn căn hộ nghỉ dưỡng và phòng khách sạn hạng sang tại một số địa bàn trọng điểm, dẫn đến những cuộc chiến hạ giá phòng khốc liệt để giành giật khách, làm xói mòn hình ảnh điểm đến và triệt tiêu biên lợi nhuận của chính các doanh nghiệp. Trong nhiều giai đoạn, công suất phòng trung bình tại những thiên đường du lịch như Nha Trang hay Phú Quốc chỉ dao động ở mức 30 – 40%, thậm chí cá biệt nhiều đại dự án chỉ đạt dưới 20%, kéo theo doanh thu trên mỗi phòng sẵn có sụt giảm thê thảm. Nhưng ngược lại, hạ tầng du lịch Việt Nam lại trống vắng những mắt xích kết nối chiến lược.
Các đô thị đầu tàu kinh tế như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vẫn thiếu những trung tâm triển lãm, hội nghị mang tầm vóc quốc tế để đón đầu phân khúc khách công vụ và sự kiện, vốn là nhóm khách chi tiêu gấp ba đến bốn lần khách du lịch lữ hành thuần túy. Hạ tầng kinh tế ban đêm gần như là một con số không tròn trĩnh khi các dịch vụ cơ bản tắt đèn sau mười giờ tối, chỉ để lại những khu chợ đêm tự phát bán đồ lưu niệm đơn điệu. Chúng ta chưa có những tổ hợp giải trí, biểu diễn nghệ thuật thực cảnh quy mô lớn, thiếu những trung tâm mua sắm miễn thuế nội đô để kích thích du khách mở hầu bao. Mạng lưới giao thông kết nối giữa sân bay, cảng biển với các vùng di sản văn hóa nội địa vẫn còn nhiều gập ghềnh, chia cắt, khiến du khách mất quá nhiều thời gian di chuyển mệt mỏi.
Chính sự lệch pha hạ tầng ấy đã trói buộc ngành du lịch vào chiếc bẫy tăng trưởng số lượng. Khách quốc tế đến Việt Nam chỉ để chụp một vài bức ảnh kỷ niệm rồi vội vã rời đi, mức chi tiêu bình quân của một chuyến đi trên dưới một tuần chỉ quanh quẩn hơn một nghìn đô la, phần lớn dồn vào chi phí thuê phòng và ăn uống tối thiểu. Tỷ lệ khách quay lại chưa chạm nổi ngưỡng 10%, trong khi con số này ở quốc gia láng giềng như Thái Lan đạt tới hơn 70%. Chúng ta đón hàng chục triệu lượt khách nhưng tổng doanh thu thu về cho nền kinh tế lại quá khiêm tốn, nguồn thặng dư thực tế đọng lại trong nước không tương xứng, trong khi cái giá phải trả cho sự quá tải hạ tầng cục bộ và ô nhiễm môi trường lại quá đắt đỏ.
Giữa thời điểm ngành du lịch đang lúng túng tìm lối thoát khỏi chiếc bẫy du lịch đại trà, Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị ra đời như một sự khẳng định bản lĩnh chính trị và tầm nhìn chiến lược sâu sắc. Văn kiện này đã tạo ra một bước ngoặt lớn về mặt tư duy phát triển, đặt dấu chấm hết cho giai đoạn tăng trưởng bằng mọi giá dựa trên số lượng khách thuần túy.
Bộ Chính trị đã xác định rất rõ ràng: Phát triển du lịch trong kỷ nguyên mới phải là sự chuyển dịch mạnh mẽ sang chất lượng, chiều sâu, giá trị gia tăng cao, dựa trên nền tảng của văn hóa, công nghệ số và kinh tế xanh. Du lịch không phải là một ngành dịch vụ đơn lẻ, mà là một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp có tính liên ngành và liên vùng sâu sắc, giữ vai trò động lực thúc đẩy thương mại, vận tải, công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo và nông nghiệp sinh thái.




Nếu hạ tầng cứng là sân bay, bến cảng, đường sá và các khách sạn tạo nên thể xác vật chất, thì hạ tầng mềm chính là hệ giá trị văn hóa, phong tục tập quán, nếp sống, các di sản vật thể và phi vật thể kiến tạo nên linh hồn và sức hút nội tại của điểm đến. (Ảnh minh hoạ: Sun Group)
Mục tiêu đến năm 2030 đóng góp trực tiếp từ 10 - 12% GDP với tổng doanh thu 80 - 90 tỷ đô la, và xa hơn là lọt vào nhóm ba mươi quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới vào năm 2045 không thể đạt được bằng cách tiếp tục đếm số lượt người check-in. Thước đo thành công giờ đây phải chuyển dịch dứt khoát sang mức chi tiêu bình quân ngày, thời gian lưu trú kéo dài bao lâu, và trên hết là tỷ lệ giá trị thặng dư thực tế ở lại trong túi tiền của người dân và doanh nghiệp Việt Nam.
Nghị quyết số 26 cũng mở đường cho sự đột phá về thể chế, khuyến khích thí điểm các mô hình kinh tế mới như kinh tế ban đêm, kinh tế ven sông, kinh tế biển, kinh tế chia sẻ và các tổ hợp du lịch đa chức năng. Nhưng quan trọng hơn cả, văn kiện khẳng định văn hóa là nền tảng cốt lõi, bản sắc là lợi thế cạnh tranh. Nhận thức này định hình một tư duy hoàn toàn mới về bản chất của hạ tầng: Văn hóa và các giá trị di sản không phải là món đồ trang sức gắn thêm bên ngoài, mà chính là hạ tầng mềm của du lịch. Nếu hạ tầng cứng là sân bay, bến cảng, đường sá và các khách sạn tạo nên thể xác vật chất, thì hạ tầng mềm chính là hệ giá trị văn hóa, phong tục tập quán, nếp sống, các di sản vật thể và phi vật thể kiến tạo nên linh hồn và sức hút nội tại của điểm đến. Thiếu vắng hạ tầng mềm, hạ tầng cứng dù tráng lệ đến đâu cũng sẽ chỉ là những khối bê tông vô hồn, sớm muộn cũng bị thời gian và sự lãng quên đào thải.
Từ nhận thức ấy, một triết lý phát triển bền vững cần phải được xác lập và quán triệt sâu sắc trong mọi hành động: Phát triển để bảo tồn, và bảo tồn phụng sự cho phát triển. Chúng ta không thể bảo tồn di sản theo kiểu đóng băng, cất giữ trong tủ kính như những bảo tàng chết, bởi một di sản không tạo ra sinh kế, không nuôi sống được cộng đồng dân cư bản địa thì sớm muộn cũng sẽ bị bào mòn bởi nghèo đói và sự thờ ơ của thời gian. Ngược lại, chúng ta càng không thể nhân danh phát triển để tàn phá cảnh quan thiên nhiên, cạo trọc những cánh rừng phòng hộ hay xâm hại thô bạo vào vùng lõi di sản để phân lô bán nền kiếm lời ngắn hạn. Phát triển đúng đắn là tạo ra nguồn lực tài chính dồi dào, mang lại công nghệ tiên tiến và sinh kế bền vững để quay trở lại tái tạo, tôn tạo và làm giàu thêm cho di sản. Chính di sản khi được bảo tồn nguyên vẹn, được kể lại bằng ngôn ngữ nghệ thuật và công nghệ hiện đại sẽ trở thành bệ đỡ vững chãi, phụng sự đắc lực cho sự thăng hoa của kinh tế du lịch.
Nhìn ra thế giới, căn bệnh vừa thừa vừa thiếu hạ tầng du lịch không phải là câu chuyện cá biệt của riêng Việt Nam. Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ phát triển du lịch đi trước từng đối mặt với cuộc khủng hoảng tương tự và đã tìm ra những lời giải mang tính đột phá về cấu trúc.
Tây Ban Nha từng rơi vào cái bẫy dư thừa hạ tầng lưu trú giá rẻ tại vùng duyên hải Costa del Sol và quần đảo Balearic sau nhiều thập kỷ chạy theo du lịch đại trà. Họ thừa mứa các khách sạn bình dân và căn hộ ven biển vào mùa thấp điểm nhưng lại thiếu trầm trọng hạ tầng văn hóa và dịch vụ cao cấp, biến những vịnh biển tươi đẹp thành nơi tụ tập của du khách ít tiền, gây ô nhiễm môi trường và xói mòn cảnh quan. Để tự cứu mình, chính phủ Tây Ban Nha đã triển khai các kế hoạch tái thiết mang tính cách mạng: Ban hành lệnh cấm xây mới khách sạn tại các vùng đã bão hòa, khuyến khích các chủ đầu tư mua gom và phá dỡ các cơ sở lưu trú cũ kỹ để trả lại mặt bằng làm công viên bờ biển hoặc nâng cấp toàn diện lên chuẩn năm sao. Đặc biệt, thành phố Málaga đã đầu tư chiến lược vào hệ thống bảo tàng nghệ thuật đẳng cấp quốc tế, đưa các bảo tàng danh tiếng như Picasso hay Pompidou về đặt chi nhánh, biến một đô thị biển thuần túy thành kinh đô văn hóa, kéo dài thời gian lưu trú và tăng vọt chi tiêu dịch vụ ngoài tiền phòng.
Đảo Hải Nam của Trung Quốc cũng từng đi qua một cơn sốt đất du lịch điên cuồng trong thập niên trước, để lại hàng vạn căn condotel, biệt thự biển và shophouse xây xong nhưng vắng bóng người ở tại thành phố Tam Á. Đảo thừa phòng ốc nhưng lại thiếu trầm trọng các sản phẩm kích thích chi tiêu lớn, khiến nguồn tiền đọng lại cho nền kinh tế rất khiêm tốn so với hàng trăm tỷ đô la vốn đầu tư. Thay vì tìm cách bơm vốn cứu các dự án bất động sản thuần túy, chính phủ Trung Quốc đã ban hành cơ chế cảng thương mại tự do đặc biệt cho Hải Nam, nâng hạn mức mua sắm miễn thuế nội địa lên tới 100 nghìn nhân dân tệ mỗi người mỗi năm và cho phép xây dựng các tổ hợp mua sắm miễn thuế nội đô khổng lồ. Đồng thời, họ kiên quyết cấm phân lô bán nền ven biển, buộc các dự án bất động sản nghỉ dưỡng dang dở phải chuyển hướng tái cấu trúc thành các tổ hợp công viên chuyên đề, trung tâm du lịch công vụ và khu y tế, dưỡng lão quốc tế tại Bác Ngao. Dòng tiền du khách lập tức được kích hoạt mạnh mẽ, biến Hải Nam thành thiên đường mua sắm và trị liệu của cả khu vực.
Tại Thái Lan, thành phố biển Pattaya từng chìm trong khủng hoảng thừa phòng giá rẻ và các khu phố mua sắm xô bồ phục vụ tour 0 đồng, nhưng lại thiếu hạ tầng du lịch sinh thái, thể thao và trải nghiệm gia đình chất lượng cao.
Thành phố biển Pattaya từng chìm trong khủng hoảng thừa phòng giá rẻ và các khu phố mua sắm xô bồ phục vụ tour 0 đồng, nhưng lại thiếu hạ tầng du lịch sinh thái, thể thao và trải nghiệm gia đình chất lượng cao. (Ảnh minh hoạ: Wikimedia Commons)
Thông qua chiến lược Neo Pattaya, chính quyền nước này đã thẳng tay dọn dẹp hàng quán nhếch nhác lấn chiếm bờ biển, cải tạo vỉa hè thành đại lộ dạo bộ công cộng rộng thênh thang, đồng thời đầu tư tuyến đường sắt tốc độ cao kết nối ba sân bay quốc tế để kéo dòng khách hạng sang từ thủ đô Bangkok về thẳng vùng vịnh. Các chủ đầu tư condotel dở dang được khuyến khích chuyển đổi công năng sang mô hình căn hộ dịch vụ cao cấp phục vụ những người làm việc từ xa dài ngày và du khách kết hợp trị liệu y tế, tạo nên một diện mạo hoàn toàn mới cho thành phố.
Thậm chí tại khu vực Nam Âu như đảo Síp hay Hy Lạp, khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra làm hàng nghìn biệt thự và căn hộ nghỉ dưỡng ven Địa Trung Hải đứt gánh dòng tiền và bị bỏ hoang, chính quyền các nước này đã không ngần ngại lập ra các công ty quản lý tài sản chuyên trách, gom các dự án du lịch nợ xấu để bán lại theo gói lớn cho các quỹ đầu tư khách sạn quốc tế với mức chiết khấu phù hợp, đi kèm cam kết tái thiết vận hành thực chất. Họ đồng thời cho phép điều chỉnh quy hoạch linh hoạt để chuyển đổi các khu căn hộ du lịch bỏ trống thành ký túc xá đại học quốc tế, viện nghiên cứu khoa học biển hay trung tâm dưỡng lão mùa đông cho cư dân Bắc Âu.
Khung cảnh biệt thự bỏ hoang tại Agios Nikolaos, đảo Crete (Hy Lạp). (Ảnh minh hoạ: IPA Archive)
Những bài học quốc tế ấy khẳng định một chân lý giản dị nhưng sâu sắc: Không thể giải cứu hạ tầng du lịch bằng tư duy địa ốc, mà phải cứu bằng kinh tế vận hành, bằng sự linh hoạt trong chuyển đổi công năng và sự bồi đắp không ngừng cho hạ tầng mềm văn hóa.
Để hiện thực hóa tầm nhìn và những chủ trương đúng đắn từ Nghị quyết 26, nhiệm vụ đầu tiên và mang tính cấp bách nhất của chúng ta là phải giải phóng được khối tài sản khổng lồ đang bị chôn chân trong các dự án du lịch - nghỉ dưỡng dở dang. Chúng ta không thể để hàng trăm nghìn tỷ đồng tiếp tục nằm bất động, làm xói mòn bảng cân đối tài chính của các ngân hàng thương mại và bào mòn nguồn lực quý báu của toàn xã hội.
Chính phủ cần sớm ban hành các hướng dẫn pháp lý dứt khoát, minh bạch và đồng bộ về quyền sở hữu, thời hạn sử dụng đất đối với loại hình bất động sản đa công năng như căn hộ du lịch, biệt thự nghỉ dưỡng và nhà phố thương mại. Cần xóa bỏ triệt để tâm lý e ngại, lấp lửng trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu cho nhà đầu tư thứ cấp trên đất thương mại dịch vụ có thời hạn. Khi quyền tài sản hợp pháp của người mua được bảo vệ bằng khung khổ pháp lý vững chắc, niềm tin thị trường mới được hàn gắn, và dòng vốn nhàn rỗi trong xã hội mới có thể yên tâm quay trở lại tái thiết các dự án dang dở.
Đối với những dự án mà chủ đầu tư cũ đã hoàn toàn kiệt quệ năng lực tài chính, các cơ quan chức năng cần thiết lập cơ chế đặc thù, đơn giản hóa tối đa các thủ tục chuyển nhượng dự án để mở đường thông thoáng cho thị trường mua bán, sáp nhập. Cần khuyến khích các quỹ đầu tư chuyên nghiệp, các nhà phát triển bất động sản uy tín và các tập đoàn quản lý khách sạn quốc tế có thực lực tham gia tiếp quản, mua gom và bơm nguồn vốn mới để hồi sinh những công trình đang nằm đắp chiếu, đi kèm cam kết hoàn thiện hạ tầng và đưa vào khai thác dịch vụ đúng hạn. Đối với những trường hợp cố tình chây ì, ôm đất đầu cơ mà không triển khai, chính quyền địa phương phải kiên quyết thu hồi giấy phép và thu hồi đất để giao cho các nhà đầu tư có năng lực thực sự.
Đồng thời, cần trao quyền chủ động, linh hoạt cho chính quyền các địa phương trong việc cho phép điều chỉnh cục bộ quy hoạch công năng của các đại dự án ven biển, tương tự như cách Hải Nam hay Thái Lan đã thực hiện thành công. Thay vì ép các dự án phải giữ nguyên hàng nghìn căn nhà phố thương mại vốn không còn cơ hội kinh doanh bán lẻ đơn thuần, hãy cho phép các nhà đầu tư chuyển đổi một phần sang các chức năng phục vụ đời sống xã hội đang thiếu hụt. Sự linh hoạt trong quy hoạch sẽ giúp giải cứu các khối tài sản bê tông khỏi số phận hoang phế, đưa đất đai quay trở lại chu trình sinh lợi cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, cuộc đại phẫu này sẽ chỉ dừng lại ở nửa vời nếu chúng ta không bắt tay vào việc bồi đắp hạ tầng mềm văn hóa cho các khối công trình vật chất. Các nhà phát triển cần phải dứt khoát từ bỏ tư duy bán đứt đoạn kiếm lời nhanh để chuyển hẳn sang tư duy quản trị vận hành tài sản dài hạn.


Chúng ta hoàn toàn có thể biến những quảng trường bỏ hoang thành không gian biểu diễn nghệ thuật thực cảnh, những sân khấu âm nhạc định kỳ cuối tuần, hay các không gian làng nghề sống động nơi du khách có thể tự tay chạm vào trầm tích văn hóa bản địa. (Ảnh minh hoạ: Klook/hue.gov.vn)
Doanh nghiệp phải chủ động đồng hành cùng chính quyền, các nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu văn hóa để thổi hồn di sản vào từng ngóc ngách của các khu đô thị du lịch. Chúng ta hoàn toàn có thể biến những quảng trường bỏ hoang thành không gian biểu diễn nghệ thuật thực cảnh, những sân khấu âm nhạc định kỳ cuối tuần, hay các không gian làng nghề sống động nơi du khách có thể tự tay chạm vào trầm tích văn hóa bản địa. Những show diễn thực cảnh tầm cỡ mang đậm dấu ấn lịch sử dân tộc chính là minh chứng sống động cho việc dùng phát triển hiện đại để tôn vinh và bảo tồn di sản, tạo ra nguồn thu khổng lồ để nuôi dưỡng lại các giá trị văn hóa ngàn đời.
Bên cạnh đó, các địa phương cần giải quyết bài toán thiếu hụt hạ tầng kích cầu chi tiêu bằng các mô hình kinh tế mới. Cần mạnh dạn thí điểm chính sách mua sắm miễn thuế nội đô tại các trung tâm du lịch lớn như Phú Quốc, Nha Trang, Đà Nẵng, tạo ra các đại trung tâm thương mại miễn thuế để giữ chân dòng tiền mua sắm của khách quốc tế. Đồng thời, cần quy hoạch các khu phức hợp giải trí đêm biệt lập, có cơ chế quản lý an ninh hiện đại, cho phép các hoạt động ẩm thực, biểu diễn nghệ thuật, quán bar và giải trí vận hành thông suốt thâu đêm suốt sáng. Du khách quốc tế, đặc biệt là thế hệ trẻ, sẵn sàng chi trả rất nhiều tiền cho những trải nghiệm cảm xúc sau hoàng hôn, và chúng ta không thể tiếp tục bỏ phí mỏ vàng này chỉ vì sự e ngại trong công tác quản lý trật tự đô thị. Song song đó, hạ tầng lưu trú cũng cần được tái cấu trúc mạnh mẽ để bắt kịp các xu hướng phục hồi thể chất, chăm sóc sức khỏe và xu hướng làm việc từ xa kết hợp nghỉ dưỡng dài ngày bằng việc trang bị hạ tầng viễn thông số tốc độ cao cùng các không gian làm việc chung tiện nghi, biến Việt Nam thành điểm đến lý tưởng cho giới chuyên gia toàn cầu.
Hạ tầng du lịch không thể vận hành cô lập nếu thiếu đi bộ khung hạ tầng giao thông và dịch vụ công cộng đồng bộ. Chính phủ cần ưu tiên nguồn lực đầu tư công để hoàn thành các tuyến cao tốc huyết mạch kết nối trực tiếp các vùng nguyên liệu di sản với các đô thị trung tâm. Các sân bay quốc tế lớn cần được đẩy nhanh tiến độ nâng cấp và hiện đại hóa, không chỉ để tăng công suất đón khách mà còn để nâng cao chất lượng dịch vụ hành khách đạt chuẩn mực quốc tế. Đặc biệt, chúng ta phải khẩn trương xóa bỏ sự bất hợp lý trong hạ tầng hàng hải bằng cách xây dựng thêm các cảng hành khách quốc tế chuyên biệt tại các miền di sản ven biển, chấm dứt hoàn toàn tình trạng đón các siêu du thuyền quốc tế tại các cảng hàng hóa bụi bặm.


Hạ tầng du lịch không thể vận hành cô lập nếu thiếu đi bộ khung hạ tầng giao thông và dịch vụ công cộng đồng bộ. (Ảnh minh hoạ: Báo Nhân dân/VnExpress)
Một bài toán nhức nhối khác cần phải được giải quyết dứt điểm là việc trả lại không gian bờ biển cho cộng đồng, tương tự bài học dẹp bỏ hàng quán, mở thông cảnh quan của Pattaya hay các thành phố duyên hải Tây Ban Nha. Chính quyền các tỉnh ven biển cần kiên quyết thu hồi những dự án chậm triển khai, chiếm dụng mặt biển trái phép, đồng thời yêu cầu các khu nghỉ dưỡng phải tháo dỡ hàng rào ngăn cách, mở ra những lối đi công cộng thông thoáng xuống biển. Đường bờ biển phải thuộc về nhân dân và du khách. Một điểm đến du lịch đẳng cấp không bao giờ là một chuỗi các khu nghỉ dưỡng khép kín cô lập với đời sống bản địa, mà phải là nơi cộng đồng địa phương cùng tham gia, cùng hưởng lợi và cùng gìn giữ môi trường sinh thái. Đó chính là gốc rễ của sự bảo tồn phục vụ cho phát triển.
Đồng thời, để đón đầu dòng khách công vụ có mức chi tiêu cao, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cần được bố trí quỹ đất sạch tại những vị trí giao thông thuận tiện để kêu gọi các tập đoàn lớn xây dựng các trung tâm hội chợ, triển lãm và hội nghị quốc tế có quy mô lớn. Việc sở hữu những công trình này sẽ giúp Việt Nam cạnh tranh sòng phẳng với các trung tâm lớn trong khu vực như Bangkok hay Singapore trong cuộc đua giành quyền đăng cai các diễn đàn kinh tế, các hội nghị thượng đỉnh toàn cầu và các sự kiện triển lãm thương mại quốc tế.
Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, hạ tầng mềm còn bao hàm cả công nghệ số và cơ sở dữ liệu lớn. Bộ máy quản lý nhà nước cần khẩn trương phối hợp với các doanh nghiệp công nghệ hàng đầu để xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia tập trung, liên thông dữ liệu xuất nhập cảnh, lưu trú, công suất buồng phòng theo thời gian thực và hành vi tiêu dùng của du khách qua các kênh thanh toán số. Khi có được nguồn dữ liệu lớn trong tay, cơ quan quản lý sẽ dễ dàng dự báo xu hướng thị trường, kịp thời cảnh báo nguy cơ quá tải tại các điểm di sản, kiểm soát ngưỡng sức chứa sinh thái và thiết kế các chiến dịch xúc tiến số trúng đích. Tại các điểm đến cụ thể, hạ tầng số cần được phủ sóng toàn diện bằng hệ thống vé điện tử liên tuyến, bản đồ tương tác thông minh và hệ thống camera trí tuệ nhân tạo giám sát an ninh, bảo vệ du khách khỏi nạn chèo kéo, chặt chém giá cả.
Cuối cùng, mọi nỗ lực tái cấu trúc hạ tầng sẽ trở nên vô nghĩa nếu chúng ta không xóa bỏ được tư duy cục bộ địa phương. Đã đến lúc phải thành lập các trung tâm quản lý điểm đến chuyên trách theo từng vùng di sản với sự tham gia bình đẳng của chính quyền các tỉnh, các doanh nghiệp đầu tư lớn và đại diện cộng đồng dân cư. Các địa phương trong cùng một vùng kinh tế di sản như Huế - Đà Nẵng không thể tiếp tục cạnh tranh triệt tiêu lẫn nhau, mà phải cùng nhau ngồi lại để quy hoạch hành trình di sản thống nhất, dùng chung một hạ tầng xúc tiến quảng bá ở thị trường quốc tế, bảo vệ các giá trị văn hóa chung và chia sẻ lợi ích phát triển một cách hài hòa, bền vững.
Những sai lầm, những dang dở của hạ tầng du lịch trong một thập kỷ qua là bài học đắt giá, nhưng cũng chính là dư địa và động lực to lớn nhất để chúng ta bắt đầu một cuộc tái cấu trúc toàn diện. Đã đến lúc các nhà hoạch định chính sách, chính quyền các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp phải thể hiện bản lĩnh, gạt bỏ những toan tính ngắn hạn, bắt tay vào việc tháo gỡ dứt điểm nút thắt thể chế, bù đắp các khoảng trống hạ tầng cứng và bồi đắp chiều sâu cho hạ tầng mềm di sản. Đó chính là bệ phóng vững chắc nhất để du lịch Việt Nam thực sự cất cánh./.


