“Tam nông” từ chiều sâu lịch sử đến vị thế mới trong kỷ nguyên thịnh vượng của dân tộc
Tháng 4/1946, khi nền độc lập vừa giành được chưa đầy một năm, đất nước còn bộn bề đói nghèo và thử thách, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong thư gửi điền chủ, nông gia Việt Nam: "Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh".
Tám thập kỷ đã trôi qua. Việt Nam hôm nay đang bước vào một chặng đường phát triển hoàn toàn khác, với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; với công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh và những công nghệ mới đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế - xã hội.
Nhưng cũng chính lúc ấy, một câu hỏi tưởng như cũ lại cần được đặt ra ở một tầm vóc mới: Trong một Việt Nam ngày càng công nghiệp hơn, đô thị hơn và hiện đại hơn, nông nghiệp, nông dân và nông thôn sẽ có vị thế như thế nào?
Có phải khi tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế giảm xuống thì vị thế của "tam nông" cũng nhỏ đi?
Hay càng tiến gần tới mục tiêu của một quốc gia phát triển, chúng ta càng phải nhìn sâu hơn vào những nền tảng đã tạo nên sức sống của dân tộc để nhận ra rằng có những giá trị không thể chỉ đo bằng tỷ trọng GDP?
Một cánh đồng không chỉ làm ra lương thực. Một cánh rừng không chỉ tạo ra sản phẩm. Một làng quê không chỉ cung cấp lao động cho đô thị. Và người nông dân cũng không thể chỉ được nhìn như người đứng ở đầu thấp nhất của một chuỗi sản xuất.
Trong chiều sâu lịch sử, "tam nông" còn gắn với an ninh lương thực, nguồn nước và nền tảng sinh thái; với tri thức, văn hóa và di sản; với sức cố kết cộng đồng và nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; với khả năng thích ứng, sáng tạo và nhiều tìm tòi từ thực tiễn từng góp phần mở đường cho những đổi mới đột phá của đất nước.
Bởi vậy, bước vào mô hình phát triển mới, điều cần đổi mới không chỉ là công nghệ sản xuất hay phương thức tổ chức nông nghiệp, mà trước hết còn là cách nhìn về vị thế của "tam nông".
Nông nghiệp không chỉ là "trụ đỡ" mỗi khi nền kinh tế gặp khó khăn, mà phải trở thành một lĩnh vực tạo ra giá trị cao, tri thức mới và những năng lực tự cường của quốc gia.
Nông dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách, mà phải trở thành những chủ thể kinh tế có tri thức, tài sản, quyền lựa chọn và khả năng làm chủ tương lai.
Nông thôn cũng không thể chỉ là phần không gian còn lại bên ngoài đô thị, mà phải trở thành những cộng đồng đáng sống, giàu bản sắc, có sức sáng tạo và khả năng kết nối với những dòng chảy lớn của phát triển.
Trong mô hình hướng tới một Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, "tam nông" vì thế cần được nhìn nhận như một bộ phận quan trọng tạo nên năng lực phát triển mới của đất nước.
Và thước đo của sự hiện đại hóa cũng cần được nhìn rộng hơn. Một cánh đồng có nhiều máy móc hơn chưa chắc đã là một nền nông nghiệp hiện đại nếu người nông dân không mạnh lên. Một chuỗi giá trị lớn hơn chưa chắc đã tiến bộ nếu người sản xuất vẫn ở vị thế yếu. Một làng quê khang trang hơn chưa chắc đã đáng sống nếu người trẻ không nhìn thấy tương lai và cộng đồng dần mất đi bản sắc.
Đích đến của phát triển, suy cho cùng, không chỉ là làm cho những con số lớn hơn, mà là làm cho con người mạnh hơn, cộng đồng giàu năng lực hơn và đất nước có thêm sức mạnh để tự quyết định tương lai của mình.
Đó cũng là lý do Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam (Reatimes.vn) bắt đầu chuyên đề: "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình phát triển mới của Việt Nam" bằng cuộc trò chuyện với GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang.
Từ bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946, câu chuyện Đại tướng Nguyễn Chí Thanh xuống ruộng cấy cùng nông dân, những sáng kiến từ thực tiễn từng góp phần mở đường cho Đổi mới, đến câu chuyện về nông dân số, nông nghiệp sinh thái, những cộng đồng nông thôn đáng sống và vị thế của "tam nông" trong một Việt Nam năm 2045 - cuộc trò chuyện không chỉ nhìn lại quá khứ. Điều quan trọng hơn là đọc lịch sử để nhận diện những nguồn lực đã làm nên sức sống của dân tộc, từ đó đặt lại vị thế của "tam nông" trong chặng đường phát triển mới.
Và xuyên suốt cuộc đối thoại ấy là một câu hỏi: Làm thế nào để nền tảng nông nghiệp, sức sáng tạo của người nông dân và những giá trị của nông thôn được chuyển hóa thành năng lực phát triển của một Việt Nam giàu mạnh, thịnh vượng và nhân văn?
Trân trọng giới thiệu cùng độc giả!
- Thưa Giáo sư, xin bắt đầu cuộc trò chuyện từ bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điền chủ, nông gia Việt Nam ngày 11/4/1946. Trong thư, Người viết: “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”[1]. Đặt vào thời điểm nền độc lập còn rất non trẻ, câu nói ấy dường như đã đặt đời sống của người nông dân vào chính thước đo của sức mạnh quốc gia. Từ chiều sâu lịch sử, Giáo sư có thể luận giải tư tưởng đó như thế nào? Và gần tám thập kỷ sau, điều gì trong đó vẫn còn nguyên giá trị đối với con đường phát triển của Việt Nam hôm nay?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điền chủ, nông gia Việt Nam ngày 11/4/1946, với lời căn dặn: "Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh", chứa đựng một tư tưởng có ý nghĩa rất sâu sắc về mối quan hệ giữa phát triển đời sống nhân dân với sức mạnh và sự phồn vinh của quốc gia.
Cần đặt lời căn dặn ấy trong hoàn cảnh năm 1946. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa giành được độc lập, nền kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh, nạn đói vừa qua, phần lớn dân cư sống ở nông thôn và sinh kế chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Vì vậy, đối với một đất nước mà đại bộ phận dân cư là nông dân, giải quyết vấn đề nông nghiệp và đời sống nông dân không chỉ là một chính sách kinh tế - xã hội, mà còn là vấn đề có ý nghĩa nền tảng đối với việc củng cố chế độ mới và xây dựng quốc gia độc lập.
Điều đặc biệt trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là Người không nhìn nông dân chỉ như đối tượng được chăm lo, mà nhìn họ như chủ thể của quá trình phát triển. Nông dân có đời sống tốt hơn, có động lực sản xuất, có điều kiện tiếp cận tri thức, vốn, kỹ thuật và thị trường thì năng lực sản xuất của xã hội được nâng lên; nông nghiệp phát triển sẽ tạo ra lương thực, nguyên liệu, việc làm, thu nhập và thị trường, qua đó tạo nền tảng cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác. Nói cách khác, sự giàu có của người dân và sự thịnh vượng của đất nước không phải hai mục tiêu tách rời, mà nằm trong một quan hệ tương hỗ.
Tư tưởng ấy vẫn có giá trị đối với Việt Nam hôm nay, nhưng cần được đặt trong một bối cảnh mới. Nông nghiệp hiện nay không thể chỉ được hiểu là sản xuất lương thực, mà phải chuyển mạnh sang nông nghiệp giá trị cao, xanh, công nghệ cao, gắn với công nghiệp chế biến, logistics, du lịch và thị trường toàn cầu. Mục tiêu cuối cùng của quá trình ấy vẫn phải là nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống và vị thế của người nông dân. Nếu nông nghiệp tăng trưởng mà thu nhập của người sản xuất thấp, nông dân phải rời bỏ ruộng đất hoặc nông thôn thiếu sức sống thì đó chưa phải là một mô hình phát triển bền vững.
Một điểm rất đáng chú ý trong bức thư năm 1946 là Hồ Chí Minh đã nói đến hợp tác xã. Theo tôi, đây là một gợi mở quan trọng đối với việc tổ chức lại nền nông nghiệp hiện nay. Hợp tác xã không nên được hiểu đơn giản là một hình thức tập trung hóa sản xuất, càng không phải là sự trở lại của mô hình bao cấp. Hợp tác xã hiện đại phải dựa trên sự tự nguyện, quyền tự chủ của thành viên và lợi ích kinh tế thiết thực. Người nông dân vẫn là chủ thể của tư liệu sản xuất và quyết định sản xuất của mình, nhưng thông qua hợp tác, họ có thể làm được những việc mà một hộ riêng lẻ khó có khả năng làm như mua vật tư với giá tốt hơn, áp dụng công nghệ, tổ chức vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, xây dựng thương hiệu, chế biến, bảo quản và tiếp cận những thị trường lớn.
Vì vậy, vấn đề quan trọng không phải là "hợp tác hay không hợp tác", mà là hợp tác như thế nào để người nông dân thấy hợp tác đem lại lợi ích lớn hơn khi làm riêng lẻ. Nhà nước cần tạo môi trường pháp lý, tín dụng, khoa học, công nghệ, đào tạo và hạ tầng để các hợp tác xã phát triển; đồng thời khuyến khích sự liên kết giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp - nhà khoa học - Nhà nước, hình thành những chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại.
Nhìn từ hôm nay, câu nói năm 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể được diễn đạt thành một nguyên lý phát triển là muốn đất nước giàu mạnh thì trước hết phải làm cho người dân có cơ hội làm giàu bằng chính sức lao động và năng lực sáng tạo của mình. Đối với nông nghiệp, điều đó có nghĩa là chuyển từ tư duy "giúp nông dân thoát nghèo" sang tư duy "tạo điều kiện để nông dân trở thành những chủ thể kinh tế có năng lực, có tài sản, có tri thức và có vị thế trong chuỗi giá trị, để người dân làm giàu". Khi người nông dân giàu lên một cách bền vững, nông nghiệp có giá trị cao và nông thôn có sức sống, thì đó chính là một trong những nền tảng quan trọng để đất nước phát triển thịnh vượng.
- Thưa Giáo sư, từ tư tưởng coi người nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, có lẽ còn một vấn đề rất quan trọng: Người lãnh đạo phải nhìn người dân như thế nào và học từ thực tiễn ra sao để tư tưởng ấy thực sự đi vào cuộc sống?
Tôi nhớ một chi tiết trong cuốn "Những câu chuyện về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh" của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh. Khi xuống ruộng cấy cùng bà con ở Quảng Bình, thấy bà con căng dây để cấy, Đại tướng thử làm theo cách của mình, không dùng dây, nhưng chậm hơn và hàng lúa không thẳng. Sau đó, ông vui vẻ nói: "Ồ, có cải tiến kỹ thuật vẫn hơn các chú ạ!"[2].
Có lẽ điều đáng nhớ không chỉ là hình ảnh một vị Đại tướng xuống ruộng với nông dân, mà là một người lãnh đạo sẵn sàng để thực tiễn và người dân kiểm nghiệm lại nhận thức của chính mình. Giáo sư nhìn thấy bài học gì từ thái độ ấy? Và đặt trong hoạch định chính sách "tam nông" hôm nay, "gần dân" cần được hiểu thế nào để không chỉ là xuống cơ sở, thăm hỏi, động viên, mà thực sự trở thành một phương thức hiểu dân, học dân và học từ thực tiễn?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Tôi cho rằng câu chuyện Đại tướng Nguyễn Chí Thanh xuống ruộng cấy lúa cùng bà con là một câu chuyện rất giản dị, nhưng chứa đựng một bài học lớn về phương pháp lãnh đạo. Điều đáng quý không chỉ là việc một vị Đại tướng trực tiếp xuống ruộng, mà quan trọng hơn là ông chấp nhận để thực tiễn kiểm nghiệm nhận thức của chính mình.
Khi thấy bà con căng dây để cấy cho nhanh và thẳng, Đại tướng thử làm theo cách của mình, không dùng dây. Kết quả là ông cấy chậm hơn, hàng lúa lại không thẳng bằng. Và ông vui vẻ thừa nhận: "Ồ, có cải tiến kỹ thuật vẫn hơn các chú ạ!". Theo tôi, cái hay nhất của câu chuyện nằm ở thái độ ấy. Một người lãnh đạo thực sự gần dân không phải là người xuống cơ sở chỉ để nói với dân phải làm gì, mà còn phải biết quan sát, biết hỏi, biết thử và quan trọng nhất là biết thừa nhận khi thực tiễn cho thấy người dân có cách làm tốt hơn.
Đó chính là tinh thần học từ nhân dân. Trong sản xuất nông nghiệp, người nông dân tích lũy một lượng tri thức thực tiễn rất lớn. Họ hiểu đất đai, thời tiết, giống cây, nguồn nước, mùa vụ và những biến động của thị trường bằng kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ. Nhiều sáng kiến ở cơ sở ban đầu có thể rất giản dị, thậm chí chưa được diễn đạt thành lý luận, nhưng lại có giá trị thực tiễn rất cao. Nếu chính sách chỉ đi theo một chiều, từ Trung ương xuống địa phương, mà không có cơ chế để những kinh nghiệm, sáng kiến và phản hồi từ cơ sở đi ngược trở lại, thì rất dễ xuất hiện khoảng cách giữa chính sách và cuộc sống.
Từ câu chuyện này, tôi nghĩ cần phân biệt rất rõ "gần dân" với "đến với dân". Đến thăm một hợp tác xã, xuống một cánh đồng, gặp gỡ nông dân là điều cần thiết, nhưng chưa đủ. Gần dân phải trở thành một phương thức nhận biết thực tiễn và hoạch định chính sách. Người làm chính sách phải đặt câu hỏi: Người dân đang gặp khó khăn gì? Họ đang tự giải quyết như thế nào? Cách làm nào đang có hiệu quả? Quy định nào đang cản trở họ? Và Nhà nước cần làm gì để một sáng kiến tốt từ một địa phương có thể được nhân rộng?
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với chính sách "tam nông" hiện nay. Việt Nam đang chuyển từ nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào hộ nhỏ sang nền nông nghiệp có liên kết, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chế biến sâu và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Trong quá trình đó, chính sách phải đủ tầm nhìn để dẫn dắt, nhưng đồng thời phải đủ linh hoạt để học từ những mô hình đang vận động trong thực tiễn.
Chúng ta đang rất cần xây dựng một cơ chế thực sự hiệu quả theo tinh thần "từ thực tiễn đến chính sách, rồi từ chính sách trở lại thực tiễn". Có thể cho địa phương, hợp tác xã, doanh nghiệp và người dân được thử nghiệm những mô hình mới trong khuôn khổ pháp luật; sau đó đánh giá bằng kết quả thực tế, chứ không chỉ bằng báo cáo. Mô hình nào tốt thì tổng kết, hoàn thiện thể chế và nhân rộng; mô hình nào chưa phù hợp thì điều chỉnh. Như vậy, chính sách không phải là một sản phẩm được xây dựng một lần rồi áp dụng cứng nhắc, mà là một quá trình liên tục thử nghiệm, tiếp nhận và đánh giá phản hồi để rồi điều chỉnh và hoàn thiện.
Đây cũng là một biểu hiện rất quan trọng của đổi mới phương thức lãnh đạo và quản trị quốc gia. Dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là nguồn tri thức của chính sách. Người nông dân không chỉ cần được hỗ trợ mà còn cần được lắng nghe như những chủ thể có kinh nghiệm, sáng kiến và khả năng sáng tạo.
Câu chuyện Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cấy lúa có thể được nhìn như một bài học về văn hóa lãnh đạo. Đó là sát dân để hiểu dân, hiểu dân để học dân, học dân để chính sách sát thực tiễn hơn. Và khi một người lãnh đạo có thể vui vẻ nói "có cải tiến kỹ thuật vẫn hơn", đó không phải là sự hạ thấp vai trò của người lãnh đạo, mà ngược lại, thể hiện sự tự tin, tinh thần cầu thị và năng lực lãnh đạo bằng thực tiễn. Đó chính là điều chúng ta rất cần trong hoạch định chính sách "tam nông" hôm nay.
- Câu chuyện vừa rồi khiến tôi nghĩ đến một đặc điểm rất đáng chú ý của công cuộc Đổi mới sau này: Không ít cái mới của Việt Nam dường như không bắt đầu từ một bản thiết kế hoàn chỉnh, mà được thai nghén từ chính những va đập của thực tiễn. Trong lịch sử nông nghiệp, đâu là câu chuyện khiến Giáo sư thấy rõ nhất sức sáng tạo từ cơ sở đã đi trước và từng bước thúc đẩy sự thay đổi của tư duy quản lý? Quan trọng hơn, điều gì giúp một sáng kiến ban đầu có thể vượt khỏi phạm vi một địa phương để trở thành sự thay đổi của thể chế?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Nếu phải chọn một câu chuyện tiêu biểu cho thấy sáng kiến từ cơ sở có thể mở đường cho đổi mới thể chế, tôi nghĩ rất nên nhắc đến quá trình hình thành và phát triển của khoán hộ ở Vĩnh Phú, cùng với những thử nghiệm "khoán chui" ở một số địa phương như Đồ Sơn, Hải Phòng. Đây không đơn thuần là câu chuyện về cách chia sản phẩm trong nông nghiệp, mà sâu xa hơn là câu chuyện về sự vận động của thực tiễn và khả năng tự điều chỉnh của một hệ thống quản lý.
Ở Vĩnh Phúc, từ giữa những năm 1960, đã xuất hiện những tìm tòi về giao khoán sản phẩm và phát huy vai trò của hộ gia đình trong sản xuất. Đến năm 1966, tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Nghị quyết 68-NQ/TU, triển khai những hình thức khoán mới, trong đó có giao khoán cho hộ gia đình. Điều đáng chú ý là những thử nghiệm ấy xuất phát từ một vấn đề rất thực tế, rằng nếu người nông dân trực tiếp sản xuất nhưng lại không có đủ quyền chủ động và động lực gắn với kết quả lao động của mình thì năng suất và hiệu quả sẽ bị hạn chế. Sau đó, trong bối cảnh cơ chế quản lý tập trung vẫn còn rất chặt chẽ, những cách làm phát huy tính chủ động của hộ gia đình gặp sự phản ứng và bị chấn chỉnh. Nhưng nhu cầu của thực tiễn không vì thế mà biến mất. Ở nhiều nơi, người dân và cơ sở tiếp tục tìm cách tổ chức sản xuất phù hợp hơn với điều kiện thực tế. Chính những thử nghiệm đó góp phần tạo nên một quá trình rất đáng chú ý là thực tiễn đi trước, nhận thức thay đổi dần, rồi thể chế được điều chỉnh.
Đồ Sơn, Hải Phòng, là một ví dụ khác. Những hình thức "khoán chui" xuất hiện từ nhu cầu giải quyết những bất cập rất cụ thể trong sản xuất. Người nông dân muốn làm tốt hơn, nhưng cơ chế cũ chưa tạo đủ không gian cho họ chủ động. Khi những cách làm mới cho thấy hiệu quả, chúng được cơ sở quan sát, tổng kết và từng bước được cấp trên chấp nhận. Năm 1980, Thành ủy Hải Phòng ban hành Nghị quyết 24, đánh dấu bước chuyển từ những thử nghiệm ở cơ sở sang một chủ trương rộng hơn. Đây chính là một trong những tiền đề thực tiễn quan trọng của tư duy đổi mới trong nông nghiệp.
Tất nhiên, không phải mọi sáng kiến từ người dân đều tự nhiên trở thành chính sách. Giữa sáng kiến và cải cách thể chế cần có một "cầu nối". Cầu nối ấy trước hết là những cán bộ lãnh đạo, quản lý biết lắng nghe và có khả năng nhận ra giá trị của thực tiễn. Tiếp đó là quá trình thử nghiệm, kiểm chứng bằng kết quả thực tế, tổng kết, tranh luận và khái quát thành chính sách. Khi một cách làm mới chứng minh được hiệu quả, nhiệm vụ của cơ quan quản lý không phải là tìm cách ngăn cản nó vì nó khác với cách làm cũ, mà phải đặt câu hỏi rằng vì sao nó hiệu quả, điều kiện nào làm cho nó hiệu quả và có thể thể chế hóa, nhân rộng như thế nào? Từ góc nhìn đó, tôi cho rằng một trong những bài học lớn của Đổi mới là sức sáng tạo của nhân dân và năng lực đổi mới của Nhà nước phải gặp nhau. Người dân tạo ra những "mầm" đổi mới từ cuộc sống; còn Nhà nước có vai trò nhận diện, bảo vệ, kiểm nghiệm, tổng kết và thể chế hóa những "mầm" đổi mới ấy. Nếu người dân sáng tạo nhưng bộ máy không lắng nghe thì sáng kiến có thể bị triệt tiêu. Ngược lại, nếu Nhà nước muốn cải cách nhưng không "bắt rễ" từ thực tiễn thì chính sách dễ trở thành chủ quan, xa cuộc sống.
Vì thế, nhìn lại Đổi mới không nên chỉ nhìn vào những quyết định được ban hành ở Trung ương, mà cần nhìn cả dòng chảy từ cơ sở lên Trung ương. Đổi mới thành công không chỉ bởi có những quyết sách đúng ở tầm chiến lược, mà còn bởi những quyết sách ấy đã gặp được những kinh nghiệm và sáng tạo đã được thử thách trong đời sống. Tôi cho rằng bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị hôm nay. Đó chính là hãy tạo không gian cho xã hội sáng tạo, tạo cơ chế cho địa phương được thử nghiệm, tạo kênh để tiếng nói từ cơ sở đi vào quá trình hoạch định chính sách và lấy kết quả thực tiễn làm thước đo cuối cùng. Một thể chế có năng lực đổi mới không phải là thể chế có sẵn câu trả lời cho mọi vấn đề, mà là thể chế có khả năng phát hiện những câu trả lời đang hình thành trong cuộc sống và biến chúng thành động lực phát triển của cả quốc gia.
- Nếu nhìn từ chính những bài học lịch sử ấy, có lẽ cũng dễ hiểu vì sao Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 không đặt nông nghiệp, nông dân và nông thôn thành ba bài toán riêng biệt, mà nhìn chúng trong một chỉnh thể. Điều gì trong cấu trúc lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam khiến ba thành tố này không thể tách rời? Và chúng ta sẽ bỏ sót điều gì nếu chỉ nhìn nông nghiệp bằng sản lượng, nông thôn bằng hạ tầng mà chưa nhìn đủ vào con người và cộng đồng?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Một trong những điểm rất quan trọng của Nghị quyết 19-NQ/TW năm 2022 là đã nhìn nhận nông nghiệp, nông dân, nông thôn như một chỉnh thể thống nhất, chứ không phải ba lĩnh vực riêng rẽ. Đây không chỉ là một cách tiếp cận về quản lý và phát triển, mà còn phù hợp với chính cấu trúc lịch sử, xã hội và văn hóa của Việt Nam.
Trong suốt tiến trình lịch sử, nông nghiệp là phương thức sinh kế chủ yếu, nông thôn là không gian cư trú và tổ chức xã hội cơ bản, còn nông dân là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải vật chất và đồng thời là chủ thể kiến tạo, gìn giữ đời sống văn hóa ở nông thôn. Ba yếu tố ấy gắn với nhau qua hàng nghìn năm. Vì thế, nếu tách rời chúng thì rất khó hiểu đầy đủ về nông thôn Việt Nam cũng như khó có thể xây dựng một chính sách phát triển bền vững.
Tôi đặc biệt đồng tình với quan điểm nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển. Bởi xét đến cùng, nông nghiệp phát triển để phục vụ con người và nông thôn được xây dựng cũng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Nếu chúng ta làm ra nhiều lúa gạo hơn nhưng người nông dân vẫn có thu nhập thấp; xuất khẩu nông sản tăng nhưng người sản xuất chịu nhiều rủi ro; xây dựng đường sá, nhà cửa khang trang nhưng người trẻ vẫn phải rời quê vì không có cơ hội việc làm và phát triển, thì chúng ta mới giải quyết được một phần của bài toán "tam nông".
Từ góc nhìn lịch sử và văn hóa, nông thôn không chỉ là một không gian kinh tế. Đó còn là nơi lưu giữ ký ức cộng đồng, làng xã, phong tục, tín ngưỡng, tiếng nói, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công, tri thức bản địa và những thiết chế xã hội đã hình thành qua nhiều thế hệ. Những giá trị ấy tạo nên bản sắc văn hóa của mỗi vùng đất và góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Vì vậy, phát triển nông thôn không thể chỉ được đánh giá bằng số ki-lô-mét đường mới, số căn nhà mới hay tốc độ đô thị hóa, mà còn phải đặt câu hỏi cộng đồng có còn gắn kết không, văn hóa có được bảo tồn và phát huy không, người dân có cảm thấy quê hương là nơi đáng sống không?
Tương tự, nếu chỉ nhìn vào sản lượng nông nghiệp, chúng ta cũng có thể bỏ sót một vấn đề rất lớn, bởi giá trị của nông nghiệp ngày nay không chỉ nằm ở số lượng sản phẩm mà còn nằm ở giá trị gia tăng, chất lượng, thương hiệu, tri thức, công nghệ và khả năng tổ chức chuỗi giá trị. Một hec-ta đất có thể tạo ra giá trị rất khác nhau tùy thuộc vào giống, công nghệ, cách tổ chức sản xuất, chế biến, thương hiệu và thị trường. Do đó, mục tiêu không phải đơn thuần là "sản xuất nhiều hơn", mà là tạo ra giá trị cao hơn và phân bổ giá trị hợp lý hơn cho người sản xuất. Ở đây, vai trò chủ thể của nông dân trở nên đặc biệt quan trọng. Người nông dân hôm nay không nên chỉ được nhìn nhận như người sản xuất nguyên liệu, mà cần trở thành một chủ thể kinh tế có tri thức, có kỹ năng, có quyền lựa chọn và có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Hợp tác xã kiểu mới, doanh nghiệp nông nghiệp, chuyển đổi số, khoa học, công nghệ và các mô hình liên kết có thể giúp người nông dân vượt qua giới hạn của sản xuất nhỏ lẻ.
Tôi nghĩ rằng cách tiếp cận "tam nông trong một chỉnh thể" còn giúp chúng ta tránh một nguy cơ của quá trình hiện đại hóa. Đó là hiện đại hóa nông thôn nhưng làm suy yếu nông dân và làm mất đi nền tảng văn hóa của nông thôn. Một nông thôn đáng sống phải đồng thời có kinh tế phát triển, môi trường tốt, hạ tầng hiện đại, dịch vụ xã hội đầy đủ và một cộng đồng có bản sắc. Nông nghiệp phải tạo ra sinh kế có tương lai; nông dân phải có cơ hội làm giàu; nông thôn phải trở thành không gian phát triển chứ không chỉ là nơi cung cấp lao động cho đô thị.
Vì vậy, theo tôi, tinh thần sâu xa của Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2022 và Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW là chuyển từ tư duy "phát triển nông nghiệp" sang "phát triển toàn diện hệ sinh thái tam nông". Thành công cuối cùng không chỉ được đo bằng sản lượng hay diện mạo nông thôn, mà bằng việc người nông dân có cuộc sống tốt hơn, có năng lực làm chủ tương lai; nông nghiệp tạo ra giá trị cao và bền vững; nông thôn trở thành những cộng đồng hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc.
Nói một cách ngắn gọn, nông nghiệp là nền tảng kinh tế, nông thôn là không gian phát triển, còn nông dân là chủ thể của cả quá trình. Đặt ba yếu tố ấy trong một chỉnh thể chính là nhìn "tam nông" từ chiều sâu lịch sử để hướng tới một mô hình phát triển mới: Hiện đại hóa nhưng không đánh mất con người, tăng trưởng nhưng không đánh mất cộng đồng, phát triển kinh tế nhưng đồng thời làm giàu thêm vốn văn hóa của đất nước.
- Nếu như Nghị quyết 19-NQ/TW năm 2022 đặt "tam nông" trong một chỉnh thể; đến Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam[3], chỉnh thể ấy lại được đặt vào một mô hình phát triển quốc gia mới - tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập. Như vậy, câu chuyện dường như không còn chỉ là phát triển "tam nông", mà là xác lập lại vị thế của "tam nông" trong sự phát triển của đất nước. Theo Giáo sư, sự dịch chuyển lớn nhất về vị thế ấy là gì?
Đặc biệt, trong một nền kinh tế mà công nghiệp, dịch vụ và đô thị ngày càng giữ vai trò lớn hơn, quan hệ giữa các khu vực ấy với nông nghiệp và nông thôn cần được thiết kế lại theo hướng nào để không còn là quan hệ một chiều?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Nếu nhìn từ chiều sâu lịch sử dân tộc và đặt trong tinh thần của Nghị quyết 19-NQ/TW năm 2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, thì nông nghiệp, nông dân, nông thôn không phải là khu vực đi sau của quá trình hiện đại hóa, mà phải trở thành một bộ phận đặc biệt quan trọng của mô hình phát triển mới. Nghị quyết đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, văn hóa, đổi mới thể chế và năng lực tự chủ chiến lược.
Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, nông nghiệp đã tạo nên một trong những nền tảng quan trọng của sức sống dân tộc. Người Việt hình thành năng lực đặc biệt trong việc thích ứng với thiên nhiên, trị thủy, khai phá đất đai, thâm canh, tổ chức cộng đồng và hợp tác trong sản xuất. Những giá trị như cần cù, tiết kiệm, tương trợ, cố kết cộng đồng, thích ứng và sáng tạo trong điều kiện khó khăn chính là một phần của vốn xã hội và vốn văn hóa có thể chuyển hóa thành nguồn lực phát triển trong thời đại mới. Nhưng chúng ta không thể chỉ bảo tồn những giá trị truyền thống ấy; phải nâng cấp chúng bằng khoa học, công nghệ và thể chế hiện đại. Nông nghiệp của tương lai không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm mà phải dựa vào dữ liệu, công nghệ sinh học, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, giống mới, quản trị chuỗi cung ứng và các tiêu chuẩn xanh. Người nông dân cũng phải chuyển từ vị trí chủ yếu là người sản xuất nguyên liệu sang chủ thể kinh tế có tri thức, có kỹ năng và có khả năng tham gia quyết định trong chuỗi giá trị.
Tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh hai chữ "tự cường". Tự cường không có nghĩa là tự cung tự cấp hay khép kín. Một nền nông nghiệp tự cường phải có năng lực làm chủ những khâu quan trọng như giống, công nghệ, dữ liệu, tiêu chuẩn, chế biến, thương hiệu và thị trường. Nhưng đồng thời phải biết tận dụng những thành tựu khoa học, công nghệ, vốn, kinh nghiệm quản trị và thị trường của thế giới. Tự cường phải đi cùng hội nhập; hội nhập càng sâu thì năng lực tự chủ càng phải cao.
Một thay đổi quan trọng khác là phải nhìn lại quan hệ giữa nông thôn với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Trong mô hình cũ, chúng ta thường hình dung dòng chảy một chiều là nông thôn cung cấp lương thực và lao động cho đô thị, còn đô thị cung cấp vốn và công nghệ cho nông thôn. Mô hình mới phải tạo ra quan hệ liên kết và cùng phát triển. Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, thực phẩm chất lượng cao, cảnh quan, văn hóa và dịch vụ sinh thái; công nghiệp cung cấp công nghệ, chế biến và thiết bị; dịch vụ cung cấp logistics, tài chính, thương mại, du lịch và nền tảng số; đô thị mở rộng thị trường và tạo ra hệ sinh thái tri thức. Các vùng nông thôn không còn chỉ là vành đai sản xuất của đô thị mà phải trở thành những không gian kinh tế - văn hóa với hệ sinh thái có giá trị riêng.
Điều đó cũng đặt ra một yêu cầu mới về quy hoạch. Không nên tiếp tục nhìn ranh giới giữa "nông thôn" và "đô thị" như những không gian biệt lập. Cần hình thành các vùng kinh tế - sinh thái - đô thị liên kết, trong đó dòng người, dòng hàng hóa, dòng vốn, dòng dữ liệu và dòng tri thức được lưu chuyển thuận lợi. Một làng nghề có thể gắn với công nghiệp sáng tạo; một vùng nông nghiệp có thể gắn với chế biến sâu và du lịch; một làng quê có thể trở thành không gian bảo tồn và khai thác di sản văn hóa.
Từ góc độ đó, văn hóa chính là một lợi thế đặc biệt của "tam nông" Việt Nam. Những làng cổ, lễ hội, nghề truyền thống, tri thức bản địa, cảnh quan nông nghiệp và văn hóa cộng đồng không chỉ là những giá trị cần bảo tồn mà còn có thể trở thành nguồn lực của kinh tế sáng tạo, du lịch và phát triển địa phương. Vấn đề là phải biến di sản thành giá trị kinh tế mà không thương mại hóa một cách làm mất bản sắc.
- Giáo sư vừa nói một tư tưởng đáng chú ý: "Tự cường phải đi cùng hội nhập; hội nhập càng sâu thì năng lực tự chủ càng phải cao". Nếu đặt nguyên tắc ấy vào "tam nông", làm thế nào để tri thức, công nghệ, vốn và thị trường quốc tế đi vào nông thôn không tạo thêm sự lệ thuộc, mà ngược lại làm giàu năng lực nội sinh của chính người Việt Nam?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Quan hệ giữa nội lực và hội nhập cần được nhìn theo một nguyên tắc: Nội lực quyết định sức chống chịu và khả năng làm chủ; hội nhập mở rộng không gian phát triển. Chúng ta cần đưa tri thức và công nghệ thế giới vào nông thôn, nhưng đồng thời phải làm cho tri thức ấy thích ứng với điều kiện Việt Nam và tạo ra năng lực sáng tạo của chính người Việt. Không nên chỉ "nhập công nghệ", mà phải từng bước học hỏi, làm chủ, cải tiến và sáng tạo công nghệ. Vì vậy, trong mô hình phát triển mới, tôi hình dung một vị thế khác của "tam nông": Nông nghiệp không chỉ bảo đảm an ninh lương thực mà trở thành ngành kinh tế có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao; nông dân không chỉ là người sản xuất mà là chủ thể sáng tạo và làm chủ kinh tế; nông thôn không chỉ là nơi cư trú mà trở thành những không gian phát triển đáng sống, giàu bản sắc và có sức cạnh tranh.
Nếu làm được như vậy, "tam nông" sẽ không phải là một "khu vực cần hỗ trợ", mà trở thành một trong những nền tảng để hình thành một Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập.
- Có một nghịch lý rất đáng suy nghĩ: Một vùng sản xuất có thể ngày càng nhiều máy móc, cảm biến và công nghệ, nhưng người nông dân chưa chắc đã trở nên chủ động hơn; thậm chí có thể trở thành người làm thuê trên chính mảnh đất của mình. Vậy khi Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026 yêu cầu hiện đại hóa nông nghiệp phải "gắn với" nông dân chuyên nghiệp và nông thôn văn minh, theo Giáo sư, hai chữ "gắn với" ấy cần được hiểu như thế nào?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Theo tôi, chữ "gắn với" trong yêu cầu phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp thông minh, công nghệ cao, tuần hoàn, giá trị gia tăng cao và phát thải thấp phải được hiểu theo nghĩa rất sâu. Đó không phải là hai quá trình diễn ra song song, một bên là hiện đại hóa sản xuất, một bên là xây dựng nông thôn, đào tạo nông dân, mà phải là một quá trình phát triển thống nhất, trong đó đổi mới sản xuất đồng thời phải tạo ra sự tiến bộ của con người và cộng đồng.
Nếu đưa công nghệ cao vào một vùng sản xuất nhưng người nông dân chỉ trở thành người làm thuê trên chính mảnh đất của mình; nếu năng suất tăng nhưng thu nhập của họ không tăng tương xứng; nếu sản phẩm có giá trị cao nhưng phần lớn giá trị được tạo ra và phân phối ở những khâu mà người sản xuất không có quyền tham gia, thì chúng ta mới hiện đại hóa được một phần của nền nông nghiệp. Thành công của quá trình phát triển, xét đến cùng, phải được đo bằng câu hỏi: Người nông dân có trở nên có năng lực hơn, chủ động hơn và có cuộc sống tốt hơn hay không?
Trước đây, chúng ta thường tiếp cận theo logic "đưa tiến bộ kỹ thuật xuống cho nông dân". Trong giai đoạn mới, cần chuyển sang logic "cùng nông dân tạo ra tiến bộ". Người nông dân phải được tham gia từ khâu lựa chọn công nghệ, tổ chức sản xuất, xây dựng tiêu chuẩn, đến chế biến, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường. Họ không chỉ là người tiếp nhận công nghệ mà phải từng bước trở thành người làm chủ công nghệ và sáng tạo trong sản xuất. Điều này đòi hỏi một hệ sinh thái mới cho nông nghiệp. Nhà nước kiến tạo thể chế và hạ tầng; các trường đại học, viện nghiên cứu cung cấp tri thức; doanh nghiệp đưa công nghệ và thị trường vào chuỗi giá trị; hợp tác xã tổ chức và liên kết nông dân; còn người nông dân là chủ thể trực tiếp của quá trình sản xuất. Đặc biệt, cần phát triển mạnh các hợp tác xã kiểu mới để những hộ sản xuất nhỏ có thể liên kết với nhau, cùng đầu tư, cùng học hỏi, cùng đàm phán và cùng hưởng lợi từ quá trình nâng cao giá trị sản phẩm.
Tôi cũng cho rằng "nông dân chuyên nghiệp" không nên chỉ được hiểu là người biết sử dụng máy móc hay áp dụng một quy trình kỹ thuật. Nông dân chuyên nghiệp phải là người có kiến thức sản xuất, hiểu thị trường, biết quản trị chi phí và rủi ro, biết sử dụng dữ liệu và công nghệ, có ý thức về môi trường, đồng thời có khả năng hợp tác và liên kết. Nói cách khác, đó là quá trình chuyển từ "người làm nông" sang "người làm kinh tế nông nghiệp".
Cùng với đó, phải nhìn nhận cộng đồng nông thôn như một nguồn lực chứ không chỉ là đối tượng của các chương trình đầu tư. Một cộng đồng mạnh sẽ tạo ra niềm tin, sự hợp tác, khả năng chia sẻ tri thức và sức chống chịu trước những biến động kinh tế, xã hội và môi trường. Vì vậy, xây dựng nông thôn văn minh phải đồng thời xây dựng năng lực cộng đồng, trong đó người dân có khả năng cùng nhau giải quyết vấn đề, cùng quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, gìn giữ văn hóa và tham gia quyết định những vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình.
- Như Giáo sư vừa phân tích, hiện đại hóa không thể chỉ đo bằng số công nghệ được đưa vào hay sản lượng tăng lên. Vậy có phải chúng ta cũng cần thay đổi chính "thước đo thành công" của phát triển nông nghiệp? Một dự án, một vùng sản xuất chỉ có thể gọi là thành công khi người nông dân và cộng đồng thay đổi như thế nào?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Không thể chỉ nhìn vào năng suất, sản lượng, kim ngạch xuất khẩu hay số lượng công nghệ được đưa vào khi đánh giá một dự án hay một vùng sản xuất "thành công". Tôi nghĩ cần bổ sung những chỉ tiêu như thu nhập và mức độ ổn định thu nhập của nông dân; tỷ lệ giá trị gia tăng mà người sản xuất được hưởng; mức độ làm chủ công nghệ; chất lượng việc làm; khả năng tham gia vào chuỗi giá trị; chất lượng môi trường; mức độ gắn kết cộng đồng và chất lượng đời sống văn hóa - xã hội.
Nếu một vùng sản xuất đã hiện đại hơn nhưng người nông dân chưa có thêm khả năng chủ động, thì phải đặt câu hỏi về mô hình phân phối lợi ích và quyền tham gia. Nếu nông thôn khang trang hơn nhưng người trẻ vẫn không muốn ở lại, thì phải xem lại chất lượng cơ hội phát triển và đời sống xã hội. Nếu sản xuất tăng nhưng môi trường suy thoái, thì đó không thể được coi là phát triển bền vững.
Mục tiêu cao nhất của hiện đại hóa nông nghiệp không phải là tạo ra một "cánh đồng hiện đại", mà là tạo ra một cộng đồng nông thôn hiện đại, ở đó có nền sản xuất tiên tiến, người nông dân có tri thức và năng lực làm chủ, người trẻ có cơ hội lập nghiệp, văn hóa được bảo tồn và phát huy, môi trường được bảo vệ và thành quả phát triển được chia sẻ công bằng.
Nói cách khác, công nghệ phải làm cho con người mạnh hơn, chứ không làm con người trở nên phụ thuộc hơn; tăng trưởng phải làm cho cộng đồng giàu năng lực hơn, chứ không chỉ làm cho các con số lớn hơn. Đó chính là ý nghĩa sâu xa của việc gắn đổi mới sản xuất với phát triển con người và cộng đồng nông thôn.
- Tại cuộc gặp các đại biểu nông dân xuất sắc và nhà khoa học của nhà nông ngày 14/10/2025, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh nông dân là lực lượng chiến lược làm ra lương thực, sáng tạo và gìn giữ văn hóa, góp phần tạo nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân.[3] Theo Giáo sư, cách nhìn ấy đặt ra yêu cầu gì đối với việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân? Qua những quyền, năng lực và cơ hội nào trong đời sống có thể nhận biết họ đang thực sự làm chủ quá trình phát triển của mình?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Việc khẳng định nông dân là lực lượng chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhưng trong giai đoạn phát triển mới, chúng ta cần bổ sung thêm một bước. Đó là từ nhận thức về vai trò của nông dân sang tạo lập những điều kiện để nông dân thực sự làm chủ quá trình phát triển.
Nhìn lại lịch sử, nông dân Việt Nam không chỉ là lực lượng sản xuất đông đảo mà còn là một chủ thể đặc biệt quan trọng làm nên sức sống của quốc gia. Trong những thời điểm khó khăn của đất nước, nông dân vừa bảo đảm lương thực, vừa đóng góp sức người, sức của, đồng thời gìn giữ những giá trị văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ. Vì vậy, khi nói nông dân là lực lượng chiến lược, chúng ta không chỉ nói đến số lượng hay vai trò sản xuất, mà nói đến nguồn lực con người, tri thức thực tiễn, sức sáng tạo và vốn văn hóa rất lớn của khu vực nông thôn. Nhưng trong điều kiện hiện nay, "lực lượng chiến lược" phải được chuyển hóa thành "chủ thể thực chất". Chủ thể không chỉ là người được hưởng lợi từ chính sách, mà là người có khả năng lựa chọn, quyết định, tổ chức và chịu trách nhiệm đối với quá trình phát triển của chính mình.
Theo tôi, có thể nhận biết một người nông dân có thực sự làm chủ hay không qua một số câu hỏi rất cụ thể. Họ có được quyền lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp hay không? Có được tiếp cận đất đai, vốn, khoa học, công nghệ, dữ liệu và thị trường với những điều kiện công bằng hay không? Họ có tiếng nói trong việc quyết định cách tổ chức sản xuất của hợp tác xã hay chuỗi giá trị mà mình tham gia hay không? Họ có khả năng thương lượng về giá cả và phân chia lợi ích hay chỉ là người cung cấp nguyên liệu? Và quan trọng nhất, thu nhập, tài sản và năng lực của họ có tăng lên cùng với quá trình hiện đại hóa hay không? Đây chính là điểm cần phân biệt rất rõ giữa "được hỗ trợ" và "có năng lực làm chủ". Một người được cấp giống, được hỗ trợ máy móc, được tập huấn kỹ thuật hoặc nhận một khoản trợ cấp là người được thụ hưởng chính sách. Nhưng nếu sau khi chương trình kết thúc, họ vẫn không tự quyết định được sản xuất, không tiếp cận được thị trường và vẫn phụ thuộc vào người khác, thì năng lực làm chủ chưa thực sự được hình thành.
Mục tiêu cao hơn của chính sách phải là trao năng lực thay vì chỉ trao hỗ trợ. Nhà nước cần tạo môi trường để người nông dân có tri thức, có kỹ năng, có thông tin và có khả năng tiếp cận các nguồn lực cần thiết. Khoa học, công nghệ phải đến với nông dân không chỉ dưới dạng một quy trình kỹ thuật, mà phải giúp họ hiểu, sử dụng và từng bước làm chủ công nghệ. Chuyển đổi số cũng vậy. Điều quan trọng không phải chỉ là đưa một ứng dụng về nông thôn, mà là giúp nông dân sử dụng dữ liệu để quyết định sản xuất, dự báo thị trường, truy xuất nguồn gốc và nâng cao vị thế thương lượng.
Hợp tác xã kiểu mới có thể là một thiết chế rất quan trọng để thực hiện điều này. Một hộ nông dân đơn lẻ thường có vị thế yếu khi mua vật tư, tiếp cận công nghệ hoặc bán sản phẩm. Nhưng khi họ liên kết tự nguyện trong một hợp tác xã hoạt động hiệu quả, họ có thể tạo ra quy mô, chia sẻ tri thức, giảm chi phí, tiếp cận thị trường lớn hơn và nâng cao khả năng thương lượng. Tuy nhiên, hợp tác xã chỉ thực sự phát huy vai trò nếu người nông dân là thành viên có quyền quyết định và được hưởng lợi tương xứng, chứ không phải chỉ là người thực hiện một kế hoạch đã được quyết định từ bên ngoài.
- Một nông dân nhận giống, vốn, máy móc hay được tập huấn rất nhiều, nhưng sau khi chương trình kết thúc vẫn có thể không tự quyết được sinh kế của mình. Như vậy, chính sách phải dịch chuyển như thế nào từ "trao hỗ trợ" sang "trao năng lực"? Và khái niệm "làm chủ" có cần được mở rộng từ sản xuất sang cả chất lượng sống và cơ hội phát triển của người nông dân hay không?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Ở đây, tôi thấy cũng cần mở rộng khái niệm "làm chủ" từ sản xuất sang toàn bộ đời sống. Người nông dân phải có cơ hội quyết định sinh kế của mình, nhưng đồng thời phải có cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe, tiếp cận văn hóa, sử dụng các dịch vụ hiện đại và để con cái có những cơ hội phát triển tốt ngay tại quê hương. Một nông dân có thu nhập cao nhưng không có khả năng tiếp cận giáo dục tốt cho con, không có dịch vụ xã hội phù hợp hoặc phải rời quê vì thiếu cơ hội phát triển thì chưa thể nói quá trình hiện đại hóa đã hoàn thành. Vì vậy, thước đo cuối cùng của quá trình hiện đại hóa nông nghiệp không nên chỉ là năng suất tăng bao nhiêu, sản lượng đạt bao nhiêu hay công nghệ hiện đại đến mức nào, mà phải là năng lực tự chủ của người nông dân tăng lên đến đâu, quyền tham gia quyết định của họ được mở rộng đến đâu và phần giá trị mà họ được hưởng từ quá trình phát triển tăng lên như thế nào.
Theo tôi đây chính là bước chuyển quan trọng từ tư duy "vì nông dân" sang "cùng nông dân" và cao hơn nữa là "để nông dân làm chủ". Nhà nước kiến tạo thể chế, doanh nghiệp tạo thị trường, nhà khoa học tạo tri thức và công nghệ, nhưng người nông dân phải là người tham gia và quyết định ngày càng nhiều hơn đối với sinh kế và tương lai của mình. Khi người nông dân không còn chỉ là người nhận chính sách, mà trở thành người lựa chọn, người quyết định, người sáng tạo và người hưởng lợi xứng đáng từ quá trình phát triển, khi đó khái niệm "nông dân là lực lượng chiến lược" mới thực sự được chuyển hóa thành vai trò chủ thể của quá trình hiện đại hóa.
- Có một nghịch lý khác: Người nông dân được xác định là chủ thể, nhưng khi bước vào chuỗi giá trị, họ lại thường là bên nhỏ nhất về quy mô, ít thông tin nhất và yếu nhất về sức mặc cả. Làm thế nào để vị thế ấy thực sự chuyển từ "người cung cấp nguyên liệu" sang "đối tác đồng kiến tạo giá trị"?
Ở đây, theo Giáo sư, vai trò của tổ chức đại diện, minh bạch thông tin, hợp đồng và đặc biệt là lòng tin giữa các bên cần được nhìn nhận ra sao?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Một vấn đề rất căn bản cần phải được giải quyết nếu muốn người nông dân thực sự trở thành chủ thể của quá trình hiện đại hóa là người nông dân phải được nhìn nhận là đối tác, chứ không chỉ là người cung cấp nguyên liệu hoặc người thụ hưởng chính sách trong chuỗi liên kết sản xuất. Trong nền sản xuất nhỏ lẻ, một hộ nông dân thường có quy mô vốn, thông tin và khả năng thương lượng hạn chế. Trong khi đó, doanh nghiệp thường nắm thị trường, công nghệ, vốn và hệ thống phân phối. Nếu mối quan hệ này chỉ đơn thuần là doanh nghiệp mua sản phẩm của nông dân, thì khi thị trường biến động, bên yếu thế thường phải chịu phần lớn rủi ro. Vì vậy, liên kết bền vững phải được xây dựng trên nguyên tắc cùng tạo ra giá trị, cùng chia sẻ lợi ích và cùng chia sẻ rủi ro.
Điều kiện đầu tiên để tiếng nói của người nông dân có trọng lượng là họ phải có tổ chức. Một hộ riêng lẻ rất khó thương lượng bình đẳng với một doanh nghiệp lớn, nhưng hàng trăm hộ cùng tham gia một hợp tác xã hoạt động hiệu quả sẽ có một vị thế hoàn toàn khác. Hợp tác xã không chỉ giúp tập trung sản xuất mà còn có thể đại diện cho thành viên trong đàm phán về giá, tiêu chuẩn, hợp đồng, thời hạn thanh toán và phân chia lợi ích. Vì vậy, phát triển hợp tác xã kiểu mới chính là một cách quan trọng để nâng sức mạnh thương lượng của người nông dân.
Tuy nhiên, bản thân hợp tác xã cũng phải đổi mới. Hợp tác xã phải thực sự thuộc về thành viên, hoạt động minh bạch và hướng tới lợi ích của thành viên. Người nông dân phải được biết hợp tác xã bán sản phẩm với giá nào, chi phí bao nhiêu, doanh nghiệp được hưởng bao nhiêu và phần giá trị nào quay trở lại với người sản xuất. Khi người dân không biết giá trị được tạo ra và phân chia như thế nào, thì rất khó hình thành sự tin tưởng lâu dài.
Điều kiện thứ hai là minh bạch thông tin. Trong nền nông nghiệp hiện đại, thông tin chính là một loại tài sản. Thông tin về giá cả, nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, chi phí logistics, truy xuất nguồn gốc hay các yêu cầu của thị trường xuất khẩu phải được chia sẻ tương đối đầy đủ giữa các bên. Khi thông tin chỉ nằm trong tay một phía, quan hệ liên kết rất dễ trở thành quan hệ phụ thuộc. Ngược lại, khi các bên cùng tiếp cận thông tin, người nông dân có cơ sở để lựa chọn và thương lượng.
Điều kiện thứ ba là hợp đồng phải rõ ràng và có cơ chế bảo vệ lợi ích của các bên. Liên kết sản xuất không thể chỉ dựa vào lời hứa. Cần xác định rõ tiêu chuẩn sản phẩm, giá hoặc nguyên tắc xác định giá, khối lượng, thời gian giao nhận, phương thức thanh toán và cách xử lý khi thị trường biến động. Đặc biệt, cần có cơ chế chia sẻ rủi ro. Không thể khi giá lên thì lợi ích thuộc về một bên, còn khi giá xuống thì toàn bộ rủi ro lại đẩy sang người nông dân.
Tôi đặc biệt nhấn mạnh yếu tố lòng tin. Trong kinh tế nông nghiệp, lòng tin có giá trị không kém vốn và công nghệ. Doanh nghiệp muốn có vùng nguyên liệu ổn định thì phải tạo được niềm tin với nông dân; nông dân muốn có thị trường lâu dài thì cũng phải giữ cam kết về chất lượng và sản lượng. Một hợp đồng có thể quy định trách nhiệm pháp lý, nhưng không có hợp đồng nào đủ sức thay thế hoàn toàn lòng tin. Lòng tin được hình thành từ sự minh bạch, công bằng, giữ lời hứa và chia sẻ lợi ích một cách hợp lý. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức đại diện và các thiết chế trung gian. Người nông dân không thể một mình giải quyết tất cả những vấn đề liên quan đến thị trường, pháp lý, tiêu chuẩn, công nghệ và thương mại quốc tế. Các hội, hiệp hội, hợp tác xã, tổ chức nghề nghiệp, cơ quan khuyến nông, các tổ chức khoa học và chính quyền địa phương cần giúp cung cấp thông tin, tư vấn pháp lý, hỗ trợ đàm phán và giải quyết tranh chấp. Nhưng sự hỗ trợ ấy phải nhằm tăng năng lực tự chủ của nông dân, chứ không tạo thêm sự phụ thuộc.
Tôi cho rằng cần nhìn toàn bộ chuỗi giá trị theo một nguyên tắc là ai đóng góp giá trị thì phải có tiếng nói tương xứng và được hưởng lợi tương xứng. Người nông dân không chỉ đóng góp đất đai và lao động; họ còn cung cấp tri thức sản xuất, chịu rủi ro thời tiết, dịch bệnh và nhiều rủi ro thị trường. Vì vậy, khi sản phẩm được nâng cao giá trị nhờ công nghệ, thương hiệu hay chế biến, người sản xuất cũng phải được hưởng một phần hợp lý của giá trị gia tăng đó.
Mục tiêu cuối cùng của liên kết không phải chỉ là tạo ra một chuỗi sản xuất lớn hơn, mà là tạo ra một chuỗi giá trị công bằng hơn, hiệu quả hơn và bền vững hơn. Khi người nông dân có tổ chức đại diện, có thông tin, có hợp đồng minh bạch, có năng lực thương lượng và có niềm tin vào đối tác, họ sẽ không còn ở vị trí yếu thế trong chuỗi liên kết. Nói cách khác, hiện đại hóa nông nghiệp phải đi cùng hiện đại hóa quan hệ hợp tác. Khi người nông dân từ vị trí "người bán sản phẩm" trở thành đối tác cùng tạo ra giá trị, đó mới là một bước tiến thực chất trong việc khẳng định vị thế chủ thể của người nông dân.
- Tại phiên họp ngày 30/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu: "Người nông dân phải trở thành những người nông dân số, làm chủ công nghệ nông nghiệp hiện đại".[5] Từ góc nhìn về con người và văn hóa, Giáo sư hình dung một "nông dân số" thực sự phải có những năng lực gì? Và làm thế nào để công nghệ làm người nông dân mạnh hơn?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Yêu cầu này cần được hiểu rộng hơn rất nhiều so với việc biết sử dụng một chiếc điện thoại thông minh, một phần mềm quản lý trang trại hay một thiết bị tự động. Cốt lõi của "nông dân số" là một sự thay đổi về năng lực của con người từ chỗ sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sang kết hợp kinh nghiệm với dữ liệu, khoa học và công nghệ; từ chỗ làm theo hướng dẫn sang có khả năng hiểu, lựa chọn, quyết định và sáng tạo.
Trong lịch sử, người nông dân Việt Nam đã luôn là những người sáng tạo. Họ sáng tạo trong việc chọn giống, cải tạo đất, dẫn thủy nhập điền, thích ứng với khí hậu, tổ chức mùa vụ và sử dụng tài nguyên. Đó chính là một dạng tri thức bản địa được tích lũy qua nhiều thế hệ. Chuyển đổi số và công nghệ hiện đại không nên làm mất đi nguồn tri thức ấy, mà phải giúp nó được nâng lên một trình độ mới. Vì vậy, "nông dân số" trước hết phải có năng lực số, nghĩa là biết tìm kiếm và đánh giá thông tin, sử dụng dữ liệu, tiếp cận thị trường, thực hiện giao dịch số, truy xuất nguồn gốc, quản lý sản xuất và nhận diện những rủi ro trên môi trường số. Nhưng cao hơn nữa là năng lực ra quyết định dựa trên dữ liệu. Ví dụ, dữ liệu về đất, nước, thời tiết, sâu bệnh và thị trường không phải để người nông dân "xem cho biết", mà phải trở thành căn cứ để họ quyết định trồng gì, vào thời điểm nào, với quy mô bao nhiêu và bán cho thị trường nào.
Điều đó không có nghĩa là để người nông dân phụ thuộc vào công nghệ số. Ngược lại, cần đặc biệt chú ý bồi đắp năng lực sáng tạo. Nếu nông dân chỉ sử dụng công nghệ theo một quy trình có sẵn thì họ mới là người sử dụng công nghệ, chưa phải người làm chủ công nghệ. Làm chủ có nghĩa là biết đặt câu hỏi, biết thử nghiệm, biết điều chỉnh công nghệ cho phù hợp với điều kiện thực tế và thậm chí tạo ra những cách làm mới. Chính ở điểm này, tri thức thực tiễn của nông dân cần gặp tri thức khoa học.
Chúng ta cần hình thành một cơ chế kết nối theo hướng hai dòng tri thức gặp nhau. Một dòng đi từ phòng thí nghiệm, trường đại học, viện nghiên cứu đến cánh đồng; dòng kia đi từ cánh đồng, từ kinh nghiệm và sáng kiến của người nông dân trở lại các nhà khoa học. Nhà khoa học không chỉ nói cho nông dân biết phải làm gì, mà phải cùng nông dân thử nghiệm và giải quyết những vấn đề cụ thể. Ngược lại, kinh nghiệm của nông dân cần được ghi nhận, kiểm chứng và khái quát thành tri thức có thể chia sẻ và nhân rộng.
Muốn vậy, cần thay đổi cả phương thức đào tạo. Không thể chỉ tổ chức những lớp tập huấn ngắn ngày rồi coi như đã chuyển đổi số cho nông dân. Cần xây dựng những cộng đồng học tập số ở nông thôn, trong đó hợp tác xã, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các chuyên gia cùng tham gia. Người nông dân có thể học ngay trên vùng sản xuất của mình, thử nghiệm công nghệ trên quy mô nhỏ, đánh giá kết quả rồi mới mở rộng. Đây cũng chính là cách giảm rủi ro và tạo niềm tin đối với công nghệ mới.
Bên cạnh đó, công nghệ phải dễ tiếp cận, chi phí hợp lý và phù hợp với điều kiện của người sử dụng. Nếu một công nghệ quá phức tạp, đòi hỏi chi phí lớn hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào chuyên gia bên ngoài thì khó có thể tạo ra năng lực tự chủ. Doanh nghiệp công nghệ cần thiết kế sản phẩm theo nhu cầu thực tế của nông dân; Nhà nước cần hỗ trợ hạ tầng số, dữ liệu, đào tạo và các nền tảng dùng chung; hợp tác xã có thể trở thành nơi tập trung và chia sẻ thiết bị, phần mềm, chuyên gia cho các hộ thành viên.
Một vấn đề rất quan trọng nữa là quyền làm chủ dữ liệu. Trong nền nông nghiệp số, dữ liệu về đất đai, mùa vụ, năng suất, sản phẩm và thị trường ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng. Người nông dân phải hiểu dữ liệu của mình có giá trị như thế nào và được bảo đảm quyền tiếp cận, sử dụng những dữ liệu liên quan đến hoạt động sản xuất của mình. Nếu công nghệ phát triển nhưng dữ liệu lại tập trung hoàn toàn vào một số nền tảng, thì người nông dân có thể trở thành người phụ thuộc vào công nghệ thay vì làm chủ công nghệ.
Từ góc nhìn văn hóa, tôi cho rằng điều quan trọng nhất là không được có quan niệm rằng công nghệ hiện đại sẽ thay thế tri thức của người nông dân. Công nghệ càng phát triển thì kinh nghiệm thực tiễn càng cần được kết hợp với khoa học. Một thuật toán có thể dự báo thời tiết, nhưng người nông dân hiểu cánh đồng của mình; một cảm biến có thể đo độ ẩm, nhưng người sản xuất hiểu đặc tính của đất và cây. Khi hai loại tri thức ấy gặp nhau, chúng ta không chỉ có một người sử dụng công nghệ tốt hơn, mà có thể tạo ra một thế hệ nông dân sáng tạo hơn.
Vì vậy, mục tiêu cuối cùng của xây dựng "nông dân số" không phải là biến người nông dân thành những người sử dụng thật nhiều thiết bị số. Mục tiêu là giúp họ có thêm tri thức, có thêm thông tin, có thêm quyền lựa chọn và có thêm năng lực sáng tạo. Khi người nông dân có thể sử dụng công nghệ để hiểu sản xuất, hiểu thị trường, chủ động ra quyết định và tạo ra những giải pháp mới cho chính mình, thì khi đó chuyển đổi số mới thực sự trở thành một quá trình trao quyền cho con người và nông dân số mới thực sự là chủ thể của nền nông nghiệp hiện đại.
- Người Việt có những cách nói rất đẹp về tình làng nghĩa xóm: "Bán anh em xa, mua láng giềng gần", "Tối lửa tắt đèn có nhau". Đó không chỉ là lời ăn tiếng nói dân gian, mà còn phản ánh một cấu trúc xã hội trong đó sự gần gũi, tương trợ và lòng tin giữa những người cùng cộng đồng trở thành một nguồn lực rất quan trọng. Nhưng cũng chính trong không gian làng xã ấy lại có một câu nói khác: "Phép vua thua lệ làng" - gợi đến mặt bên kia của tính cộng đồng, khi quan hệ thân quen, tính cục bộ hay những quy ước riêng có thể lấn át các nguyên tắc chung.
Từ góc nhìn lịch sử và văn hóa, theo Giáo sư, làm thế nào để chúng ta vừa gìn giữ được cái "tình" - nguồn vốn xã hội rất quý của làng quê Việt Nam, vừa vượt qua những giới hạn của tính khép kín, cục bộ; để từ "lòng tin vì quen biết nhau" chuyển sang "lòng tin thể chế", nơi sự hợp tác được nâng đỡ bởi những quy tắc minh bạch, trách nhiệm rõ ràng và nguyên tắc công bằng?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Từ góc nhìn lịch sử và văn hóa, tôi cho rằng một trong những nguồn lực quan trọng nhất của nông thôn Việt Nam là khả năng cố kết cộng đồng. Qua nhiều thế hệ, trong điều kiện sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên và đòi hỏi sự phối hợp của nhiều người, cư dân nông thôn đã hình thành những tập quán hợp tác rất phong phú. Từ việc cùng nhau làm thủy lợi, đắp đê, chống lũ, khai phá đất đai đến đổi công, tương trợ khi mùa vụ, ma chay, cưới hỏi, những hình thức hợp tác ấy tạo nên một mạng lưới quan hệ xã hội dựa trên sự quen biết, tương trợ và trách nhiệm với cộng đồng.
Những giá trị như tình làng nghĩa xóm, tương trợ, giữ chữ tín, tinh thần cộng đồng, tôn trọng những quy ước chung và trách nhiệm với làng đã tạo ra một loại "vốn xã hội" rất quan trọng. Trong nhiều trường hợp, chính lòng tin giữa những người quen biết giúp cộng đồng có thể cùng nhau giải quyết những vấn đề mà một cá nhân riêng lẻ không thể giải quyết được.
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhìn nhận mặt hai chiều của cấu trúc cộng đồng truyền thống. Cộng đồng càng gắn kết thì càng có khả năng hỗ trợ lẫn nhau, nhưng nếu sự gắn kết chỉ dựa trên quan hệ thân quen thì có thể dẫn đến khép kín, cục bộ, bình quân hoặc ưu tiên người quen. Trong điều kiện xã hội hiện đại, những hạn chế đó cần được khắc phục. Hợp tác hiện đại không thể chỉ dựa vào "biết nhau" hay "tin nhau", mà phải dựa trên thể chế, quy tắc rõ ràng, thông tin minh bạch và trách nhiệm có thể kiểm chứng. Tôi cho rằng đây chính là quá trình chuyển hóa từ lòng tin cộng đồng sang lòng tin thể chế. Lòng tin truyền thống vẫn rất quý, nhưng cần được đặt trong một hệ thống quản trị hiện đại. Ví dụ, trong một hợp tác xã, các thành viên có thể là người cùng làng, cùng họ, thậm chí là họ hàng với nhau. Điều đó tạo thuận lợi ban đầu cho hợp tác. Nhưng khi hợp tác xã lớn lên, có nhiều vốn, nhiều thành viên và liên kết với doanh nghiệp bên ngoài, thì không thể điều hành chỉ bằng quan hệ tình cảm. Cần có điều lệ, hợp đồng, chế độ công khai tài chính, cơ chế giám sát và phân chia lợi ích rõ ràng.
Một trường hợp rất đáng chú ý là các làng nghề truyền thống. Ở nhiều làng nghề, nghề nghiệp được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, dựa trên quan hệ gia đình, dòng họ và cộng đồng. Chính mạng lưới ấy giúp duy trì bí quyết nghề, tạo ra sự tin cậy và hỗ trợ lẫn nhau. Nhưng khi sản phẩm làng nghề bước vào thị trường hiện đại, những giá trị truyền thống đó cần được nâng cấp. Người sản xuất phải cùng nhau xây dựng thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, truy xuất nguồn gốc và mở rộng thị trường. Từ chỗ giữ nghề trong cộng đồng phải chuyển sang cùng nhau phát triển nghề trong một thị trường mở.
Làng tranh Đông Hồ. (Ảnh: TTXVN)
Tôi lấy ví dụ làng tranh Đông Hồ. Giá trị truyền thống ở đây không chỉ nằm trong kỹ thuật làm tranh mà còn ở tri thức nghề nghiệp được truyền qua gia đình và cộng đồng. Nếu chỉ bảo tồn theo cách giữ nguyên mọi thứ như cũ, nghề có nguy cơ thu hẹp. Nhưng nếu đưa công nghệ, thiết kế mới, thương mại điện tử, du lịch trải nghiệm và các hình thức sáng tạo đương đại vào, trong khi vẫn giữ được kỹ thuật, chất liệu, ngôn ngữ biểu tượng và ký ức văn hóa cốt lõi, thì truyền thống có thể trở thành nguồn lực cho một hình thức phát triển mới. Đây là ví dụ cho thấy bảo tồn không có nghĩa là đóng kín và đổi mới cũng không đồng nghĩa với đánh mất bản sắc. Từ trường hợp ấy, tôi nghĩ có thể rút ra một nguyên tắc rộng hơn cho phát triển cộng đồng nông thôn. Cần giữ cái tạo nên bản sắc, đổi mới cái tạo nên phương thức vận hành. Tinh thần tương trợ, chữ tín, trách nhiệm cộng đồng và sự gắn bó với quê hương cần được phát huy. Nhưng phương thức quản trị phải minh bạch hơn; quan hệ kinh tế phải bình đẳng hơn; quyền lợi và trách nhiệm phải được xác định rõ hơn; cộng đồng phải mở cửa để tiếp nhận tri thức, công nghệ, nguồn vốn và những người có năng lực từ bên ngoài.
Đặc biệt, cần tránh hai thái cực. Một là phá bỏ các liên kết cộng đồng truyền thống nhân danh hiện đại hóa. Hai là lãng mạn hóa cộng đồng truyền thống mà không nhìn thấy những giới hạn của nó. Phát triển nông thôn hiện đại cần một cộng đồng vừa gắn kết bên trong, vừa cởi mở bên ngoài; vừa có lòng tin, vừa có luật lệ; vừa coi trọng tình nghĩa, vừa đề cao trách nhiệm và tính minh bạch.
Đó chính là cách biến vốn xã hội và vốn văn hóa của nông thôn thành vốn phát triển. Khi những giá trị tốt đẹp của cộng đồng truyền thống được kết hợp với quản trị hiện đại, người dân không chỉ sống gần nhau mà còn có thể hợp tác với nhau một cách chuyên nghiệp, minh bạch và cùng chia sẻ thành quả. Khi ấy, văn hóa cộng đồng không phải là lực cản của hiện đại hóa, mà trở thành một trong những nền tảng quan trọng để xây dựng những cộng đồng nông thôn hiện đại, đáng sống và phát triển bền vững.
- Trong mục tiêu đến năm 2045, Nghị quyết 19-NQ/TW năm 2026 đặt yêu cầu văn hóa và con người trở thành sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm và nền tảng phát triển quốc gia. Thưa Giáo sư, chúng ta thường nói nhiều đến "bảo tồn" văn hóa nông thôn. Nhưng một di sản nếu chỉ được giữ lại để trưng bày thì có thể vẫn còn hình hài mà đã mất đi sức sống. Có phải câu hỏi lớn hơn là làm thế nào để ký ức, nghề truyền thống, tri thức bản địa và các giá trị cộng đồng tiếp tục được sáng tạo, tạo ra sinh kế và trở thành sức mạnh nội sinh của quốc gia?
Và nếu nhìn tới năm 2045, Giáo sư hình dung văn hóa nông thôn có thể đóng góp như thế nào vào sức mạnh mềm và vị thế của Việt Nam?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Chúng ta cần nhìn văn hóa nông thôn với một cách tiếp cận rộng hơn. Nông thôn không chỉ là nơi lưu giữ những di sản của quá khứ, mà còn là nơi chứa đựng một nguồn lực rất lớn cho tương lai. Đó là tri thức, kỹ năng, lối sống, khả năng sáng tạo và vốn xã hội được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Trong lịch sử, văn hóa nông thôn Việt Nam được hình thành trong quá trình con người thích ứng với thiên nhiên, tổ chức sản xuất và xây dựng cộng đồng. Từ kỹ thuật canh tác, trị thủy, sử dụng nguồn nước, bảo quản và chế biến nông sản đến nghề thủ công, y học dân gian, ẩm thực, kiến trúc, lễ hội, nghệ thuật trình diễn..., đó là một kho tàng tri thức bản địa vô cùng phong phú. Những giá trị như tinh thần tương trợ, khả năng thích ứng, sự cần cù, tính cộng đồng và ý thức gìn giữ quê hương cũng tạo nên một dạng vốn xã hội đặc biệt.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc bảo tồn, giữ gìn, văn hóa rất dễ trở thành một thứ được trưng bày thay vì một nguồn lực đang sống. Vấn đề quan trọng hơn là phải làm cho di sản và tri thức truyền thống tiếp tục sống, tiếp tục được sử dụng và tiếp tục sáng tạo trong điều kiện mới. Chẳng hạn, một nghề thủ công truyền thống không nên chỉ được bảo tồn bằng cách giữ nguyên sản phẩm cũ. Có thể kết hợp kỹ thuật truyền thống với thiết kế đương đại, vật liệu mới, công nghệ số, thương mại điện tử và thị trường quốc tế để tạo ra những sản phẩm mới. Một món ăn truyền thống có thể trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch. Một làng cổ có thể trở thành không gian trải nghiệm. Một kỹ thuật canh tác bản địa có thể được nghiên cứu để phục vụ nông nghiệp sinh thái. Như vậy, di sản không chỉ tạo ra giá trị văn hóa mà còn tạo ra giá trị kinh tế, tri thức và sáng tạo.
Đây cũng là con đường để văn hóa nông thôn trở thành sức mạnh mềm của quốc gia. Một quốc gia được thế giới biết đến không chỉ qua GDP hay những sản phẩm công nghiệp, mà còn qua câu chuyện văn hóa, con người và cách sống. Khi du khách quốc tế đến Việt Nam và trải nghiệm một làng nghề, thưởng thức một món ăn, nghe một làn điệu dân gian hay tìm hiểu một cộng đồng nông thôn, họ đang tiếp xúc với Việt Nam thông qua những giá trị rất cụ thể và giàu sức thuyết phục. Nếu được tổ chức tốt, những giá trị ấy có thể trở thành một phần của thương hiệu quốc gia.
Tuy nhiên, muốn làm được điều đó phải thay đổi quan niệm về chủ thể của di sản. Người dân địa phương không nên chỉ là người được giao nhiệm vụ "giữ gìn" di sản trong khi các quyết định về khai thác, tổ chức sản phẩm và phân chia lợi ích lại được quyết định từ bên ngoài. Người dân phải được tham gia vào cả bốn khâu, gồm nhận diện giá trị; quyết định cách phát huy; sáng tạo sản phẩm và hưởng lợi từ thành quả. Điều này đặc biệt quan trọng bởi chính cộng đồng là nơi hiểu sâu nhất về ý nghĩa của di sản. Một lễ hội, một nghề truyền thống hay một tập quán không chỉ có giá trị vì nó tồn tại lâu đời, mà còn vì nó có ý nghĩa đối với cộng đồng đang thực hành nó. Do đó, bảo tồn tốt nhất phải là bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng, trong đó người dân có tiếng nói thực chất về những gì cần giữ, những gì có thể đổi mới và giới hạn nào không nên vượt qua.
- Giáo sư vừa nhắc đến việc biến di sản thành một nguồn lực đang sống. Nhưng ở đây có một câu hỏi về quyền: Nếu cộng đồng là người tạo ra và gìn giữ di sản qua nhiều thế hệ, họ phải có vị trí như thế nào trong việc quyết định di sản được phát huy ra sao và thành quả được phân chia như thế nào?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Tôi cho rằng cần hình thành những mô hình cộng đồng làm chủ di sản. Có thể thông qua hợp tác xã văn hóa, doanh nghiệp cộng đồng, quỹ phát triển di sản hoặc các mô hình đồng quản lý để một phần doanh thu từ du lịch, sản phẩm văn hóa và dịch vụ được quay trở lại đầu tư cho cộng đồng. Khi người dân nhìn thấy lợi ích cụ thể từ di sản, họ sẽ có thêm động lực bảo vệ nó. Quan trọng hơn, họ sẽ trở thành những người sáng tạo ra tương lai của di sản chứ không chỉ là người bảo vệ quá khứ.
Trong quá trình hội nhập, chúng ta cũng cần tránh hai thái cực. Một là đóng kín để bảo tồn nguyên trạng; hai là thương mại hóa quá mức làm mất bản sắc. Cách đúng là giữ những giá trị cốt lõi, đồng thời mở rộng khả năng sáng tạo và giao lưu. Văn hóa Việt Nam càng tự tin về bản sắc thì càng có khả năng hội nhập sâu rộng.
Vì vậy, tôi nghĩ sức mạnh nội sinh của văn hóa nông thôn nằm ở khả năng biến ký ức thành tri thức, biến tri thức thành sáng tạo, biến sáng tạo thành giá trị và biến giá trị thành sức mạnh của cộng đồng và quốc gia. Khi một nghề truyền thống tạo ra sản phẩm có thương hiệu quốc tế, khi một làng quê trở thành điểm đến hấp dẫn, khi tri thức bản địa được ứng dụng vào công nghệ hiện đại và khi người dân vừa bảo tồn vừa sáng tạo, thì lúc ấy văn hóa nông thôn đã vượt ra khỏi phạm vi của di sản để trở thành một nguồn lực phát triển và một bộ phận của sức mạnh mềm Việt Nam.
Đó cũng chính là cách để đến năm 2045, chúng ta không chỉ có một Việt Nam phát triển về kinh tế, mà còn có một Việt Nam giàu bản sắc, giàu sáng tạo, có sức hấp dẫn và có khả năng đóng góp những giá trị riêng vào kho tàng văn minh nhân loại.
- Nếu nhìn người nông dân chỉ như người sản xuất, chúng ta có thể bỏ quên một vai trò khác, họ cũng là những người trực tiếp sống cùng đất, nước và hệ sinh thái qua nhiều thế hệ. Trong kho tri thức bản địa ấy, điều gì vẫn có giá trị cho nông nghiệp sinh thái hôm nay? Và khoa học hiện đại nên gặp tri thức của người nông dân như thế nào - không lãng mạn hóa quá khứ, nhưng cũng không phủ nhận những hiểu biết được tích lũy từ thực tiễn?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Khi nói đến nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn và phát thải thấp, chúng ta không chỉ nói đến việc đưa thêm một số công nghệ mới vào sản xuất, mà sâu xa hơn là đổi mới cách con người ứng xử với đất, nước và tự nhiên. Nhìn lại lịch sử nông nghiệp Việt Nam, có thể thấy người nông dân từ rất sớm đã phải hình thành một phương thức sống dựa trên sự thích nghi với môi trường. Họ hiểu mùa vụ, nguồn nước, đặc tính của đất, quy luật thời tiết và biết tận dụng nhiều loại vật chất trong tự nhiên để phục vụ sản xuất. Những kinh nghiệm ấy tạo nên một kho tàng tri thức bản địa về sinh thái rất đáng được trân trọng. Truyền thống sử dụng phân hữu cơ, luân canh, xen canh, tận dụng phụ phẩm, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, sử dụng giống phù hợp với từng vùng sinh thái hay xây dựng hệ thống thủy lợi cộng đồng đều chứa đựng những nguyên lý mà ngày nay chúng ta gọi bằng những khái niệm hiện đại như kinh tế tuần hoàn, sử dụng tài nguyên hiệu quả và sản xuất bền vững.
Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên lý tưởng hóa tất cả những gì thuộc về truyền thống. Một cách làm tồn tại lâu đời chưa chắc đã phù hợp với điều kiện dân số, quy mô sản xuất và biến đổi khí hậu hiện nay. Vì vậy, điều cần thiết là kết hợp tri thức của người nông dân với tri thức khoa học hiện đại. Kinh nghiệm bản địa cần được nghiên cứu, kiểm chứng bằng khoa học; những gì phù hợp thì nâng cấp và nhân rộng; những gì không còn phù hợp thì mạnh dạn thay đổi.
Đây là một lĩnh vực mà người nông dân phải thực sự trở thành chủ thể. Nhà khoa học có thể đưa ra công nghệ tiết kiệm nước, giống chống chịu, kỹ thuật canh tác giảm phát thải hay các mô hình tái sử dụng phụ phẩm. Nhưng chính người nông dân là người hiểu rõ nhất những điều kiện cụ thể của từng cánh đồng, từng nguồn nước và từng mùa vụ. Khi hai loại tri thức gặp nhau, chúng ta có thể tạo ra những giải pháp vừa hiện đại về khoa học, vừa phù hợp với thực tiễn địa phương.
Tôi cho rằng cần thay đổi căn bản cách nhìn về đất và nước. Đất không chỉ là một yếu tố đầu vào của sản xuất; đất là tài sản sinh thái được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nước cũng không đơn thuần là nguồn lực để khai thác, mà là một tài nguyên chung liên quan đến cả cộng đồng. Nếu hôm nay chúng ta tăng năng suất bằng cách làm suy thoái đất, ô nhiễm nguồn nước hoặc khai thác quá mức tài nguyên, thì về thực chất chúng ta đang chuyển chi phí của hiện tại sang cho thế hệ tương lai.


Người nông dân phải thực sự trở thành chủ thể. (Ảnh minh hoạ: Pexels)
- Nhưng ở đây lại nảy sinh một vấn đề về công bằng. Xã hội cùng hưởng lợi khi đất được giữ màu mỡ, nguồn nước được bảo vệ, cảnh quan và đa dạng sinh học được gìn giữ; trong khi người trực tiếp thực hiện nhiều trách nhiệm ấy lại là nông dân và cộng đồng nông thôn. Vậy chúng ta phải nhìn nhận và ghi nhận những đóng góp đó như thế nào để những lợi ích xã hội tạo ra được ghi nhận tương xứng, thay vì để chi phí bảo vệ hệ sinh thái dồn hết lên vai người nông dân?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Nông nghiệp phát triển bền vững phải hướng đến một nguyên tắc không chỉ lấy từ tự nhiên mà phải trả lại cho tự nhiên khả năng tái tạo. Phụ phẩm nông nghiệp phải được coi là nguồn tài nguyên thay vì chất thải; chất hữu cơ cần được quay trở lại đất; nước phải được sử dụng tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước; đa dạng sinh học cần được duy trì; cảnh quan nông thôn phải được xem như một bộ phận của chất lượng sống và giá trị kinh tế. Điều này cũng đặt ra một vấn đề về công bằng đối với người nông dân. Nếu xã hội yêu cầu người nông dân bảo vệ đất, giữ nguồn nước, duy trì cảnh quan, bảo tồn giống bản địa hay hạn chế sử dụng những phương thức sản xuất gây tác động xấu đến môi trường, thì những đóng góp ấy phải được ghi nhận. Không thể yêu cầu người nông dân thực hiện tất cả trách nhiệm sinh thái nhưng lại để họ tự gánh toàn bộ chi phí.
Do đó, cần từng bước hình thành những cơ chế để người bảo vệ tài nguyên được hưởng lợi từ việc bảo vệ tài nguyên. Có thể thông qua hỗ trợ chuyển đổi sản xuất xanh, tín dụng xanh, thị trường cho sản phẩm sinh thái, chứng nhận và thương hiệu, cũng như các cơ chế chi trả cho những dịch vụ hệ sinh thái mà cộng đồng nông thôn cung cấp. Khi những sản phẩm được sản xuất theo phương thức bền vững có giá trị cao hơn và người nông dân được hưởng một phần giá trị đó, bảo vệ môi trường sẽ trở thành một động lực kinh tế chứ không chỉ là nghĩa vụ.
Đây là nơi văn hóa và kinh tế gặp nhau. Một cảnh quan nông nghiệp đẹp, một hệ thống làng quê hài hòa với thiên nhiên, một nghề truyền thống sử dụng nguyên liệu bền vững hay một cộng đồng biết cùng nhau quản lý nguồn nước đều vừa có giá trị sinh thái, vừa có giá trị văn hóa. Nếu biết phát huy, những giá trị ấy có thể tạo ra các sản phẩm nông nghiệp, du lịch và văn hóa có sức cạnh tranh.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng nông nghiệp sinh thái phải bắt đầu từ một triết lý phát triển, trong đó con người không đứng ngoài tự nhiên mà là một bộ phận của hệ sinh thái. Người nông dân không chỉ sản xuất lương thực cho hôm nay mà còn đang quản lý một phần nền tảng sinh thái của quốc gia cho ngày mai. Vì vậy, thước đo của một nền nông nghiệp tốt không chỉ là hôm nay thu được bao nhiêu tấn sản phẩm, mà còn phải hỏi sau quá trình sản xuất ấy, đất có tốt hơn không, nước có sạch hơn không, cảnh quan có được gìn giữ không, cộng đồng có bền vững hơn không và thế hệ sau có còn đủ điều kiện để tiếp tục sản xuất và sinh sống hay không. Khi trả lời được những câu hỏi đó, chúng ta mới thực sự chuyển từ tư duy khai thác tài nguyên sang tư duy gìn giữ và làm giàu nền tảng sinh thái cho các thế hệ tương lai.
- Có một cách hiểu khá phổ biến rằng hiện đại hóa nông thôn nghĩa là làm cho nông thôn ngày càng giống đô thị. Nhưng nếu cuối cùng mọi làng quê đều giống nhau, liệu chúng ta có đang đánh đổi chính thứ làm nên giá trị của nông thôn? Theo Giáo sư, một nông thôn thực sự hiện đại phải được nhận diện bằng điều gì - nếu không chỉ là đường rộng hơn, nhà đẹp hơn và nhiều công trình hơn?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Trước hết cần thay đổi cách hiểu về nông thôn hiện đại. Hiện đại không có nghĩa là biến nông thôn thành những khu đô thị thu nhỏ, cũng không phải nơi nào cũng phải có những công trình giống nhau, nhà cửa giống nhau hay một mô hình phát triển giống nhau. Một nông thôn thực sự hiện đại là nơi người dân có chất lượng sống tốt, có cơ hội phát triển, có khả năng làm chủ tương lai và được sống trong một không gian vừa văn minh, vừa phù hợp với đặc điểm văn hóa, sinh thái của cộng đồng mình.
Vì vậy, tôi nghĩ tiêu chí đầu tiên phải là chất lượng sống của con người. Người dân nông thôn phải được tiếp cận tốt với giáo dục, y tế, giao thông, nước sạch, môi trường, văn hóa, thông tin và các dịch vụ thiết yếu. Nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Một nông thôn phát triển phải tạo ra cơ hội sinh kế đa dạng và có khả năng làm giàu, để người dân không buộc phải rời quê chỉ vì ở quê không có tương lai. Nông nghiệp vẫn là nền tảng, nhưng bên cạnh đó phải có công nghiệp chế biến, dịch vụ, thương mại, du lịch, kinh tế số, kinh tế sáng tạo và các ngành nghề phù hợp với điều kiện từng địa phương.
Tiếp đó là khả năng làm chủ của cộng đồng. Nông thôn hiện đại không thể chỉ là kết quả của những dự án đầu tư từ bên ngoài. Người dân phải được tham gia vào việc lựa chọn mô hình phát triển, quản lý tài nguyên, tổ chức sản xuất, bảo vệ môi trường và quyết định những vấn đề liên quan đến đời sống cộng đồng. Một con đường mới, một khu du lịch hay một dự án phát triển nếu làm cho cảnh quan đẹp hơn nhưng người dân không có tiếng nói và không được hưởng lợi tương xứng thì chưa thể coi đó là phát triển thực chất.
Tiêu chí thứ ba là bản sắc và sự đa dạng. Việt Nam có một nền văn hóa nông thôn vô cùng phong phú. Mỗi vùng có một kiểu làng, một lối sống, một kiến trúc, một nghề nghiệp, một tập quán và một ký ức cộng đồng khác nhau. Chính sự đa dạng ấy tạo nên sức hấp dẫn của nông thôn Việt Nam. Vì vậy, hiện đại hóa không nên là quá trình đồng nhất hóa. Chúng ta cần có hạ tầng hiện đại nhưng không nhất thiết phải phá bỏ cấu trúc làng; có nhà ở mới nhưng vẫn có thể giữ cây đa, giếng nước, đình làng, không gian công cộng và cảnh quan đặc trưng.
Tôi cho rằng cần chuyển từ tư duy "xây dựng nông thôn mới" sang "kiến tạo những cộng đồng nông thôn đáng sống". Một cộng đồng đáng sống không chỉ sạch, đẹp, có đường giao thông tốt mà còn phải có đời sống văn hóa phong phú, quan hệ xã hội lành mạnh, môi trường an toàn và cảm giác thuộc về của người dân. Đây là những giá trị khó đo bằng các chỉ tiêu vật chất nhưng lại quyết định rất lớn đến chất lượng sống.
Trong quá trình đô thị hóa, điều quan trọng là phải nhìn nhận quan hệ giữa nông thôn và đô thị như quan hệ liên kết, chứ không phải quan hệ thay thế. Đô thị cần nông thôn về lương thực, thực phẩm, không gian sinh thái, văn hóa và dịch vụ; nông thôn cần đô thị về thị trường, công nghệ, vốn, giáo dục và việc làm. Nếu kết nối tốt, người dân có thể sống ở nông thôn nhưng làm việc cho thị trường đô thị, bán sản phẩm qua nền tảng số, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu hoặc phát triển những ngành nghề mới ngay tại quê hương.
- Có lẽ người trẻ là một phép thử rất thật cho sức sống của một vùng quê. Nhưng mục tiêu cũng không thể là giữ họ ở lại bằng mọi giá. Theo Giáo sư, một nông thôn đáng sống phải tạo ra những điều kiện gì để người trẻ thực sự có quyền lựa chọn - ở lại, đi xa rồi trở về, hay xây dựng một cuộc đời mới ngay trên quê hương mình?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Người trẻ phải được coi là một chỉ báo quan trọng của chất lượng phát triển nông thôn. Một vùng quê mà người trẻ chỉ muốn rời đi thì cần phải đặt câu hỏi về sức hấp dẫn và cơ hội phát triển của vùng quê ấy. Nhưng không nên đặt mục tiêu bằng mọi giá phải giữ người trẻ ở lại. Quan trọng hơn là phải tạo ra quyền lựa chọn, họ có thể ở lại, trở về hoặc đi nơi khác rồi quay lại khi có điều kiện.
Muốn vậy, người trẻ cần được tiếp cận giáo dục và đào tạo tốt, hạ tầng số, vốn khởi nghiệp, đất đai và không gian sản xuất phù hợp, thị trường, mạng lưới chuyên gia và cơ hội kết nối với doanh nghiệp. Một người trẻ có thể trở về quê làm nông nghiệp công nghệ cao, khởi nghiệp từ một nghề truyền thống, làm du lịch cộng đồng, kinh doanh trực tuyến hoặc làm một công việc thuộc nền kinh tế số mà khách hàng ở cách xa hàng nghìn ki-lô-mét. Khoảng cách địa lý ngày càng ít quyết định cơ hội kinh tế nếu hạ tầng và thể chế cho phép kết nối.
Tôi cho rằng tương lai của nông thôn không phải là lựa chọn giữa "giữ truyền thống" và "hiện đại hóa". Bài toán đúng là phải tìm được cách để truyền thống trở thành nguồn lực cho hiện đại hóa. Một làng nghề có thể trở thành trung tâm sáng tạo; một làng cổ có thể trở thành điểm đến văn hóa; một vùng sản xuất nông nghiệp có thể trở thành không gian sinh thái; tri thức bản địa có thể kết hợp với khoa học và công nghệ để tạo ra sản phẩm mới. Vì vậy, một nông thôn thực sự hiện đại phải đạt được ba sự cân bằng, gồm hiện đại về hạ tầng nhưng giàu bản sắc về văn hóa; phát triển kinh tế nhưng bền vững về sinh thái; mở rộng kết nối với bên ngoài nhưng vẫn giữ được sự gắn kết của cộng đồng.
Và có lẽ thước đo sâu xa nhất của nông thôn hiện đại là câu hỏi rất giản dị, rằng người dân có muốn sống ở đó, người trẻ có nhìn thấy tương lai ở đó và cộng đồng có cảm thấy quê hương của mình ngày càng tốt đẹp hơn hay không? Nếu câu trả lời là có, thì chúng ta đang đi đúng hướng của một nền nông thôn hiện đại, văn minh và đáng sống.
- Tại cuộc gặp các đại biểu nông dân xuất sắc và nhà khoa học của nhà nông ngày 14/10/2025, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong muốn những nông dân xuất sắc và nhà khoa học của nhà nông lan tỏa tinh thần đổi mới, giúp các hộ khác cùng vươn lên và nhân rộng các mô hình hợp tác, liên kết sản xuất.[6] Quả thực, chúng ta có rất nhiều nông dân giỏi, nhiều mô hình hay và cũng có rất nhiều cuộc tuyên dương. Nhưng dường như bài toán khó hơn lại nằm ở chỗ: Vì sao thành công của một người vẫn thường chỉ là thành công của một người? Theo Giáo sư, cần làm gì để kinh nghiệm của một cá nhân được chuyển hóa thành tri thức, cơ hội và năng lực phát triển của cả cộng đồng?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Điều quan trọng nhất không phải là có bao nhiêu nông dân giỏi được tuyên dương, mà là sau khi có một người thành công, cộng đồng có thêm bao nhiêu người có khả năng thành công. Một cá nhân xuất sắc chỉ thực sự trở thành nguồn lực phát triển khi kinh nghiệm, tri thức và phương pháp của họ được chia sẻ, kiểm chứng và chuyển hóa thành năng lực chung. Muốn vậy, trước hết phải biến "kinh nghiệm cá nhân" thành "tri thức có thể chia sẻ". Người nông dân giỏi cần được khuyến khích giải thích không chỉ làm gì mà còn vì sao làm như vậy, điều kiện nào để thành công, những rủi ro nào có thể gặp. Các hợp tác xã, tổ chức khuyến nông, nhà khoa học và doanh nghiệp có thể cùng họ ghi chép, thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện quy trình. Khi đó, một sáng kiến không còn là "bí quyết riêng" mà trở thành tài sản tri thức của cộng đồng.
Tiếp theo là phải tạo ra không gian để nông dân học từ nông dân. Có thể tổ chức các nhóm cùng sản xuất, mô hình trình diễn, câu lạc bộ nghề nghiệp, các "nông dân dẫn dắt" hoặc mạng lưới chia sẻ trực tuyến. Người đi trước không chỉ kể thành tích mà trực tiếp hướng dẫn, cùng làm và cùng giải quyết vấn đề với những hộ khác.
Tôi cũng cho rằng cần chuyển từ nhân rộng mô hình sang nhân rộng nguyên lý thành công. Không phải mô hình nào tốt ở một địa phương cũng có thể sao chép nguyên trạng sang nơi khác. Cần tìm ra yếu tố cốt lõi tạo nên thành công rồi để cộng đồng điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện đất đai, thị trường, văn hóa và năng lực của mình.
Cuối cùng, sự lan tỏa chỉ bền vững khi người tham gia cùng có lợi. Một người nông dân thành công nếu trở thành hạt nhân giúp các hộ khác cùng nâng cao năng lực, cùng hình thành hợp tác xã, cùng xây dựng thương hiệu và cùng tiếp cận thị trường thì thành công cá nhân sẽ trở thành vốn xã hội của cộng đồng.
Nói cách khác, mục tiêu cao nhất của việc xây dựng điển hình không phải là tạo ra những ngôi sao đơn lẻ, mà là tạo ra một hệ sinh thái trong đó người giỏi kéo người khác cùng tiến lên. Khi ấy, tuyên dương không phải là điểm kết thúc, mà trở thành điểm khởi đầu của một quá trình lan tỏa tri thức, hợp tác và năng lực phát triển cộng đồng.
- Từ câu chuyện khoán hộ đến những sáng kiến ở nông thôn hôm nay, dường như có một bài học xuyên suốt: Sức sáng tạo của người dân chỉ thực sự trở thành sức mạnh phát triển khi thể chế biết mở đường. Nhưng ranh giới này rất khó - Nhà nước không thể làm thay người dân, nhưng cũng không thể chỉ "đứng ngoài" và để họ tự gánh mọi rủi ro. Theo Giáo sư, một Nhà nước kiến tạo đúng nghĩa phải đứng ở đâu trong mối quan hệ ấy?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Có thể nói, bài học lớn nhất từ thực tiễn phát triển là Nhà nước càng kiến tạo tốt thì người dân càng có nhiều không gian để chủ động và sáng tạo. Nhà nước không nên làm thay thị trường và người dân, nhưng phải làm tốt những việc mà cá nhân, doanh nghiệp hay cộng đồng không thể tự mình làm được.
Trước hết, Nhà nước cần tiếp tục bảo đảm một hệ thống thể chế minh bạch, ổn định và dễ dự đoán; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân; đầu tư vào hạ tầng thiết yếu, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, hạ tầng số và bảo vệ môi trường. Đặc biệt, phải tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng để người nông dân có thể tiếp cận đất đai, vốn, thông tin, công nghệ và thị trường. Nhà nước cũng cần có chính sách bảo hiểm, tín dụng và các cơ chế chia sẻ rủi ro để người dân không phải một mình gánh những rủi ro vượt quá khả năng của họ, như thiên tai, dịch bệnh hay những biến động lớn của thị trường. Còn những việc thuộc về tổ chức sản xuất, lựa chọn sản phẩm, mô hình kinh doanh, liên kết thị trường và sáng tạo sản phẩm, nên để doanh nghiệp, hợp tác xã và cộng đồng chủ động. Nhà nước có thể hỗ trợ, nhưng không nên quyết định thay người dân rằng họ phải sản xuất gì, bán cho ai hay tổ chức sinh kế như thế nào.
Tôi cho rằng nguyên tắc quan trọng là Nhà nước không làm thay, nhưng cũng không buông tay. Nhà nước phải đứng phía sau để tạo luật chơi, cung cấp nền tảng và bảo vệ những người yếu thế; thị trường tạo động lực phân bổ nguồn lực; còn người dân phải được quyền lựa chọn và chịu trách nhiệm đối với những quyết định của mình.
Đặc biệt, khi khuyến khích người dân tự chủ, không được đồng nghĩa với việc đẩy rủi ro về phía người dân. Muốn họ mạnh dạn đổi mới, phải có một "lưới an toàn" phù hợp. Khi Nhà nước làm tốt vai trò kiến tạo và người dân thực sự có quyền chủ động, chúng ta sẽ chuyển từ mô hình "Nhà nước hỗ trợ người dân" sang "Nhà nước tạo điều kiện để người dân tự phát triển". Đó chính là nền tảng của một xã hội năng động, một nền kinh tế sáng tạo và một nền nông nghiệp hiện đại lấy người nông dân làm chủ thể.
- Nghị quyết 19-NQ/TW năm 2026 xác định đến năm 2035 hoàn thành cơ bản quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển mới; đến năm 2045 hoàn thành chuyển đổi, các mô hình thành phần vận hành đồng bộ, hài hòa, hiệu quả. Nhìn từ "tam nông", đến thời điểm đó chúng ta phải hình thành được những năng lực nền tảng nào để con đường tới 2045 thực sự vững chắc? Và trong những năng lực ấy, con người, thể chế, tổ chức sản xuất và hạ tầng phải nâng đỡ nhau ra sao?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Nếu coi năm 2045 là đích đến của quá trình chuyển đổi mô hình phát triển thì năm 2035 phải là thời điểm hình thành được những năng lực nền tảng, chứ không chỉ đạt thêm một số chỉ tiêu kinh tế. Nhìn từ "tam nông", tôi cho rằng cần hình thành ít nhất ba chuyển biến căn bản.
Thứ nhất, người nông dân phải thực sự trở thành chủ thể kinh tế có tri thức và năng lực làm chủ. Họ phải có khả năng tiếp cận và sử dụng khoa học, công nghệ, dữ liệu, vốn và thị trường; có tiếng nói trong các chuỗi giá trị và được hưởng lợi tương xứng với đóng góp.
Thứ hai, phải chuyển từ nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào sản lượng sang nền nông nghiệp tạo ra giá trị cao, xanh, thông minh và có khả năng cạnh tranh quốc tế. Nông nghiệp phải gắn với công nghiệp chế biến, dịch vụ, logistics, du lịch và kinh tế số, để giá trị không dừng lại ở cánh đồng mà được gia tăng trong toàn bộ chuỗi.
Thứ ba, phải hình thành những cộng đồng nông thôn đáng sống, có sức sáng tạo và khả năng tự tổ chức, trong đó hiện đại hóa không làm mất đi bản sắc, mà biến văn hóa, tri thức địa phương và vốn xã hội thành nguồn lực phát triển.
Trong các điều kiện ấy, phát triển con người và năng lực làm chủ của nông dân phải được coi là nền tảng xuyên suốt. Bởi máy móc có thể mua, công nghệ có thể tiếp nhận, hạ tầng có thể xây dựng, nhưng nếu con người không đủ năng lực làm chủ thì những nguồn lực ấy khó tạo ra sự thay đổi bền vững.
- Cho phép tôi hỏi Giáo sư một câu ít "chính sách" hơn. Trong nhiều năm nghiên cứu lịch sử và đi qua rất nhiều vùng quê Việt Nam, có một con người, một ngôi làng hay một câu chuyện nào vẫn ở lại trong ký ức của Giáo sư và khiến ông tin rằng sức sáng tạo của nông thôn Việt Nam còn lớn hơn những gì chúng ta đã khai mở?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Trong quá trình nghiên cứu, tôi luôn có niềm tin đặc biệt vào sức sáng tạo của người dân nông thôn. Những câu chuyện về khoán hộ ở Vĩnh Phú hay những thử nghiệm "khoán chui" ở Đồ Sơn cho thấy một điều rất đáng suy ngẫm: Khi cuộc sống đặt ra vấn đề, người dân thường tìm cách giải quyết trước cả khi thể chế chính thức kịp thay đổi. Điều quan trọng là Nhà nước có đủ năng lực nhận ra cái mới, bảo vệ cái mới, tổng kết và thể chế hóa cái mới hay không.
Vì thế, tôi tin rằng đến năm 2035, nếu chúng ta xây dựng được một thế hệ nông dân có tri thức, một hệ thống hợp tác hiện đại và một thể chế biết lắng nghe sáng kiến từ cơ sở, thì đến năm 2045 "tam nông" sẽ không còn được nhìn như một khu vực cần "giải quyết", mà trở thành một nguồn lực quan trọng của một Việt Nam hiện đại, tự cường, sáng tạo, nhân văn và thịnh vượng.
- Tôi muốn khép cuộc trò chuyện bằng cách trở lại chính câu nói đã mở đầu nó. Nếu nối một đường từ năm 1946, cắt qua năm 2026 đến năm 2045, Giáo sư nghĩ chúng ta phải hiểu hai chữ "giàu" trong "nông dân ta giàu" và "thịnh" trong "nông nghiệp ta thịnh" rộng đến đâu để lời căn dặn ấy thực sự trở thành một triết lý phát triển cho Việt Nam trong thế kỷ XXI?
GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang: Tôi cho rằng sau gần một thế kỷ, câu nói "Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh" của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là một tư tưởng xuyên suốt khi chúng ta suy nghĩ về tương lai của đất nước. Nhưng đến năm 2045, chữ "giàu" và chữ "thịnh" cần được hiểu theo một nghĩa rộng hơn rất nhiều.
Một Việt Nam giàu mạnh không thể chỉ được đo bằng quy mô GDP, thu nhập bình quân hay vị trí trên các bảng xếp hạng quốc tế. Sự giàu mạnh ấy trước hết phải được nhìn thấy trong cuộc sống của người dân và trong diện mạo của từng cộng đồng. Với nông dân, đó phải là một vị thế hoàn toàn mới. Người nông dân không còn là mắt xích yếu nhất trong chuỗi giá trị, không chỉ là người sản xuất nguyên liệu, càng không chỉ là đối tượng nhận chính sách; họ phải trở thành những chủ thể kinh tế có tri thức, có tài sản, có quyền lựa chọn, có khả năng thương lượng và có năng lực làm chủ công nghệ và tương lai của mình.
Tôi nghĩ đến năm 2045, chúng ta phải có thể tự hào nói rằng làm nông nghiệp là một nghề có phẩm giá và có tương lai. Một người trẻ có thể lựa chọn trở thành nông dân mà không cảm thấy đó là một lựa chọn thứ yếu. Họ có thể làm nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, kinh doanh nông sản, phát triển du lịch cộng đồng, làm nghề truyền thống hoặc tham gia kinh tế số ngay tại quê hương. Khi ấy, khoảng cách giữa "nông dân" và "doanh nhân", giữa "nông thôn" và "đô thị" sẽ không còn là những khoảng cách về cơ hội phát triển.
Còn một làng quê giàu mạnh cũng không nên chỉ được nhận diện bằng những con đường rộng, những ngôi nhà khang trang hay những công trình mới. Đó phải là một nơi đáng sống, có môi trường trong lành, cảnh quan được gìn giữ, dịch vụ giáo dục và y tế tốt, đời sống văn hóa phong phú, cộng đồng gắn kết và người dân có khả năng cùng nhau giải quyết những vấn đề của mình. Một làng quê hiện đại nhưng vẫn giữ được đình làng, nghề truyền thống, lễ hội, ký ức và những giá trị tốt đẹp của cộng đồng sẽ có sức sống lớn hơn nhiều so với một không gian nông thôn được đô thị hóa nhưng đánh mất bản sắc.
Đặc biệt, tôi mong rằng đến năm 2045, chúng ta sẽ nhìn thấy một sự thay đổi trong quan hệ giữa con người với quê hương. Người trẻ có thể đi học, đi làm, hội nhập với thế giới nhưng vẫn có thể trở về; người ở quê không bị hạn chế cơ hội chỉ vì sống ngoài đô thị; những tri thức và nguồn lực của thế giới có thể được đưa về làng quê để tạo ra những giá trị mới. Khi ấy, nông thôn không còn là nơi "cung cấp" lao động cho đô thị, mà trở thành một không gian phát triển có sức hấp dẫn riêng.
Nhìn lại toàn bộ câu chuyện, tôi cho rằng có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ nông dân đến cộng đồng, từ cộng đồng đến thể chế và từ thể chế đến mô hình phát triển quốc gia. Lịch sử Đổi mới cho chúng ta thấy nhiều sáng kiến xuất phát từ chính cuộc sống của người dân. Bài học của hôm nay là phải tạo ra một thể chế đủ cởi mở để phát hiện, bảo vệ và nhân rộng những sáng tạo ấy; đồng thời tạo điều kiện để người dân không chỉ thích ứng với sự thay đổi mà trở thành người tạo ra sự thay đổi.
Vì vậy, nếu trở lại với lời dặn của Bác Hồ năm 1946, tôi muốn bổ sung một vế cho cách hiểu hôm nay. Nông dân giàu thì nước ta giàu, nhưng nông dân phải giàu cả về vật chất, tri thức, năng lực và vị thế xã hội; nông nghiệp thịnh thì nước ta thịnh, nhưng nền nông nghiệp ấy phải tạo ra giá trị cao mà không làm cạn kiệt đất đai, nguồn nước và vốn văn hóa của các thế hệ tương lai.
Và có lẽ, hình ảnh đẹp nhất của một Việt Nam giàu mạnh vào năm 2045 không phải chỉ là những đô thị hiện đại, những nhà máy lớn hay những công nghệ tiên tiến. Đó còn là những làng quê có ánh sáng của công nghệ nhưng vẫn có hơi ấm của cộng đồng; những cánh đồng xanh nhưng tạo ra giá trị cao; những người nông dân giàu có nhưng vẫn gắn bó với quê hương; những người trẻ có thể đi khắp thế giới nhưng vẫn muốn trở về xây dựng nơi mình sinh ra.
Nếu đến năm 2045 chúng ta có một đất nước mà ở đó mỗi người nông dân có thể tự tin nói "tôi làm chủ sinh kế của mình", mỗi cộng đồng có thể nói "chúng tôi làm chủ tương lai của làng mình", thì tôi nghĩ khi ấy chúng ta mới cảm nhận đầy đủ ý nghĩa của một Việt Nam giàu mạnh, thịnh vượng và nhân văn. Đó cũng chính là cách thiết thực nhất để tiếp nối lời dặn của Bác Hồ từ năm 1946 đến khát vọng Việt Nam năm 2045 - làm cho người dân giàu lên bằng chính năng lực của mình, làm cho làng quê trở thành những cộng đồng đáng sống và từ đó làm cho đất nước giàu mạnh một cách bền vững.
- Trân trọng cảm ơn Giáo sư về một cuộc đối thoại đã nối chiều sâu lịch sử với những câu hỏi lớn của phát triển hôm nay, qua đó gợi mở một cách nhìn rộng hơn về vị thế của "tam nông" trong tương lai đất nước.
Cuộc trò chuyện với GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang đi từ chiều sâu lịch sử, nhưng cuối cùng lại dẫn đến một câu hỏi của tương lai, rằng "tam nông" sẽ giữ vị thế nào trong một Việt Nam phát triển, thu nhập cao vào năm 2045?
Lịch sử cho thấy, nông nghiệp, nông dân và nông thôn chưa bao giờ đứng ngoài những bước ngoặt của đất nước. Sức mạnh của "tam nông" không chỉ nằm ở khả năng làm điểm tựa trong những thời khắc khó khăn, mà còn ở khả năng thích ứng, sáng tạo và tự đổi mới. Chính từ thực tiễn ấy, nhiều nguồn lực, sáng kiến và động lực phát triển đã được khơi mở.
Trong giai đoạn phát triển mới, vị thế ấy cần được nâng lên một tầm cao hơn, từ "trụ đỡ" trở thành một nguồn kiến tạo năng lực phát triển quốc gia; từ đối tượng cần hỗ trợ trở thành chủ thể tạo ra giá trị, tri thức, sức mạnh sinh thái, văn hóa và xã hội.
Bởi một nền nông nghiệp không thể thực sự hiện đại nếu người nông dân chưa mạnh lên; một nông thôn không thể thực sự thịnh vượng nếu cộng đồng chưa có thêm năng lực phát triển; và một quốc gia khó có thể thịnh vượng bền vững nếu những nguồn lực to lớn trong con người, đất đai, văn hóa và hệ sinh thái chưa được đánh thức và chuyển hóa thành sức mạnh.
Cuộc trò chuyện đi từ lịch sử, nhưng không dừng lại ở lịch sử. Điều quan trọng hơn là từ những giá trị đã làm nên sức sống của dân tộc, chúng ta có thể nhận diện, khơi thông và phát huy những nguồn lực nào để kiến tạo tương lai.
Và hành trình đi tìm vị thế mới của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình phát triển mới của Việt Nam từ đây mới thực sự bắt đầu!
[1] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 246.
[2] Nguyễn Chí Vịnh, "Những câu chuyện về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh", Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2023.
[3] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
[4] Thu Hà, Dân Việt, Tổng Bí thư Tô Lâm: Nông dân xuất sắc, nhà khoa học là những ngọn đuốc lan tỏa tinh thần đổi mới, khát vọng làm giàu, 14/10/2025. https://danviet.vn/tong-bi-thu-to-lam-nong-dan-xuat-sac-nha-khoa-hoc-la-nhung-ngon-duoc-lan-toa-tinh-than-doi-moi-khat-vong-lam-giau-d1370392.html
[5] Hoài Thu, Dân trí, "Nông dân phải thành nông dân số, công nhân phải làm chủ công nghệ", 30/7/2026, "Nông dân phải thành nông dân số, công nhân phải làm chủ công nghệ" | Báo Dân trí
[6] Thu Hà, Dân Việt, Tổng Bí thư Tô Lâm: Nông dân xuất sắc, nhà khoa học là những ngọn đuốc lan tỏa tinh thần đổi mới, khát vọng làm giàu, 14/10/2025. https://danviet.vn/tong-bi-thu-to-lam-nong-dan-xuat-sac-nha-khoa-hoc-la-nhung-ngon-duoc-lan-toa-tinh-than-doi-moi-khat-vong-lam-giau-d1370392.html


