Bài 2: Nhận diện điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, mở rộng sức lan tỏa của “tam nông”
LỜI TÒA SOẠN:
Ở Bài 1 của chuyên đề: "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình phát triển mới của Việt Nam", từ chiều sâu lịch sử và văn hóa dân tộc, GS. TSKH. NGND. Vũ Minh Giang đã gợi mở một cách nhìn về "tam nông" không chỉ như một khu vực sản xuất, mà còn là nền tảng xã hội, không gian văn hóa và nguồn sức mạnh nội sinh của đất nước. Từ nền tảng đó, vấn đề đặt ra ở chặng tiếp theo là làm thế nào để vị trí chiến lược của nông nghiệp, nông dân, nông thôn được chuyển hóa thành năng lực phát triển thực chất trong mô hình phát triển mới.
Bài 2 đi sâu vào câu hỏi ấy từ góc độ nguồn lực và sức lan tỏa: Nguồn lực đang được tổ chức ra sao; đâu là những điểm nghẽn hạn chế hiệu quả; và cần làm gì để tiến bộ của sản xuất không dừng ở tăng sản lượng hay mở rộng quy mô, mà tạo thêm năng lực cho người nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cộng đồng nông thôn.
Trân trọng giới thiệu cùng độc giả!
Vị thế của "tam nông" trong quá trình hiện đại hóa không thể được đánh giá chỉ bằng phần đóng góp trực tiếp của ngành nông nghiệp vào GDP. Phía sau lương thực, thực phẩm và nguyên liệu là sinh kế của người dân, thị trường cho công nghiệp và dịch vụ, khả năng bảo đảm các cân đối lớn, cùng những giá trị di sản, văn hóa, sinh thái cần được gìn giữ lâu dài. Trong mô hình phát triển mới, vấn đề không phải lựa chọn giữa nông nghiệp với công nghiệp, giữa nông thôn với đô thị, mà là tổ chức những mối quan hệ đó để bổ trợ và nâng cao năng lực của nhau.
Các tài liệu của Cục Thống kê cho thấy nền tảng sản xuất tiếp tục được củng cố. Năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng 3,27% [12, tr. 16]; năm 2025, giá trị tăng thêm của khu vực này ước tăng 3,78% so với năm trước, dù chịu tác động bất lợi của thiên tai [13, mục I.1]. Đồng thời, thu nhập bình quân đầu người nông thôn năm 2025 đạt gần 5,16 triệu đồng/tháng, cao hơn 48,14% so với năm 2020 theo giá hiện hành [14, biểu 1]. Những kết quả ấy ghi nhận sức bền của sản xuất và sự cải thiện đời sống, tạo cơ sở thực tiễn để đặt ra những mục tiêu phát triển cao hơn.
Thách thức của giai đoạn tới là làm cho những chuyển biến tích cực được kết nối thành năng lực phát triển lâu dài. Một vùng sản xuất tăng năng suất cần đồng thời nâng chất lượng chế biến và năng lực thị trường; một doanh nghiệp mở rộng cần tạo thêm cơ hội cho hợp tác xã, hộ sản xuất và nhà cung ứng; một công trình nông thôn phải góp phần cải thiện thực chất việc học, chăm sóc sức khỏe, môi trường và sinh kế. Thành công ở từng khâu chỉ phát huy đầy đủ ý nghĩa khi các khâu phối hợp hiệu quả và lợi ích đến được người dân.
Hai Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 đặt vấn đề trong hai phạm vi gắn bó, gồm định hướng chuyên đề về "tam nông" và chiến lược đổi mới mô hình phát triển quốc gia [1; 2]. Bài viết phân tích sự gắn kết đó qua thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế, từ đó luận giải những ưu tiên về tổ chức sản xuất, tri thức, thị trường, con người và quản trị thực thi.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 xác định đổi mới mô hình phát triển gắn với xây dựng, hoàn thiện hệ sinh thái phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử; trọng tâm là tạo đột phá thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo ra năng lực phát triển mới [2]. Đây không chỉ là điều chỉnh tốc độ tăng trưởng hay mở thêm ngành kinh tế, mà là thay đổi cách những nguồn lực, chủ thể và không gian phát triển được kết nối dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò kiến tạo của Nhà nước và quyền làm chủ của Nhân dân.
Trong định hướng ấy, "tam nông" là một bộ phận cấu thành của sức mạnh quốc gia, chứ không chỉ là một lĩnh vực cần được hỗ trợ. Năng lực bảo đảm lương thực, thực phẩm, cung cấp nguyên liệu, duy trì sinh kế và bảo vệ tài nguyên có quan hệ trực tiếp với ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển công nghiệp, sức khỏe dân cư và khả năng chống chịu của đất nước. Nông thôn còn là nơi tích lũy tri thức thực tiễn, nuôi dưỡng văn hóa cộng đồng và tạo không gian cho những hoạt động kinh tế mới. Phát huy những đóng góp này đòi hỏi huy động cả năng lực khoa học, tài chính, nhân lực, hạ tầng và thị trường ở quy mô quốc gia.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, là nghị quyết chuyên đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Văn kiện đã xác định nông dân là chủ thể, trung tâm; nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần là mục tiêu cao nhất; nông nghiệp là lợi thế quốc gia, trụ đỡ của nền kinh tế; Kinh tế nông nghiệp tích hợp đa giá trị, sản xuất theo chuỗi và nông nghiệp sinh thái đã nằm trong định hướng này [1]. Vì vậy, yêu cầu hiện nay là tổ chức thực hiện đầy đủ, đồng bộ các quan điểm ấy trong chiến lược phát triển mới.
Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 tiếp tục cụ thể hóa những yêu cầu về tổ chức thực hiện. Bên cạnh ghi nhận kết quả bảo đảm an ninh lương thực, ổn định vĩ mô và nâng cao đời sống, Kết luận chỉ ra các hạn chế về tính bền vững của tăng trưởng, ứng dụng khoa học, năng lực cạnh tranh, nhân lực và môi trường [6, phần mở đầu]. Bộ Chính trị yêu cầu trong năm 2026 cơ bản hoàn thành rà soát, thể chế hóa các chủ trương [6, mục 2]; xây dựng cơ chế hợp tác đa ngành, chuỗi ngành hàng [6, mục 3]; phân định rõ nhiệm vụ, thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã [6, mục 6]. Những yêu cầu đó đặt năng lực phối hợp và tổ chức thực hiện vào vị trí then chốt để chuyển chủ trương thành kết quả phát triển.
Sự nhất quán giữa các văn kiện cần được hiểu cùng với phạm vi riêng của từng văn kiện. Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2022 định hướng "nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh" [1, II.1]. Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026 yêu cầu: "Phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp thông minh, công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn, giá trị gia tăng cao và phát thải thấp theo chuỗi giá trị, gắn với xây dựng nông thôn văn minh, nông dân chuyên nghiệp" [2, III.2]. Đổi mới sản xuất, phát triển con người và xây dựng cộng đồng phải tiến hành trong cùng một quá trình, với những mục tiêu và trách nhiệm hỗ trợ lẫn nhau.
Yêu cầu "gắn với" mang ý nghĩa tổ chức phát triển. Công nghệ chỉ tạo được chuyển biến bền vững khi người sản xuất có tri thức, dịch vụ hỗ trợ và thị trường phù hợp. Hình thành vùng nguyên liệu phải đi cùng năng lực chế biến, logistics và quan hệ hợp tác đáng tin cậy. Mở rộng sản xuất phải tính đến khả năng cung cấp nước, xử lý chất thải và chất lượng sống của cộng đồng. Những nhiệm vụ đó cần được phối hợp ngay từ lựa chọn ưu tiên, thay vì hoàn thành riêng từng dự án rồi mới tìm cách kết nối.
Năm đặc trưng tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập đặt ra một cách đánh giá thống nhất. Với "tam nông", tự cường là làm chủ năng lực thiết yếu và quản trị rủi ro, không phải khép kín nguồn cung. Sáng tạo là khả năng tiếp nhận và phát triển tri thức thành cách làm hiệu quả. Nhân văn thể hiện ở quyền, cơ hội và lợi ích của người dân; bền vững ở việc bảo vệ điều kiện sống và sản xuất lâu dài; hội nhập ở năng lực tham gia thị trường, tiếp thu công nghệ và giữ uy tín. Nâng năng suất không thể tách khỏi phát triển con người, cũng như tăng kim ngạch không thể tách khỏi chất lượng và khả năng chống chịu.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh: "Truyền thống đã trao cho chúng ta tinh thần cần cù, sáng tạo; thời đại gọi chúng ta dám đổi mới, dám dẫn đầu" [29]. Vận dụng tinh thần ấy vào chính sách đòi hỏi mở đường cho sáng kiến, khuyến khích người dám làm và tạo cơ chế kiểm chứng, chia sẻ, nhân rộng kết quả. Tầm vóc của quyết sách phải được thể hiện qua năng lực giải quyết những vấn đề của sản xuất và đời sống. Đó cũng là nội dung xuyên suốt của quản trị theo mục tiêu, kết quả và tác động phát triển trong Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026. [2, I.5]
Một cách tiếp cận đầy đủ cần phân biệt ba phương diện gắn bó: Nông nghiệp là hoạt động kinh tế; nông dân là chủ thể có quyền, tri thức và khát vọng; nông thôn là không gian sống và sản xuất của nhiều nhóm dân cư. Từ đó, kết quả phát triển cũng cần được xem xét ở ba cấp độ: Sức cạnh tranh của sản xuất, năng lực và đời sống người dân, chất lượng phát triển của địa bàn. Sự tiến bộ ở mỗi cấp độ có thể tạo điều kiện cho hai cấp độ còn lại, nhưng cần những cơ chế kết nối cụ thể.
Khung phát triển nông thôn của OECD đặt chất lượng sống cũng như điều kiện vật chất ở hiện tại và tính bền vững của phúc lợi tương lai trong cùng hệ thống đánh giá, đồng thời chú ý khác biệt giữa các dạng nông thôn [26, tr. 81-82, 89-90]. Hướng dẫn của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) về phát triển chuỗi giá trị thực phẩm bền vững đã kết nối giá trị gia tăng với hiệu quả kinh tế, lợi ích xã hội và môi trường [20, tr. 6-7, 14-20]. Những tiếp cận này cung cấp căn cứ để nhìn phát triển vượt ra ngoài sản lượng hàng hóa, đồng thời giữ vai trò của thị trường trong tạo việc làm, thu nhập và nguồn lực tái đầu tư.
Trước hết, hiệu quả của nguồn lực phụ thuộc vào chất lượng phối hợp. Đất canh tác cần thủy lợi, giao thông, lịch thời vụ và điều kiện sử dụng hợp pháp, ổn định. Máy móc cần dịch vụ vận hành, bảo dưỡng và nhu cầu đủ lớn. Dữ liệu cần người biết sử dụng và quyền tiếp cận phù hợp. Vốn cần phương án kinh doanh và khả năng thu hồi. Khi một điều kiện thiết yếu bị thiếu, bổ sung thêm đầu vào ở khâu khác có thể làm tăng chi phí mà chưa giải quyết được điểm nghẽn. Chính sách cần xác định đúng quan hệ bổ trợ, thay vì phân bổ hỗ trợ chủ yếu theo từng loại đầu vào.
Có thể hình dung một tình huống, khi doanh nghiệp cần nguyên liệu đạt chuẩn mới mở rộng nhà máy; người trồng cần đầu ra ổn định mới đổi quy trình; đơn vị dịch vụ cần đủ khách hàng mới đầu tư máy. Một thỏa thuận rõ tiêu chuẩn, tiến độ và trách nhiệm có thể làm thay đổi quyết định của các bên. Đây là vấn đề phối hợp đầu tư, không đơn thuần là thiếu vốn. Nhà nước cần kiến tạo điều kiện cho hợp tác, không làm thay quyết định kinh doanh.
Tiếp đó, cần phân biệt quy mô của từng hộ với quy mô liên kết và cung ứng dịch vụ. Hộ nhỏ có thể sử dụng dịch vụ cơ giới, phối hợp quy trình và tiếp cận thị trường hiệu quả qua hợp tác xã; trong khi diện tích lớn vẫn có thể kém hiệu quả khi quản trị yếu. Tích tụ, tập trung đất và hợp tác dịch vụ cần được lựa chọn theo ngành hàng, địa hình, nhu cầu, trên nguyên tắc tự nguyện, bảo vệ quyền hợp pháp và hiệu quả tổng thể.
Mặt khác, tăng giá trị của chuỗi phải được chuyển thành động lực của những người tạo ra giá trị. Khi áp dụng tiêu chuẩn mới, người sản xuất có thể phải tăng công lao động, chi phí chứng nhận và thời gian chờ thu tiền. Nếu lợi ích không đủ bù chi phí hoặc điều kiện thu mua thay đổi khó lường, họ khó duy trì đầu tư. Quan hệ hợp tác vì thế cần bảo đảm minh bạch tiêu chuẩn, cách xác định giá, thời hạn thanh toán và xử lý rủi ro. Chia sẻ lợi ích hợp lý không chỉ là yêu cầu công bằng mà còn là điều kiện ổn định vùng nguyên liệu, chất lượng và uy tín của toàn chuỗi.
Cuối cùng, năng lực phát triển phải được xét cả ở cộng đồng và các thế hệ. Kết quả kinh doanh riêng có thể chưa phản ánh đầy đủ tác động đến đất, nước và đời sống người dân. Ngược lại, gìn giữ cảnh quan, tri thức và các giá trị cộng đồng tạo ra lợi ích mà một hộ khó thu hồi toàn bộ qua giá sản phẩm. Chính sách cần kết hợp cơ chế thị trường, đầu tư cho lợi ích chung và trách nhiệm xã hội; đồng thời bảo đảm người dân được quyền và được khuyến khích tham gia những quyết định liên quan đến sinh kế. Năng lực làm chủ của nông dân thể hiện không chỉ ở quyền được ghi nhận, mà ở điều kiện thực hiện quyền thông qua tri thức, tổ chức đại diện và cơ hội lựa chọn. [1, II.2, IV.1]
3.1. Thu nhập được cải thiện, cơ cấu sinh kế mở rộng
Nâng cao đời sống là thành quả quan trọng của phát triển nông thôn và cũng là căn cứ để đánh giá chất lượng chuyển đổi. Theo các bảng Khảo sát mức sống dân cư năm 2025, thu nhập bình quân đầu người nông thôn tăng từ 3,48 triệu đồng/tháng năm 2020 lên gần 5,16 triệu đồng năm 2025, tương ứng 48,14% theo giá hiện hành. Riêng năm 2025 tăng khoảng 14,52% so với năm trước. Khoảng cách thu nhập thành thị so với nông thôn tính từ số liệu gốc giảm từ 1,61 lần xuống 1,43 lần giữa hai đầu kỳ. Dù diễn biến từng năm khác nhau, xu hướng này cho thấy đời sống nông thôn được cải thiện và khoảng cách tương đối đã thu hẹp. [14, biểu 1; 16, tr. 1-2]
Bảng 1. Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành, 2020-2025
Nguồn: Cục Thống kê, Khảo sát mức sống dân cư 2025, biểu 1 [14]; tỷ số do tác giả tính. Thu nhập theo nơi cư trú, giá hiện hành.
Sự cải thiện ấy cần được đặt cùng quá trình đa dạng hóa kinh tế nông thôn. Tại thời điểm 01/7/2025, Tổng điều tra ghi nhận hộ có ngành sản xuất chính là nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 50,57% số hộ nông thôn; hộ công nghiệp, xây dựng chiếm 22,02%; hộ thương mại, vận tải và dịch vụ khác chiếm 21,94% [3, tr. 15]. Khi tính cả hộ có nghề chính khác nhưng vẫn tham gia sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, tỷ lệ tham gia đạt 74,12% [3, tr. 15]. Nông thôn vì thế vừa duy trì nền tảng nông nghiệp, vừa hình thành những sinh kế kết hợp ngày càng cần được chính sách nhìn nhận đầy đủ.
Đó là cơ sở để chuyển từ cách hỗ trợ theo một nghề sang phát triển điều kiện sinh kế của hộ và địa bàn. Thu nhập nông thôn không chỉ đến từ bán nông sản, mà còn gắn với việc làm, kinh doanh dịch vụ và khả năng kết nối thị trường lao động. Đầu tư chế biến, giao thông, hạ tầng thương mại hoặc đào tạo nghề có thể tác động tới nhiều nguồn thu của cùng một gia đình. Bởi vậy, hiệu quả chính sách "tam nông" cần được đánh giá cả ở cơ hội phát triển ngoài canh tác, không chỉ ở năng suất và giá bán tại ruộng.
Tuy nhiên, mức thu nhập bình quân tăng chưa giải quyết hết bài toán ổn định sinh kế. Người dân còn cần khả năng tích lũy, tiếp cận dịch vụ và chống chịu trước thiên tai, dịch bệnh, biến động giá hoặc mất việc. Mức tăng danh nghĩa cũng phải được xem cùng chi phí sinh hoạt. Trọng tâm mới là củng cố nền tảng tạo thu nhập bền vững: chất lượng việc làm, kỹ năng, dịch vụ thiết yếu và các công cụ quản trị rủi ro. Đây là cách làm cho thành quả nâng thu nhập trở thành năng lực tự phát triển, thay vì dễ bị suy giảm sau một cú sốc.
Nhiệm vụ này liên quan đến quy mô nhân lực rất lớn: năm 2024 có 32,54 triệu người trong lực lượng lao động cư trú ở nông thôn, chiếm 61,5% cả nước [10, Biểu 1.1, tr. 19]. Chính sách cần kết nối đào tạo nghề nông với công nghiệp, dịch vụ: bảo đảm điều kiện sản xuất cho người ở lại, việc làm và an sinh cho người chuyển nghề, môi trường lập nghiệp cho người trở về. Hiện đại hóa phải mở thêm lựa chọn khả thi.
3.2. Cơ giới hóa tiến bộ, đòi hỏi nâng cao chất lượng tổ chức sản xuất
Nông nghiệp đã có những chuyển biến rõ về phương tiện và phương thức lao động. Tổng điều tra năm 2025 ghi nhận tỷ lệ làm đất lúa bằng máy đạt 89,2% diện tích gieo trồng, thu hoạch bằng máy đạt 86,1% diện tích thu hoạch [3, tr. 52]. Cơ giới hóa ở hai công đoạn này cho thấy khả năng đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất trên quy mô rộng, tạo tiền đề giảm lao động nặng nhọc và nâng hiệu quả. Bước tiến tiếp theo cần là sự đồng bộ giữa các công đoạn, giữa máy móc với kỹ năng, hạ tầng và lịch sản xuất.
Điều kiện đất đai vẫn đặt ra yêu cầu về tổ chức. Bình quân hộ sử dụng đất trồng cây hằng năm có 2,4 thửa, hộ sử dụng đất lúa có 2,1 thửa; diện tích bình quân một thửa tương ứng 1.753,2m² và 1.628,8m² [3, Biểu 225-226, tr. 681-684]. Các chỉ tiêu tại Bảng 2 phản ánh đặc điểm thửa đất theo từng loại sử dụng, từ đó gợi yêu cầu phối hợp dịch vụ cơ giới, thủy lợi và vùng nguyên liệu phù hợp.
Bảng 2. Quy mô thửa đất sản xuất nông nghiệp tại thời điểm 01/7/2025
Nguồn: Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp 2025, Biểu 225-226, tr. 681, 683 [3]. Đất lúa thuộc nhóm đất cây hằng năm; các dòng không cộng với nhau.
Hai nhóm dữ liệu đặt ra một nhận định quan trọng: hạn chế về quy mô thửa đất cần được giải quyết, nhưng không nên coi đó là căn nguyên duy nhất của hiệu quả thấp hoặc là rào cản tuyệt đối đối với công nghệ. Phát triển dịch vụ cơ giới, điều phối thời vụ, chuẩn hóa quy trình và tổ chức tiêu thụ có thể giúp hộ nhỏ tiếp cận lợi ích của sản xuất quy mô lớn. Ngược lại, việc tập trung diện tích mà thiếu thị trường và năng lực quản trị sẽ khó phát huy hiệu quả. Điều cần mở rộng là quy mô hợp tác có chất lượng, trong đó đất, máy, lao động và đầu ra được phối hợp.
Vì vậy, chính sách đất đai phải đi cùng chính sách dịch vụ sản xuất và phát triển hợp tác xã. Nơi phù hợp có thể thúc đẩy tích tụ, tập trung đất trên cơ sở pháp luật và sự tự nguyện; nơi địa hình, tập quán và ngành hàng khác biệt cần lựa chọn hình thức hợp tác thích hợp. Đích đến là giảm chi phí, nâng chất lượng, bảo vệ quyền lợi người sử dụng đất và tăng khả năng thích ứng. Không nên đánh giá thành công chỉ bằng diện tích tập trung, mà phải xét cả hiệu quả kinh tế và sự bền vững của quan hệ hợp tác.
3.3. Doanh nghiệp, hợp tác xã phát triển, chất lượng liên kết cần được nâng lên
Sự phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất là một thay đổi đáng ghi nhận. Theo Tổng điều tra, đến cuối năm 2024 có 6.202 doanh nghiệp và 8.416 hợp tác xã nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tương ứng 61,26% và 21,16% so với năm 2015 [3, tr. 47]. Đến 01/7/2025, số trang trại đạt 28.347, tăng 37,53% so với năm 2020 [3, tr. 49]. Khu vực hộ vẫn giữ vai trò lớn, nhưng sự mở rộng của doanh nghiệp, hợp tác xã và trang trại đã tạo thêm những đầu mối huy động vốn, tổ chức dịch vụ và tiếp cận thị trường.
Bảng 3. Tổ chức sản xuất và mức tham gia liên kết của trang trại
Nguồn: Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp 2025, tr. 47, 49, 53-54 [3]; tỷ lệ do tác giả tính. Hai nhóm trang trại liên kết (1) và (2) có thể trùng nhau và không bao phủ toàn bộ các nhóm trang trại; dấu "-": không áp dụng.
Doanh nghiệp có vị trí nổi bật trong các quan hệ liên kết đã hình thành. Trong 4.329 trang trại có liên kết sản xuất, 3.302 trang trại liên kết với doanh nghiệp; trong 6.232 trang trại có liên kết tiêu thụ, số lượng có liên kết với doanh nghiệp là 4.028 [3, tr. 53-54]. Kết quả này cho thấy doanh nghiệp là đối tác quan trọng về tổ chức sản xuất và đầu ra. Đồng thời, tỷ lệ trang trại có liên kết sản xuất và liên kết tiêu thụ trên tổng số trang trại mới tương ứng 15,27% và 21,98% (xem Bảng 3), cho thấy dư địa mở rộng quan hệ hợp tác còn lớn.
Từ đây, vấn đề chiến lược là phát triển cả doanh nghiệp dẫn dắt lẫn năng lực của các đối tác tham gia. Doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu ổn định, sản phẩm đạt chuẩn và quan hệ hợp tác tin cậy; hộ sản xuất cần thông tin, dịch vụ, đầu ra và cơ chế phân chia rủi ro. Hợp tác xã có thể tổ chức những điều kiện đó ở cấp thành viên, nhưng cần đủ năng lực quản trị và cung ứng dịch vụ. Số lượng tổ chức tăng là tiền đề; chất lượng vận hành và sự gắn kết giữa các tổ chức mới quyết định sức mạnh của chuỗi.
Vì vậy, đánh giá liên kết cần đi từ nội dung giao dịch đến khả năng duy trì cam kết: giá và tiêu chuẩn rõ ràng, thanh toán đúng hạn, chi phí hợp lý và khả năng hợp tác khi thị trường biến động. Những điều kiện này quyết định động lực đầu tư dài hạn vào giống, công nghệ, chế biến và thương hiệu. Lợi ích đủ rõ cho các bên là nền tảng của một chuỗi bền vững.
3.4. Mở rộng tiếp cận công nghệ phải gắn với phát triển năng lực con người
Chất lượng nguồn nhân lực là một điều kiện nền tảng của hiện đại hóa nông nghiệp. Biểu 247 của Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp năm 2025 ghi nhận hơn 19,31 triệu lao động của hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản; nhóm trên 60 tuổi chiếm 21,80%, nhóm 15-34 tuổi chiếm 25,23% [3, Biểu 247, tr. 727; tính toán của tác giả]. Dữ liệu đặt ra nhu cầu tổ chức đào tạo và dịch vụ phù hợp, phát huy kinh nghiệm của người có tuổi đồng thời bồi dưỡng lực lượng có khả năng tiếp nhận, vận hành và cải tiến công nghệ.
Bảng 4. Cơ cấu tuổi lao động của hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản, 01/7/2025
Nguồn: Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp 2025, Biểu 247, tr. 727 [3]; tỷ trọng do tác giả tính. Phạm vi là lao động của hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Chuyển đổi số mở thêm khả năng tiếp cận tri thức, thị trường và dịch vụ, nhưng chất lượng chuyển đổi phụ thuộc vào con người. Khảo sát mức sống dân cư năm 2025 ghi nhận tỷ lệ người dân biết kỹ năng công nghệ thông tin ở nông thôn đạt 42,65%, tăng 2,31 điểm phần trăm so với năm 2024. Đây là tiến bộ cần phát huy. Khoảng cách với thành thị vẫn còn 16,37 điểm phần trăm, đặt ra yêu cầu đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận và nâng năng lực sử dụng công nghệ cho học tập, sản xuất và đời sống. [14, biểu 20]
Bảng 5. Tỷ lệ người dân biết kỹ năng công nghệ thông tin, 2024-2025
Nguồn: Khảo sát mức sống dân cư 2025, biểu 20 [14]; thay đổi do tác giả tính. Đây là số liệu dân cư theo khảo sát, không phải riêng người làm nông nghiệp.
Trước yêu cầu người nông dân cần làm chủ công nghệ nông nghiệp hiện đại, gắn chuyển từ lao động giản đơn sang lao động sáng tạo [21]. Cụ thể hóa yêu cầu ấy phải bắt đầu từ việc nông dân có thêm năng lực ra quyết định: hiểu thông tin về đất, nước, thời tiết, chi phí và tiêu chuẩn; sử dụng công cụ để lựa chọn phương án phù hợp; phối hợp tốt hơn với đối tác. Mở tài khoản, trang bị thiết bị hay ghi chép điện tử là phương tiện, còn kết quả phải thể hiện ở hiệu quả sản xuất và khả năng duy trì ứng dụng.
Một chương trình đào tạo chất lượng cần phải vừa phổ cập, vừa phân biệt nhu cầu. Hộ mới tiếp cận cần hướng dẫn trực tiếp; người đã ứng dụng cần quản trị dữ liệu và chi phí; hợp tác xã cần năng lực hỗ trợ nhiều thành viên. Các dịch vụ kỹ thuật tại chỗ, mạng lưới nông dân hướng dẫn nhau và liên kết với viện, trường giúp tri thức đến được nơi sử dụng. Đầu tư cho con người vì thế phải trở thành một phần của dự án công nghệ, không phải hoạt động bổ sung sau khi mua máy hoặc xây xong nền tảng.
3.5. Diện mạo nông thôn đổi thay, yêu cầu mới là chất lượng sống và thu hẹp khoảng cách phát triển
Thành tựu hạ tầng nông thôn trong gần một thập niên đã tạo bước tiến quan trọng về điều kiện phát triển. Điện, đường, trường học, y tế và thiết chế văn hóa được mở rộng, đưa những dịch vụ thiết yếu đến gần người dân hơn. Theo Tổng điều tra, năm 2025 có 99,40% số thôn được tiếp cận điện lưới quốc gia; 98,14% có đường ô tô kết nối với trụ sở xã [3, tr. 29-30]. Cùng với sự mở rộng mạng lưới, chất lượng cơ sở vật chất và mức độ đạt chuẩn trong giáo dục, y tế được nâng lên [3, tr. 29-33]. Đây là nền tảng để nông thôn phát triển sản xuất, nâng chất lượng nhân lực và tổ chức đời sống hiện đại.
Bảng 6. Chuyển biến về giáo dục, y tế và vệ sinh môi trường nông thôn, 2016-2025
Nguồn: Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp 2025, tr. 30-33 [3], phần so sánh theo đơn vị hành chính trước sắp xếp năm 2025; thay đổi do tác giả tính. Thu gom rác khác với xử lý đạt chuẩn.
Những thay đổi này cho thấy sự chuyển biến vượt ra ngoài diện mạo. Tỷ lệ trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia tăng từ 37,70% lên 75,52%; tỷ lệ xã có trạm y tế đạt chuẩn tăng từ 70,13% lên 92,65%; tỷ lệ thôn có nhà văn hóa hoặc nơi sinh hoạt cộng đồng đạt 94,29%. Điều kiện học tập, chăm sóc sức khỏe và sinh hoạt văn hóa đã được củng cố trên quy mô rộng. Thành tựu đó góp phần tạo nền tảng cho yêu cầu phát triển con người toàn diện, gìn giữ cộng đồng và mở rộng cơ hội tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội. [3, tr. 30-31]
Trên nền tảng đã hình thành, trọng tâm đầu tư cần tiến tới bảo đảm chất lượng dịch vụ đồng đều hơn và xử lý những thiếu hụt còn kéo dài. Công tác thu gom rác là một ví dụ. Tỷ lệ thôn được thu gom tăng từ 47,30% năm 2016 lên 68,85% năm 2025, nhưng chênh lệch giữa các vùng còn lớn: Đồng bằng sông Hồng đạt 98,12%, trong khi Trung du và miền núi phía Bắc đạt 40,18% [3, tr. 33]. Vấn đề không chỉ là mở thêm tuyến thu gom mà còn là khả năng tổ chức dịch vụ ở địa hình khó khăn, dân cư phân tán và nguồn lực hạn chế.
Yêu cầu môi trường còn thể hiện ở khâu xử lý. Trong 272 làng nghề phát sinh nước thải công nghiệp được nêu trong báo cáo, mới có 112 làng nghề có nước thải được xử lý tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường, tương đương khoảng 41,18% [3, tr. 46; tính toán của tác giả]. Dữ kiện này chỉ ra một nhiệm vụ có ý nghĩa trực tiếp đối với sức khỏe và sinh kế: phát triển nghề, chế biến và dịch vụ phải đi cùng năng lực xử lý tác động môi trường. Khi sản xuất mở rộng, phần hạ tầng và dịch vụ môi trường chậm hoàn thiện sẽ làm suy giảm chính nền tảng của sự phát triển.
Bởi vậy, bước chuyển tiếp theo của xây dựng nông thôn là kết hợp hoàn thiện hạ tầng với bảo đảm chất lượng sống. Cần tính đồng thời công trình, nhân lực, kinh phí vận hành, khả năng tiếp cận của người dân và trách nhiệm duy trì dịch vụ. Vùng đã có nền tảng tốt có thể tập trung nâng chất lượng, ứng dụng công nghệ và kết nối dịch vụ; vùng còn thiếu hụt cần ưu tiên tiếp cận cơ bản và chi phí phục vụ phù hợp. Phân bổ nguồn lực theo nhu cầu và điều kiện địa bàn sẽ giúp thành quả đầu tư được duy trì, thu hẹp khoảng cách phát triển và tạo sức hấp dẫn lâu dài cho nông thôn.
Ý nghĩa chiến lược của nông nghiệp không chỉ nằm ở sản phẩm được tạo ra trực tiếp trên đồng ruộng, ao nuôi hay diện tích rừng. Nông nghiệp còn tạo nhu cầu cho nghiên cứu giống, công nghiệp vật tư, cơ khí, chế biến, bảo quản, vận tải và thương mại. Khi các quan hệ ấy được tổ chức hiệu quả, một ngành hàng có thể thúc đẩy nhiều năng lực sản xuất, kinh doanh khác. Vì vậy, mở rộng sức lan tỏa cần được hiểu là làm cho sự phát triển của một chủ thể tạo thêm thị trường, tri thức, việc làm và khả năng cạnh tranh cho những chủ thể liên quan, qua đó nâng chất lượng tăng trưởng quốc gia [2, III.2].
4.1. Từ mở rộng giao dịch đến tích lũy năng lực
Liên kết có thể bắt đầu từ một hợp đồng, nhưng giá trị phát triển lâu dài nằm ở năng lực được hình thành qua quá trình hợp tác. Chẳng hạn, trong một chuỗi chế biến nông sản, yêu cầu của thị trường tạo động lực chuẩn hóa vùng nguyên liệu; quá trình chuẩn hóa đặt ra nhu cầu về giống, kiểm nghiệm, kỹ thuật và dịch vụ; nhu cầu ổn định giúp đơn vị cung ứng có điều kiện đầu tư. Nếu hộ sản xuất và hợp tác xã tiếp nhận được kỹ năng, có thêm đối tác và duy trì chất lượng, lợi ích của chuỗi đã vượt ra ngoài giá trị một đơn hàng. Đây là cơ chế cần được chính sách tạo điều kiện, không phải kết quả tự có khi quy mô thu mua tăng.
Số liệu về trang trại cho thấy doanh nghiệp đã giữ vai trò quan trọng trong các mối liên kết sản xuất và tiêu thụ [3, tr. 53-55]. Vấn đề cần đi tiếp là chất lượng dẫn dắt. Hỗ trợ kỹ thuật phải giúp đối tác tự vận hành, quản trị và cải tiến; thương hiệu phải dựa trên tiêu chuẩn được thực hiện nhất quán; mở rộng thị trường phải đi cùng quan hệ thanh toán đáng tin cậy. Nhờ đó, doanh nghiệp có nguồn cung ổn định hơn, người sản xuất có khả năng đáp ứng yêu cầu cao hơn và địa phương có thêm cơ sở cung ứng dịch vụ. Lợi ích riêng và lợi ích chung có thể bổ trợ nhau khi quan hệ hợp tác được thiết kế phù hợp.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong muốn những nông dân xuất sắc, nhà khoa học của Nhà nông trở thành "những ngọn đuốc lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo, khát vọng làm giàu chính đáng cho cộng đồng, giúp đỡ các hộ nông dân khác cùng vươn lên" [29]. Cụ thể hóa chỉ đạo ấy cần tổ chức việc học hỏi ngay trong hoạt động sản xuất: người có kinh nghiệm hướng dẫn cách làm, cùng giải quyết trở ngại và giúp người tiếp nhận có thể tiếp tục áp dụng. Điển hình được tôn vinh là điểm khởi đầu; năng lực được hình thành ở nhiều hộ, hợp tác xã và cộng đồng mới là kết quả phát triển cần theo đuổi.
Chính sách phát triển chuỗi vì thế phải gắn ba mục tiêu: nâng hiệu quả giao dịch, thúc đẩy học hỏi và bảo đảm lợi ích hợp lý. Nếu chỉ chú trọng quy mô, liên kết có thể tăng nhưng khả năng lựa chọn của người sản xuất vẫn hạn chế. Nếu chỉ hỗ trợ đào tạo mà thiếu đầu ra, kỹ năng mới khó được duy trì. Nếu chia sẻ lợi ích thiếu minh bạch, các bên khó đầu tư dài hạn. Trách nhiệm của Nhà nước là tạo môi trường cạnh tranh, thông tin và dịch vụ dùng chung; trách nhiệm kinh doanh thuộc doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất theo thỏa thuận và pháp luật.
4.2. Củng cố năng lực đầu vào trong nước, nâng khả năng tự chủ của chuỗi
Khả năng tự chủ của nông nghiệp phụ thuộc cả vào khâu sản xuất cuối cùng lẫn nguồn cung đầu vào. Tăng sản lượng có thể làm tăng nhu cầu vật tư nhập khẩu nếu năng lực cung ứng trong nước chưa theo kịp. Ngược lại, phát triển hiệu quả giống, vật tư, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật trong nước có thể nâng khả năng ứng phó rủi ro, tạo thêm việc làm và tích lũy tri thức. Điều cần lựa chọn là những năng lực có ý nghĩa chiến lược và có triển vọng cạnh tranh, không phải thay thế mọi nguồn nhập khẩu bằng mọi giá.
Phân tích từ bảng cân đối liên ngành năm 2019 cho thấy chi phí trung gian của chăn nuôi chiếm 70,30% giá trị sản xuất; nguyên vật liệu nhập khẩu chiếm 29,58% chi phí trung gian. Nhân hai tỷ lệ cùng phạm vi, phần nguyên vật liệu nhập khẩu tương đương khoảng 20,79% giá trị sản xuất. Mức tương ứng của thủy sản là 19,22%. Các con số tại Bảng 7 giúp nhận diện vai trò nguồn cung đầu vào đối với hiệu quả và khả năng tự chủ của những ngành sản xuất quan trọng. [15, Bảng 6, tr. 514]
Bảng 7. Cấu trúc chi phí đầu vào trực tiếp theo bảng cân đối liên ngành năm 2019
Nguồn: Cục Thống kê, Các báo cáo phân tích và dự báo thống kê năm 2025, Bảng 6, tr. 514 [15]. Cột cuối do tác giả tính bằng tích hai tỷ lệ trước, chia 100. Đây là cấu trúc đầu vào năm 2019.
Những tỷ lệ này phản ánh cơ cấu đầu vào năm 2019, không phải lợi nhuận hay phần giá trị gia tăng thuộc về nước ngoài. Ý nghĩa chính sách nằm ở việc xác định khả năng phát triển nguồn cung, tiết kiệm vật tư và đa dạng hóa đối tác. Tự cường phải được xây dựng bằng năng lực, chất lượng và độ tin cậy. Một phương án nội địa hóa làm đầu vào đắt hơn, chất lượng kém hơn có thể giảm sức cạnh tranh của toàn chuỗi. Ngược lại, đầu tư đúng vào công nghệ và nhà cung ứng có thể đồng thời nâng hiệu quả sản xuất, giảm rủi ro và tạo thêm giá trị trong nước.
Từ đó, ưu tiên nguồn lực nên hướng tới những khâu tạo khả năng phục vụ nhiều chủ thể: nghiên cứu giống, phòng thử nghiệm, kiểm định, thiết bị phù hợp, bảo quản và dịch vụ kỹ thuật. Doanh nghiệp đầu chuỗi có thể đặt ra nhu cầu và tiêu chuẩn; viện, trường cung cấp tri thức; Nhà nước hỗ trợ những điều kiện chung và nhiệm vụ chiến lược; các nhà cung ứng cạnh tranh bằng chất lượng. Đây là cách chuyển yêu cầu nâng tỷ lệ nội địa hóa thành phát triển thực chất năng lực sản xuất, tránh chỉ đo bằng nơi xuất xứ của đầu vào.
4.3. Ưu tiên sức lan tỏa có chất lượng, không chỉ mở rộng số khâu và quy mô
Tác động liên ngành cần được xem cùng năng suất và hiệu quả tài nguyên. Một công nghệ tiết kiệm phân bón, thức ăn hoặc năng lượng có thể làm giảm giao dịch đầu vào nhưng lại nâng thu nhập và giảm áp lực môi trường. Ngược lại, chuỗi dài hơn chưa chắc tạo giá trị cao hơn nếu nhiều khâu trung gian chỉ làm tăng chi phí. Do đó, mục tiêu phát triển không phải tối đa hóa lượng vật tư được mua bán, mà là tạo ra nhiều giá trị và cơ hội hơn từ nguồn lực được sử dụng hiệu quả.
Phân bổ nguồn lực cũng phải xét tính bổ sung của hỗ trợ Nhà nước. Một khoản hỗ trợ có ý nghĩa khi giúp hình thành năng lực chung, khắc phục trở ngại phối hợp hoặc tạo điều kiện để những chủ thể còn hạn chế tham gia hiệu quả. Cần phân biệt kết quả vốn đã có với phần tiến bộ đạt được nhờ chính sách; xem xét chi phí xã hội, cạnh tranh và khả năng duy trì. Như vậy, tiêu chí sức lan tỏa trong Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026 [2, III.2] được cụ thể hóa thành căn cứ lựa chọn đầu tư và trách nhiệm về tác động phát triển, thay vì một nhãn gọi chung cho mọi dự án quy mô lớn.
Đặt người nông dân ở vị trí trung tâm đòi hỏi thay đổi cả cách thiết kế cơ hội phát triển. Nâng năng suất phải tạo điều kiện cải thiện thu nhập; áp dụng công nghệ phải bồi dưỡng năng lực; mở rộng thị trường phải đi cùng quyền lợi trong giao dịch; chuyển đổi sinh kế phải được hỗ trợ bằng đào tạo và an sinh. Đó là cách kết nối các vai trò sản xuất, kinh doanh, bảo vệ sinh thái và gìn giữ văn hóa, đồng thời cụ thể hóa quan điểm của Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2022 về quyền làm chủ và đời sống người dân. [29; 1, II.2, IV.1]
Năng lực tham gia phát triển khác nhau đáng kể giữa các cộng đồng. Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024 cho thấy 63,5% người từ 15 tuổi trở lên có việc làm thuộc các dân tộc được khảo sát làm trong nông, lâm nghiệp và thủy sản [18, Biểu 2.24, tr. 161]. Dữ kiện này cho thấy cải thiện năng suất, dịch vụ và khả năng chống chịu của sản xuất có ý nghĩa đặc biệt đối với sinh kế của đồng bào. Chính sách bao trùm cần kết hợp phát huy tri thức địa phương với hỗ trợ ngôn ngữ, kỹ năng, hạ tầng và tiếp cận thị trường; không áp một điều kiện tham gia giống nhau khi xuất phát điểm và chi phí tiếp cận khác nhau.
Chính sách nhân lực còn cần kết nối nơi đi và nơi đến. Chuyên khảo di cư nội địa ghi nhận trong giai đoạn 2019-2024, người có trình độ đại học trở lên chiếm 21,1% người di cư, so với 11,1% người không di cư [9, tr. 67]. Dữ liệu về di cư nói chung này gợi yêu cầu gắn đào tạo với cơ hội sử dụng kỹ năng, việc làm và lập nghiệp, đồng thời phát huy dịch chuyển nhân lực như một kênh kết nối tri thức, thị trường.
Văn hóa là nền tảng của năng lực cộng đồng, không chỉ là nguồn tư liệu cho xây dựng thương hiệu. Lòng tin, tinh thần tương trợ, trách nhiệm và tri thức nghề giúp con người hợp tác, nhưng cần được phát huy trong quản trị minh bạch. Khi cảnh quan, di sản hoặc nghề truyền thống được sử dụng cho kinh doanh, cộng đồng phải có tiếng nói và lợi ích phù hợp. Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đặt con người trong vai trò sáng tạo, thụ hưởng và nhấn mạnh đầu tư văn hóa gắn với phát triển bền vững. Vận dụng vào nông thôn cần bảo đảm cả cơ hội kinh tế lẫn đời sống văn hóa thường xuyên, không chỉ quan tâm những hoạt động có thể thu phí. [7, I, III]
Phát triển sinh thái cũng cần trở thành nguyên tắc lựa chọn phương thức sản xuất, chứ không phải phần xử lý bổ sung. Nông nghiệp tuần hoàn phải dựa trên hiệu quả thu gom, tái sử dụng an toàn và thị trường của sản phẩm; giảm phát thải phải gắn với sử dụng tiết kiệm nước, vật tư và bảo vệ chất lượng đất. Trách nhiệm môi trường cần đi cùng tri thức, dịch vụ và cơ chế chia sẻ chi phí hợp lý. Hỗ trợ chuyển đổi phải giúp hình thành năng lực sản xuất bền vững, đồng thời giữ kỷ cương đối với hành vi gây ô nhiễm. [2, III.5; 29]
Nhìn từ mô hình phát triển mới, đầu tư cho con người, văn hóa và sinh thái không đối lập với nâng sức cạnh tranh. Đây chính là những điều kiện giúp sản xuất duy trì chất lượng, cộng đồng gắn kết và người dân có khả năng thích ứng. Thu nhập, sức khỏe, kỹ năng, tài nguyên và lòng tin cần được bồi đắp cùng nhau. Một phương án tăng trưởng chỉ cải thiện kết quả ngắn hạn nhưng làm suy giảm các nền tảng ấy sẽ khó tạo năng lực phát triển lâu dài cho "tam nông".
Kinh nghiệm Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc gợi bốn hướng tham khảo: tổ chức hệ thống tri thức; gắn an ninh lương thực với sinh kế; hợp tác phát triển theo địa bàn; và cụ thể hóa chiến lược hiện đại hóa quốc gia thành chuyển biến rộng khắp. Trọng tâm là cơ chế kết nối các nguồn lực, không chỉ thành tựu của từng quốc gia.
6.1. Hà Lan: Xây dựng sức cạnh tranh nông nghiệp trên nền tảng tri thức và hợp tác
OECD mô tả hệ thống tri thức và đổi mới nông nghiệp của Hà Lan (AKIS) là "Triple Helix" (mô hình hợp tác giữa ba trụ cột) hay "tam giác vàng", là hệ thống hoạt động dựa vào "sự hợp tác giữa các tổ chức tri thức, doanh nghiệp và chính phủ" [28, tr. 17]. Trong đó, chính sách các ngành ưu tiên kết nối nghiên cứu với nhu cầu kinh tế, xã hội; giáo dục, tư vấn độc lập, thực nghiệm tại trang trại (demonstrations on farms) và học hỏi giữa người sản xuất hỗ trợ ứng dụng (peer-to-peer learning) [28, tr. 110-111, 120, 125]. Báo cáo đồng thời yêu cầu định hướng đổi mới rõ hơn vào môi trường và lợi ích công: năng lực khoa học mạnh cần đi cùng mục tiêu bền vững và cơ chế thực hiện phù hợp [28, tr. 133-135, 139].
Trên thực tiễn, cơ chế này đã được triển khai ở quy mô lớn tại Hà Lan và đạt những kết quả nhất định. Năm 2025, quốc gia này đã cấp hơn 4 nghìn phiếu hỗ trợ tri thức trong khuôn khổ Chương trình trợ cấp Tư vấn và Giáo dục Doanh nghiệp Nông nghiệp (SABE), cho phép nông dân được tiếp cận tư vấn độc lập hoặc được hỗ trợ xây dựng kế hoạch phát triển trang trại nhằm cung cấp trực tiếp kiến thức chuyên môn đến cấp hộ nông thôn [22, tr. 64]; đồng thời hình thành nền tảng quốc gia về các địa điểm thực nghiệm gồm 14 địa điểm để chia sẻ kiến thức và chuyên môn [22, tr. 65]. Báo cáo ghi nhận chỉ tiêu sử dụng kết quả nghiên cứu của Wageningen Research bởi cơ quan hoạch định chính sách, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội đạt 95% trong năm 2025. [22, tr. 151]
Đối với Việt Nam, điều đáng tiếp thu là tổ chức quá trình liên tục từ nghiên cứu đến ứng dụng và cải tiến. Đầu tư phòng thí nghiệm, giống, dịch vụ kỹ thuật và đào tạo cần được kết nối bởi nhiệm vụ chung của ngành hàng, khắc phục khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và điều kiện sử dụng. Doanh nghiệp tham gia để nâng khả năng ứng dụng; Nhà nước bảo đảm nguồn lực ổn định cho nghiên cứu nền tảng, an toàn thực phẩm, phòng ngừa dịch bệnh và môi trường. Không thể buộc mọi nhiệm vụ khoa học tạo doanh thu ngay.
Lựa chọn công nghệ phải xét đồng thời năng suất, chi phí, chất lượng và giới hạn tài nguyên. Điều cần học là cách tổ chức hợp tác, không phải sao chép quy mô đầu tư hay thiết bị.
6.2. Nhật Bản: Kết nối an ninh lương thực, thu nhập người sản xuất và sức sống nông thôn
Kế hoạch cơ bản về lương thực, nông nghiệp và nông thôn năm 2025 của Nhật Bản đặt an ninh lương thực trong quan hệ với năng lực sản xuất, đất đai, người sản xuất, khả năng tiếp cận thực phẩm và phát triển nông thôn, đồng thời theo dõi cả thu nhập, môi trường và hoạt động cộng đồng duy trì nền tảng sản xuất [24, tr. 1-3]. Cùng với đó, Nhật Bản thúc đẩy kết hợp sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với chế biến, phân phối và dịch vụ, qua đó mở rộng khả năng tạo giá trị từ nguồn lực địa phương [23].
Kết quả theo dõi công bố năm 2025 cho thấy cả tiềm năng lẫn những điều kiện phải tính đến. Với nhóm chủ thể đã triển khai dự án tích hợp trong 5 năm, doanh thu bình quân từ nông, lâm, thủy sản và các sản phẩm mới thuộc dự án tăng khoảng 63% so với thời điểm đăng ký. Xét 142 chủ thể có dữ liệu hợp lệ, 114 chủ thể, tương đương 80,3%, có doanh thu tăng. Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận thường xuyên trên doanh thu của toàn bộ hoạt động kinh doanh bình quân vẫn ở mức -2,2%. Kết quả này cho thấy mở rộng doanh thu chưa đồng nghĩa với nâng hiệu quả kinh doanh; tạo thêm giá trị phải đi cùng năng lực quản trị, kiểm soát chi phí và phát triển thị trường [25, tr. 2-4].
Đối với Việt Nam, giá trị tham khảo là gắn nhiệm vụ chiến lược của nông nghiệp với động lực của người thực hiện. Năng lực bảo đảm an ninh lương thực chỉ được duy trì lâu dài khi người sản xuất có sinh kế, khả năng tích lũy và điều kiện tái đầu tư. Mở rộng kinh tế nông thôn cần tạo cơ hội cho hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp tham gia phù hợp vào sơ chế, chế biến, kiểm soát chất lượng, thương mại và dịch vụ; nhưng không mặc định rằng kéo dài thêm các công đoạn của chuỗi sẽ tự động tạo ra hiệu quả cao hơn.
Vì vậy, chính sách sản xuất cần phối hợp với phát triển địa bàn, đồng thời hỗ trợ quản trị, tiêu chuẩn, liên kết thị trường và năng lực kiểm soát chi phí. Bài học nằm ở sự nhất quán giữa mục tiêu, công cụ và hiệu quả thực tế, không phải ở việc sao chép mô hình tổ chức hay mức độ bảo hộ của Nhật Bản.
6.3. Hàn Quốc: Chuyển từ phát triển từng làng sang hợp tác phát triển theo địa bàn
Nghiên cứu của OECD về Hàn Quốc đặt phát triển nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hóa, dịch chuyển dân cư và già hóa. Chương trình Phát triển Làng nông thôn Toàn diện (CRVDP), triển khai giai đoạn 2004-2013 đã khuyến khích tổ chức cụm làng liền kề gồm 3-5 làng có liên kết chặt chẽ cùng hợp tác để đạt quy mô đủ lớn, cùng tự nguyện xây dựng chiến lược chung, phối hợp hạ tầng, kinh tế, văn hóa, môi trường và quản trị. Thu nhập ngoài nông nghiệp và chất lượng sống cũng được chú trọng cùng với sản xuất. Tính trong giai đoạn 2004-2009, 290 nhóm cộng đồng trong tổng số 1.388 đơn vị đủ điều kiện đã tham gia chương trình. [27, Hộp 2.10, tr. 74-75]. Chương trình này đã cho thấy kết quả tích cực: trong giai đoạn 2005-2015, thu nhập danh nghĩa từ nông nghiệp của các nông hộ trong mẫu nghiên cứu tại khu vực tham gia tăng 51,27%, so với 35,57% tại các khu vực không tham gia; phân tích thực nghiệm cũng cho thấy chương trình có tác động tích cực đối với thu nhập nông hộ [8, phần 5].
Đối với Việt Nam, hoạt động kinh tế và nhu cầu dịch vụ thường vượt địa giới một xã. Vùng nguyên liệu, nguồn nước, nhà máy và thị trường lao động cần được kết nối bằng lợi ích chung, phần đóng góp và trách nhiệm vận hành rõ ràng. Liên kết phải có cơ chế ra quyết định và giải quyết bất đồng, không chỉ dừng ở cam kết phối hợp.
Biến đổi dân số đòi hỏi lựa chọn đầu tư theo tổng chi phí xã hội. Tập trung dịch vụ có thể giảm chi phí vận hành nhưng tăng chi phí đi lại; phân tán công trình dễ thiếu nhân lực, thiết bị. Cần có sự tham gia của cộng đồng để kết hợp nâng thu nhập với bảo đảm chất lượng sống.
6.4. Trung Quốc: Gắn chấn hưng nông thôn với hiện đại hóa quốc gia và nâng năng lực hộ sản xuất
Trung Quốc đặt chấn hưng nông thôn trong chiến lược hiện đại hóa quốc gia. Quy hoạch chấn hưng nông thôn toàn diện giai đoạn 2024-2027 phối hợp phát triển ngành nghề, nhân tài, văn hóa, sinh thái và tổ chức; yêu cầu phân loại địa bàn, xác định thứ tự thực hiện và trách nhiệm các cấp [30, mục I, II, XI]. Điểm đáng chú ý là kết nối mục tiêu dài hạn với nhiệm vụ phù hợp điều kiện địa phương, đồng thời yêu cầu tránh mục tiêu vượt giai đoạn phát triển hay phi thực tế và các dự án mang tính hình thức, phô trương [30, mục I, XI].
Văn kiện Trung ương số 1 năm 2026 của Trung Quốc tiếp tục nhấn mạnh kết nối hộ nhỏ với nông nghiệp hiện đại thông qua hợp tác xã có chất lượng, trung tâm dịch vụ nông nghiệp tổng hợp và hệ thống dịch vụ chuyên nghiệp [31, khoản (21)]. Văn kiện đồng thời yêu cầu mở rộng các kênh và phương pháp tham gia phát triển của nông dân, chia sẻ công bằng lợi ích từ phát triển ngành hàng [31, khoản (12)]. Hướng tiếp cận này gợi cách mở rộng quy mô hợp tác và dịch vụ để hộ nhỏ tiếp cận công nghệ, thị trường, thay vì chỉ coi tăng diện tích của từng hộ là con đường hiện đại hóa.
Bằng chứng về tổ chức lan tỏa tri thức có thể thấy từ một giai đoạn trước. Nghiên cứu của Cui và cộng sự trên Nature năm 2018 ghi nhận mạng lưới 1.152 nhà nghiên cứu phối hợp với lực lượng khuyến nông và nhân sự doanh nghiệp hỗ trợ khoảng 20,9 triệu nông dân tại 452 huyện áp dụng quản lý canh tác cải tiến trong giai đoạn 2005-2015. Trong phạm vi nghiên cứu, năng suất bình quân ngô, lúa và lúa mì tăng 10,8-11,5%, đồng thời lượng đạm sử dụng giảm 14,7-18,1%. Kết quả cho thấy ý nghĩa của thử nghiệm theo vùng sinh thái, khuyến nghị phù hợp và mạng lưới hỗ trợ người sử dụng; đây không phải mức tăng chung của toàn ngành. [19, phần Tóm tắt (Abstract)]
Về môi trường sống, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) năm 2018 giới thiệu chương trình phát triển nông thôn xanh của Chiết Giang với việc kết hợp quản lý nước, chất thải và tái chế; trong đó, trách nhiệm đối với từng dòng sông được giao cho người phụ trách, bao gồm kiểm soát ô nhiễm và phục hồi sinh thái [32]. Giá trị tham khảo là tổ chức trách nhiệm bảo vệ môi trường phục vụ cả sản xuất và đời sống, không chỉ chỉnh trang cảnh quan.
Kết quả phát triển cần được xem cùng những khoảng cách còn tồn tại. Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc công bố thu nhập khả dụng bình quân đầu người nông thôn năm 2025 đạt 24.456 nhân dân tệ/năm; tỷ số thu nhập thành thị/nông thôn giảm từ 2,56 lần năm 2020 xuống 2,31 lần năm 2025 [17, mục II.1]. Khoảng cách tương đối thu hẹp nhưng còn đáng kể; không thể quy toàn bộ diễn biến này cho một chương trình riêng.
Đối với Việt Nam, kinh nghiệm này gợi cách kết nối chiến lược với năng lực thực hiện rộng khắp: khoa học đi cùng dịch vụ, doanh nghiệp đi cùng hợp tác của hộ, bảo vệ môi trường đi cùng trách nhiệm lâu dài. Giá trị tham khảo đối với Việt Nam nằm ở khả năng kết nối định hướng quốc gia với dịch vụ sản xuất, năng lực hợp tác của hộ và trách nhiệm thực hiện phù hợp từng địa bàn.
6.5. Giá trị tham khảo chung cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm của Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, có thể rút ra một số giá trị tham khảo quan trọng cho Việt Nam.
Thứ nhất, phát triển "tam nông" phải được tổ chức như một hệ thống có quan hệ bổ trợ và hình thành hệ sinh thái. Khoa học, hạ tầng, thị trường, doanh nghiệp, hợp tác xã, dịch vụ công và cộng đồng cần được kết nối quanh những mục tiêu phát triển chung, thay vì triển khai thành các chương trình riêng lẻ.
Thứ hai, hiện đại hóa nông nghiệp phải đồng thời nâng năng lực của người sản xuất. Điều quan trọng không chỉ là đưa công nghệ vào sản xuất, mà còn là tổ chức hệ thống tri thức, dịch vụ và liên kết để hộ nông dân, hợp tác xã có khả năng tiếp nhận, sử dụng, duy trì và tiếp tục cải tiến. Hộ nhỏ không nhất thiết phải tự mở rộng quy mô đất đai nếu có thể tiếp cận hiệu quả các dịch vụ và hình thức hợp tác phù hợp.
Thứ ba, phát triển nông nghiệp phải gắn với phát triển nông thôn và chất lượng sống. Năng lực sản xuất, sinh kế, dịch vụ thiết yếu, văn hóa, môi trường và sức sống cộng đồng cần được xem xét trong cùng một quá trình. Thành công không chỉ thể hiện ở sản lượng hay doanh thu, mà còn ở khả năng tạo việc làm, nâng thu nhập và duy trì những điều kiện phát triển lâu dài của địa bàn.
Thứ tư, chính sách phải được đánh giá bằng kết quả thực chất và khả năng lan tỏa. Tăng đầu tư, mở rộng chuỗi hay tăng doanh thu chưa tự động đồng nghĩa với hiệu quả phát triển. Cần xem xét đồng thời năng suất, giá trị gia tăng, hiệu quả kinh doanh, năng lực của các chủ thể, phân bổ lợi ích và tác động xã hội, môi trường.
Tựu trung, bài học không nằm ở việc sao chép một mô hình cụ thể, mà ở cách chuyển nguồn lực riêng lẻ thành năng lực của cả hệ thống và biến tiến bộ của từng chủ thể thành sức phát triển chung của "tam nông". Đây cũng là cơ sở để xác định những ưu tiên chính sách và tổ chức thực hiện trong giai đoạn mới.
7.1. Thống nhất mục tiêu phát triển, làm rõ trách nhiệm điều phối
Ưu tiên thể chế cần hướng vào khả năng giải quyết những vấn đề liên ngành của "tam nông". Trên cơ sở Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2022 [1], Kết luận số 219-KL/TW [6] và Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026 [2], cần rà soát đồng thời quy định, thẩm quyền, nguồn lực và năng lực thực hiện. Vướng mắc do pháp luật thiếu hoặc chưa thống nhất phải được xử lý bằng công cụ pháp lý; công việc đã có quy định cần làm rõ trách nhiệm và điều kiện thi hành. Phối hợp các nghị quyết về khoa học, kinh tế tư nhân, văn hóa phải bắt đầu từ bài toán phát triển cụ thể, không chỉ từ việc cộng các danh mục nhiệm vụ.
Với vùng sản xuất hoặc chuỗi ngành hàng, cần xác định cơ quan chủ trì, chủ thể kinh doanh, tổ chức đại diện và trách nhiệm phối hợp. Kết luận số 219-KL/TW yêu cầu quy định cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã, bảo đảm không chồng chéo, bỏ sót; đồng thời nhấn mạnh hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân và ưu tiên bố trí đủ nguồn lực cho tổ chức thực hiện [6, mục 2, 6, 8]. Trên cơ sở đó, trung ương cần bảo đảm khuôn khổ và các nhiệm vụ vượt khả năng địa phương; cấp tỉnh điều phối nguồn lực, hạ tầng và dịch vụ liên quan nhiều địa bàn; cấp xã tổ chức các công việc thuộc thẩm quyền, bám nhu cầu người dân. Giao trách nhiệm phải đi cùng năng lực và nguồn lực. Cơ chế phối hợp tốt cần giải quyết được bất đồng về đầu tư, tiêu chuẩn, lợi ích và vận hành, thay vì chỉ tăng số cuộc họp liên ngành.
7.2. Dùng nguồn lực công để phát triển năng lực chung và thúc đẩy đầu tư xã hội
Nguồn lực công cần ưu tiên hình thành những nền tảng và năng lực dùng chung có khả năng tạo tác động rộng, như thủy lợi, hạ tầng kết nối và logistics, hạ tầng số và dữ liệu, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, năng lực phòng chống thiên tai, kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ môi trường; qua đó tạo điều kiện phát triển nông nghiệp sinh thái, thông minh, công nghệ cao, tuần hoàn và phát thải thấp. [2, III.2; 6, mục 6]. Mỗi quyết định đầu tư cần làm rõ nhu cầu sử dụng, tính bổ trợ với các hoạt động khác và nguồn lực vận hành. Nguồn vốn xây dựng phải được xem cùng chi phí duy trì dịch vụ, tránh có công trình nhưng thiếu người và kinh phí sử dụng. Ưu tiên theo hiệu quả phát triển không đồng nghĩa bỏ qua vùng khó khăn; chi phí tiếp cận cao và lợi ích xã hội chính là những căn cứ cần đưa vào lựa chọn.
Đối với doanh nghiệp dẫn dắt, hỗ trợ cần gắn với kết quả nâng năng lực của mạng lưới. Nghị quyết số 68-NQ/TW đã xác định việc doanh nghiệp lớn hỗ trợ công nghệ, kỹ thuật, đào tạo và sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp nhỏ và vừa là tiêu chí quan trọng để hưởng ưu đãi [5, III.5]. Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026 cũng nhấn mạnh phát triển doanh nghiệp dẫn dắt, doanh nghiệp đầu chuỗi, đột phá thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã và các tổ chức nghiên cứu, đồng thời củng cố kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác [2, III.2]. Vận dụng vào chuỗi nông nghiệp cần cụ thể hóa kết quả đối với nhà cung ứng, hợp tác xã và hộ, xác định thời hạn kiểm tra và điều kiện điều chỉnh hỗ trợ. Đồng thời, hợp tác xã phải được củng cố về quản trị, dịch vụ và trách nhiệm với thành viên. Hỗ trợ của Nhà nước cần tạo thêm năng lực cạnh tranh, không tạo đặc quyền kéo dài cho một đầu mối.
7.3. Tổ chức hệ thống tri thức phục vụ sản xuất và phát triển nông dân chuyên nghiệp
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW đòi hỏi tổ chức tốt hơn mối liên hệ giữa nghiên cứu, nhu cầu phát triển và khả năng ứng dụng. Với các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng trong nông nghiệp, cần xác định rõ vấn đề thực tiễn, người sử dụng, điều kiện thử nghiệm và trách nhiệm hỗ trợ sau chuyển giao [4]. Viện, trường, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân cần được kết nối từ quá trình xác định bài toán đến thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện kết quả. Đối với những kết quả có khả năng thương mại hóa, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia đưa công nghệ vào sản xuất; đồng thời duy trì đầu tư dài hạn cho nghiên cứu cơ bản và các nhiệm vụ phục vụ lợi ích chung [2, III.2]. Kinh phí cho nhiệm vụ ứng dụng cần tính cả hoạt động hướng dẫn, đánh giá và hoàn thiện sau áp dụng; kết quả không chỉ được đo bằng nghiệm thu mà còn bằng khả năng sử dụng trong thực tế.
Phát triển nông dân chuyên nghiệp cần kết hợp kỹ năng sản xuất với năng lực thị trường, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học - công nghệ, có kiến thức và kỹ năng số cũng như trách nhiệm sinh thái [6, mục 4; 29]. Có thể tổ chức mạng lưới nông dân giỏi, nhà khoa học hướng dẫn thực hành theo ngành hàng, gắn với khuyến nông và hợp tác xã. Việc hỗ trợ nên căn cứ khả năng tiếp nhận, duy trì và cải tiến của người học, không chỉ số lượt tập huấn. Đây là cách đưa tinh thần lan tỏa đổi mới sáng tạo thành năng lực của cộng đồng, đồng thời phát huy tri thức thực tiễn đang có trong nông thôn.
7.4. Phát triển thị trường, thương hiệu và quan hệ hợp tác đáng tin cậy
Sản phẩm chủ lực phải được lựa chọn từ lợi thế, nhu cầu và khả năng cung ứng; hướng đến xây dựng ít nhất một sản phẩm chủ lực có thương hiệu tại mỗi đơn vị cấp xã [6, mục 3; 29]. Một vùng nguyên liệu hoặc thương hiệu có thể liên quan nhiều xã, cần tiêu chuẩn chung và cơ chế bảo vệ uy tín. Nhà nước hỗ trợ thông tin, kiểm định, bảo hộ phù hợp và kết nối dịch vụ; doanh nghiệp, hợp tác xã chịu trách nhiệm kinh doanh, chất lượng và cam kết với người mua. Kênh phân phối số cần gắn với kho vận, thanh toán và chăm sóc khách hàng để trở thành hoạt động thương mại thực chất.
Ở phía người sản xuất, cần minh bạch tiêu chuẩn, giá, thời hạn thanh toán và phân chia rủi ro; tạo điều kiện tư vấn và giải quyết tranh chấp dễ tiếp cận. Khi nâng chuẩn chất lượng, phải xác định chi phí và trách nhiệm của các bên ngay từ đầu. Sự ổn định của quan hệ giao dịch giúp hộ có động lực đầu tư, doanh nghiệp có nguồn cung tin cậy và thương hiệu có chất lượng nhất quán. Bảo vệ quyền lợi nông dân và nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp vì thế cần được xử lý như những mục tiêu bổ trợ.
7.5. Gắn phát triển địa bàn với chất lượng sống, văn hóa và chuyển đổi xanh
Chính sách nông thôn cần phân biệt vùng gần đô thị, vùng chuyên canh, vùng miền núi và địa bàn khó tiếp cận để lựa chọn đầu tư, dịch vụ và sinh kế phù hợp. Phát triển sản xuất phải tính cùng giáo dục, y tế, môi trường, văn hóa và điều kiện làm việc [1, IV]. Cộng đồng cần tham gia từ xác định nhu cầu đến giám sát; ngân sách và nguồn lực xã hội phải được kết hợp theo trách nhiệm rõ ràng. Những hoạt động văn hóa, dịch vụ thiết yếu khó tạo nguồn thu vẫn cần được bảo đảm theo mục tiêu phục vụ, không chỉ theo khả năng kinh doanh.
Chuyển đổi xanh trong nông nghiệp cần kết hợp quy chuẩn, dịch vụ kỹ thuật, tài chính và thị trường. Phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn và thích ứng khí hậu cần đi cùng các công cụ tài chính phù hợp, từ tín dụng xanh, bảo hiểm nông nghiệp đến thị trường tín chỉ carbon. [2, III.5; 29] Trên cơ sở đó, hỗ trợ ban đầu nên hướng vào những chi phí tạo lợi ích chung như thử nghiệm, đo lường, hạ tầng xử lý và phát triển năng lực. Tín dụng phải dựa trên phương án có khả năng trả nợ; bảo hiểm phù hợp loại rủi ro; nguồn thu carbon chỉ được tính theo mức độ đã được xác nhận và điều kiện giao dịch. Mục tiêu là giúp người dân có điều kiện lựa chọn phương thức sản xuất bền vững, không đẩy họ vào nghĩa vụ tài chính dựa trên những khoản thu mới là kỳ vọng.
7.6. Đánh giá kết quả để điều chỉnh chính sách và xác lập ưu tiên
Quản trị theo kết quả cần phân biệt việc hoàn thành thủ tục với tiến bộ của sản xuất và đời sống. Mỗi chương trình phải có mục tiêu, nhiệm vụ, người chịu trách nhiệm, nguồn lực, thời hạn và sản phẩm đầu ra [2, I.5, III.1]. Đánh giá cần xem cả chi phí, mức tiếp cận, năng lực duy trì và tác động tới cộng đồng; sử dụng thông tin từ người thụ hưởng cùng với báo cáo của đơn vị thực hiện. Khi kết quả chưa đạt, phải xác định nguyên nhân ở thiết kế, tổ chức hoặc điều kiện khách quan để sửa công cụ, thay vì chỉ yêu cầu tăng tiến độ.
Bảng 8. Khung tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả đề xuất
Nguồn: Tác giả đề xuất.
Giá trị của hệ thống theo dõi nằm ở khả năng hỗ trợ quyết định: Tiếp tục cơ chế có hiệu quả; điều chỉnh chính sách chưa phù hợp; xem xét kết thúc những chương trình hỗ trợ có thời hạn không đạt mục tiêu, trên cơ sở đánh giá đầy đủ nguyên nhân và tác động đối với người thụ hưởng. Cần tận dụng dữ liệu hiện có, giảm trùng lặp báo cáo, phát huy giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, tổ chức đại diện và cộng đồng [6, mục 8]. Trách nhiệm giải trình phải gắn với quyền xử lý công việc, không chỉ trách nhiệm cung cấp thông tin.
Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026 xác định đến năm 2030 hoàn thành các nền tảng; đến năm 2035 hoàn thành cơ bản chuyển đổi, hình thành đồng bộ các mô hình thành phần; đến năm 2045 hoàn thành chuyển đổi và vận hành đồng bộ, hài hòa, hiệu quả [2, II.1-3]. Cụ thể hóa cho "tam nông" cần xác lập thứ tự ưu tiên, quan hệ trước - sau và những nhiệm vụ triển khai đồng thời.
Trong giai đoạn đến năm 2030, nhóm điều kiện nền tảng cần được tập trung là thể chế hợp tác, phân công trách nhiệm, dịch vụ khoa học, dữ liệu và khả năng tiếp cận thị trường. Cùng thời gian đó, phải tiếp tục hoàn thiện hạ tầng thiết yếu, xử lý ô nhiễm và bảo đảm cơ hội cho địa bàn, nhóm dân cư còn khó khăn. Nhóm nhiệm vụ nâng năng lực cần gắn với những ngành hàng và vùng có nhu cầu rõ, có chủ thể thực hiện và cơ chế đánh giá. Kết quả của giai đoạn này phải cho phép nhận biết cách làm nào đủ điều kiện mở rộng, cách làm nào cần điều chỉnh.
Từ nền tảng ấy, đến năm 2035 cần hình thành các quan hệ sản xuất, dịch vụ và quản trị có khả năng hoạt động ổn định. Mô hình kinh doanh phải có cơ sở thị trường; dịch vụ công có nguồn lực và trách nhiệm bảo đảm lâu dài; các chủ thể tham gia có năng lực ứng phó rủi ro. Nhân rộng cần dựa vào kết quả đã được kiểm chứng và khả năng thích ứng theo địa bàn, không chỉ sao chép hình thức tổ chức. Đây là bước chuyển từ phát triển các mô hình riêng lẻ sang nâng năng lực của cả hệ thống.
Tầm nhìn năm 2045 còn đặt ra yêu cầu đầu tư dài hạn cho con người và không gian sống. Theo phương án dự báo trung bình của Cục Thống kê, dân số nông thôn vào năm 2035 khoảng 60,07 triệu người, năm 2045 khoảng 56,05 triệu người [11, Biểu A.1, tr. 56]. Quy mô này cho thấy nông thôn vẫn là không gian phát triển có ý nghĩa quốc gia trong nhiều thập niên tới. Chính sách hôm nay cần tính tới biến đổi cơ cấu tuổi, nghề nghiệp, nhu cầu dịch vụ và kết nối đô thị, đồng thời bảo đảm nền tảng sinh thái cho các thế hệ sau.
Qua các dữ liệu thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế, vấn đề nổi lên không đơn thuần là "tam nông" còn thiếu bao nhiêu nguồn lực, mà là nguồn lực được tổ chức và chuyển hóa thành năng lực phát triển như thế nào. Đất đai, vốn, khoa học, công nghệ, hạ tầng hay thị trường chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi được kết nối với năng lực của người sản xuất, chất lượng của các quan hệ hợp tác và điều kiện phát triển của từng địa bàn.
Bởi vậy, khơi thông nguồn lực phải đi cùng mở rộng sức lan tỏa. Một khoản đầu tư công có ý nghĩa khi tạo thêm năng lực dùng chung; một doanh nghiệp dẫn dắt có giá trị khi cùng nâng năng lực của nhà cung ứng, hợp tác xã và hộ; một tiến bộ công nghệ chỉ thực sự thành công khi người nông dân có thể làm chủ, duy trì và tiếp tục cải tiến; một chuỗi giá trị chỉ bền vững khi lợi ích, chi phí và rủi ro được phân chia hợp lý. Kết quả cuối cùng cần được đo bằng năng suất và giá trị gia tăng cao hơn, năng lực của các chủ thể mạnh hơn, đời sống nông thôn tốt hơn và nền tảng sinh thái được bảo vệ lâu dài.
Từ nay đến năm 2030, ý nghĩa của đột phá vì thế nằm ở khả năng biến những định hướng đã được xác lập thành cơ chế phối hợp, năng lực thực thi và kết quả có thể kiểm chứng. Khi tiến bộ của từng hộ, từng doanh nghiệp, từng địa phương có thể tạo thêm cơ hội và năng lực cho những chủ thể xung quanh, "tam nông" sẽ không chỉ phát triển bằng chính nguồn lực của mình mà còn tạo sức lan tỏa cho toàn bộ nền kinh tế và xã hội. Đó là thước đo thực chất cho vị trí của nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong mô hình phát triển mới của Việt Nam./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hà Nội. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xiii/nghi-quyet-so-19-nqtw-ngay-1662022-hoi-nghi-lan-thu-nam-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-ve-nong-nghiep-nong-dan-nong-3819 (truy cập ngày 11/9/2026).
[2] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Hà Nội. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-19-nq-tw-ngay-28-7-2026-hoi-nghi-lan-thu-ba-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv-ve-doi-moi-mo-hinh-phat.html?categoryId=102000092 (truy cập ngày 11/9/2026).
[3] Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 Trung ương (2026). Kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025. Hà Nội: Nhà xuất bản Kinh tế - Tài chính. https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2026/03/TDT-2025-full.pdf (truy cập ngày 11/9/2026).
[4] Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Hà Nội. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-57-nqtw-ngay-22122024-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-11162 (truy cập ngày 11/9/2026).
[5] Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. Hà Nội. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-68-nqtw-ngay-452025-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-11562 (truy cập ngày 11/9/2026).
[6] Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hà Nội. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/ket-luan-so-219-kl-tw-ngay-26-11-2025-cua-bo-chinh-tri-ve-tiep-tuc-thuc-hien-nghi-quyet-so-19-nq-tw-ngay-16-6-2022-cua-b.html?categoryId=102000092 (truy cập ngày 13/9/2026).
[7] Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam. Hà Nội. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-80-nq-tw-ngay-07-01-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam2.html (truy cập ngày 11/9/2026).
[8] Choi, E., Park, J. và Lee, S. (2020). "The Effect of the Comprehensive Rural Village Development Program on Farm Income in South Korea". Sustainability, 12(17), 6877. DOI: 10.3390/su12176877. Các dữ kiện trích từ phần 5: Kết quả thực nghiệm (Empirical Results) trên trang nhà xuất bản. https://www.mdpi.com/2071-1050/12/17/6877 (truy cập ngày 13/9/2026).
[9] Cục Thống kê (2025). Di cư nội địa Việt Nam giai đoạn 2009-2024. Hà Nội: Nhà xuất bản Hà Nội. https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2025/12/Bao-cao-di-cu-noi-dia.-pdf.pdf (truy cập ngày 11/9/2026).
[10] Cục Thống kê (2025). Báo cáo Điều tra lao động việc làm năm 2024. Hà Nội: Nhà xuất bản Lao Động. https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2026/05/02-Sach-Bao-cao-lao-dong-viec-lam-2024.pdf.pdf (truy cập ngày 11/9/2026).
[11] Cục Thống kê (2025). Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024-2074. Hà Nội: Nhà xuất bản Hà Nội. https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2025/12/Bao-cao-du-bao-dan-so-vn.-PDF.pdf (truy cập ngày 11/9/2026).
[12] Cục Thống kê (2025). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2025. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê. https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2025/11/Sach-trang-DN-2025-PDF.pdf (truy cập ngày 11/9/2026).
[13] Cục Thống kê (2026). "Thông cáo báo chí tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025", ngày 5/1/2026. Hà Nội: Cục Thống kê. Vị trí sử dụng: mục I.1, Tổng sản phẩm trong nước (GDP), đoạn về tăng trưởng năm 2025 của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/ (truy cập ngày 11/9/2026).
[14] Cục Thống kê (2026). Các biểu số liệu công bố Khảo sát mức sống dân cư năm 2025 [Bộ dữ liệu Excel]. Hà Nội: Cục Thống kê, tháng 7. Biểu 1 và biểu 20. https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2026/07/Bieu-so-lieu-cong-bo-ksms2025_f_s.xlsx (truy cập ngày 11/9/2026).
[15] Cục Thống kê (2026). Các báo cáo phân tích và dự báo thống kê năm 2025. Hà Nội: Cục Thống kê, tháng 7. Các chuyên đề về khả năng tự chủ trong chuỗi giá trị nông, lâm nghiệp, thủy sản và phân tích bảng cân đối liên ngành. https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2026/08/0.-Ky-yeu-cac-CD-PTDB-nam-2025.pdf (truy cập ngày 11/9/2026).
[16] Cục Thống kê (2026). "Thông cáo báo chí: Kết quả Khảo sát mức sống dân cư 2025", ngày 03/7/2026. Hà Nội: Cục Thống kê. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/07/thong-cao-bao-chi-ket-qua-khao-sat-muc-song-dan-cu-2025/ (truy cập ngày 13/9/2026).
[17] Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc (2026). "居民收支稳步增长 人民生活持续改善-"十四五"经济社会发展成就系列报告之十五 [Thu, chi của dân cư tăng ổn định, đời sống tiếp tục được cải thiện - Báo cáo thành tựu kinh tế - xã hội thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ 14, số 15]", ngày 5/6/2026. Vị trí sử dụng: mục II.1 về tỷ số thu nhập thành thị/nông thôn. https://www.stats.gov.cn/sj/sjjd/202606/t20260604_1963891.html (truy cập ngày 13/9/2026).
[18] Cục Thống kê và Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025). Kết quả Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê. https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2026/06/Ket-qua-Dieu-tra-thu-thap-thong-tin-ve-thuc-trang-kinh-te-xa-hoi-cua-53-dan-toc-thieu-so-nam-2024.pdf.pdf (truy cập ngày 13/9/2026).
[19] Cui, Z., Zhang, H., Chen, X. và cộng sự (2018). "Pursuing sustainable productivity with millions of smallholder farmers". Nature, 555, tr. 363-366. DOI: 10.1038/nature25785. Các dữ kiện trích từ phần Tóm tắt (Abstract) trên trang nhà xuất bản. https://www.nature.com/articles/nature25785 (truy cập ngày 13/9/2026).
[20] FAO (2014). Developing Sustainable Food Value Chains: Guiding Principles. Rome: Food and Agriculture Organization of the United Nations. ISBN: 978-92-5-108481-6. https://www.fao.org/4/i3953e/i3953e.pdf (truy cập ngày 11/9/2026).
[21] Hoài Thu (2026). "Nông dân phải thành nông dân số, công nhân phải làm chủ công nghệ". Dân trí, ngày 30/7/2026. https://dantri.com.vn/thoi-su/nong-dan-phai-thanh-nong-dan-so-cong-nhan-phai-lam-chu-cong-nghe-20260730200904387.htm (truy cập ngày 11/9/2026).
[22] Ministry of Agriculture, Fisheries, Food Security and Nature of the Netherlands (2026). Jaarverslag van het Ministerie van Landbouw, Visserij, Voedselzekerheid en Natuur (XIV) en Diergezondheidsfonds (F) 2025 [Báo cáo thường niên năm 2025 của Bộ Nông nghiệp, Thủy sản, An ninh lương thực và Thiên nhiên và Quỹ Sức khỏe động vật]. The Hague. Ngày 20/5/2026. https://www.rijksoverheid.nl/site/binaries/site-content/collections/documents/2026/05/20/landbouw-visserij-voedselzekerheid-en-natuur-en-diergezondheidsfonds-2025/jaarverslag-ministerie-van-landbouw-visserij-voedselzekerheid-en-natuur-en-diergezondheidsfonds-2025.pdf (truy cập ngày 13/9/2026).
[23] Ministry of Agriculture, Forestry and Fisheries of Japan, Chugoku-Shikoku Regional Agricultural Administration Office (không ghi năm). "農山漁村の6次産業化 [Phát triển kết hợp sản xuất, chế biến và dịch vụ ở nông thôn, miền núi, làng chài]". https://www.maff.go.jp/chushi/sesaku/sixth/ (truy cập ngày 11/9/2026).
[24] Ministry of Agriculture, Forestry and Fisheries of Japan (2025). Key Points of the New Basic Plan for Food, Agriculture, and Rural Areas. Tokyo: MAFF. Trực tuyến (truy cập ngày 11/9/2026).
[25] Ministry of Agriculture, Forestry and Fisheries of Japan (2025). 六次産業化・地産地消法に基づく認定事業者に対するフォローアップ調査結果(令和6年度) [Kết quả khảo sát theo dõi các chủ thể được công nhận theo Luật Công nghiệp hóa lần thứ sáu và tiêu dùng tại địa phương, năm tài khóa 2024]. Tokyo: Rural Development Bureau, Urban-Rural Exchange Division, ngày 25/6/2025. Vị trí sử dụng: mục II.1: Kết quả khảo sát. https://www.maff.go.jp/j/nousin/inobe/6jika/attach/pdf/index-4.pdf (truy cập ngày 13/9/2026).
[26] OECD (2020). Rural Well-being: Geography of Opportunities. OECD Rural Studies. Paris: OECD Publishing. DOI: 10.1787/d25cef80-en. https://www.oecd.org/en/publications/rural-well-being_d25cef80-en.html (truy cập ngày 11/9/2026).
[27] OECD (2022). Adapting Regional Policy in Korea: Preparing Regions for Demographic Change. OECD Rural Studies. Paris: OECD Publishing. DOI: 10.1787/6108b2a1-en. https://www.oecd.org/en/publications/adapting-regional-policy-in-korea_6108b2a1-en.html (truy cập ngày 11/9/2026).
[28] OECD (2023). Policies for the Future of Farming and Food in the Netherlands. OECD Agriculture and Food Policy Reviews. Paris: OECD Publishing. DOI: 10.1787/bb16dea4-en. https://www.oecd.org/en/publications/policies-for-the-future-of-farming-and-food-in-the-netherlands_bb16dea4-en.html (truy cập ngày 11/9/2026).
[29] Thu Hà (2025). "Tổng Bí thư Tô Lâm: Nông dân xuất sắc, nhà khoa học là những ngọn đuốc lan tỏa tinh thần đổi mới, khát vọng làm giàu". Dân Việt, ngày 14/10/2025. https://danviet.vn/tong-bi-thu-to-lam-nong-dan-xuat-sac-nha-khoa-hoc-la-nhung-ngon-duoc-lan-toa-tinh-than-doi-moi-khat-vong-lam-giau-d1370392.html (truy cập ngày 11/9/2026).
[30] Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện (2025). "乡村全面振兴规划(2024-2027年) [Quy hoạch chấn hưng nông thôn toàn diện giai đoạn 2024-2027]", công bố ngày 22/1/2025; đăng trên cổng Bộ Sinh thái và Môi trường ngày 23/1/2025. Vị trí sử dụng: mục I, II và XI. https://www.mee.gov.cn/zcwj/zyygwj/202501/t20250123_1101185.shtml (truy cập ngày 13/9/2026).
[31] Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện (2026). "中共中央 国务院关于锚定农业农村现代化 扎实推进乡村全面振兴的意见 [Ý kiến về bám sát mục tiêu hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy vững chắc chấn hưng nông thôn toàn diện]", đề ngày 3/1/2026, công bố ngày 3/2/2026 (Văn kiện Trung ương số 1 năm 2026). Vị trí sử dụng: khoản (12) và (21). https://www.miit.gov.cn/xwfb/szyw/art/2026/art_0a88f403f18248909759917cef069a7b.html (truy cập ngày 13/9/2026).
[32] United Nations Environment Programme - UNEP (2018). "Green is gold: China's remarkable revival project", ngày 26/9/2018. Vị trí sử dụng: mục "River chiefs: working together to reverse environmental destruction". https://www.unep.org/news-and-stories/story/green-gold-chinas-remarkable-revival-project (truy cập ngày 13/9/2026).











