Thành phố Hồ Chí Minh và bài toán tăng trưởng hai con số: Động lực từ thể chế, hạ tầng và kinh tế số

Diệu Phan
Diệu Phan phandieu.mtg@gmail.com
Thứ Ba, 07/04/2026 - 06:00


Thành phố Hồ Chí Minh và bài toán tăng trưởng hai con số: Động lực từ thể chế, hạ tầng và kinh tế số- Ảnh 1.

Ông Nguyễn Văn Được - Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh

Theo Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, hiện nay, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang diễn biến với nhiều biến số khó lường, tác động lên diễn biến năng lượng đang ảnh hưởng đến các động lực tăng trưởng kinh tế của thành phố.

Đứng ở góc độ tổng cầu, đối với hoạt động xuất nhập khẩu, đối mặt với áp lực gia tăng chi phí và đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí logistics tăng vọt, kinh tế Mỹ và EU có dấu hiệu đình trệ do giá năng lượng cao, dẫn đến việc người tiêu dùng tại các thị trường này thắt chặt chi tiêu ảnh hưởng đến tiêu cực đến kim ngạch xuất khẩu của TP.HCM. Đối với đầu tư công, giá vật liệu sẽ có xu hướng tăng, điều này dẫn đến tình trạng các nhà thầu e ngại thi công, thách thức giải ngân đầu tư công. Đầu tư nước ngoài (FDI) có thể chậm lại do bất ổn địa chính trị. Đối với tiêu dùng nội địa, giá nhiên liệu tăng tác động đến chỉ số giá tiêu dùng có chiều hướng tăng cao. Điều này sẽ ảnh hưởng đến kéo giảm tiêu dùng nội địa của người dân. Người tiêu dùng có xu hướng cắt giảm chi tiêu không thiết yếu, hạn chế mua sắm, tiêu dùng các dịch vụ.

Đứng ở góc độ tổng cung, đối với khu vực công nghiệp, chi phí logistics tăng ảnh hưởng đến dẫn đến giá thành phẩm cao hơn và cạnh tranh giảm. Các ngành sản xuất đối mặt với chi phí đầu vào tăng cao. Các doanh nghiệp sản xuất sẽ gặp khó khăn do giá thành sản phẩm tăng, giảm khả năng cạnh tranh. Đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ, doanh thu ngành du lịch có nguy cơ sụt giảm do lượng khách quốc tế đến TP.HCM từ khu vực Trung Đông và các nước khác lo ngại về an ninh hàng không, gây thất thu cho ngành dịch vụ - khách sạn. Thị trường chứng khoán biến động mạnh theo chiều hướng giảm, thị trường bất động sản sẽ có chiều hướng chậm lại do áp lực từ lãi suất tăng.

Tóm lại, nếu xung đột không sớm được kiểm soát và tiếp tục lan rộng, các động lực tăng trưởng của Việt Nam sẽ chịu tác động tiêu cực, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến triển vọng tăng trưởng kinh tế trong năm 2026, tới mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Chính phủ đã đề ra.

Với phân tích tình hình kinh tế toàn cầu và động lực tăng trưởng kinh tế của TP.HCM, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM cho rằng, mức thuế quan Hoa Kỳ 15% sẽ tạo cơ hội phục hồi mạnh hơn dự kiến cho TP.HCM trong ngắn hạn, nhưng đòi hỏi chủ động đa dạng thị trường, nâng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển kinh tế xanh - số và theo dõi sát đàm phán Việt Nam – Hoa Kỳ. Tuy nhiên, căng thẳng địa chính trị Trung Đông diễn biến khó đoán định sẽ ảnh hưởng khá lớn đến các động lực tăng trưởng kinh tế.

"Với đà kinh tế đầu năm 2026 tích cực và sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo, Thành phố sẽ có thể duy trì đà tăng trưởng kinh tế; đặc biệt trong quý 1 và quý 2/2026 có thể tận dụng mức thuế quan thấp hơn từ Hoa Kỳ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; đồng thời phải chủ động ứng phó với những tác động tiêu cực từ diễn biến giá dầu và diễn biến địa chính trị trên thế giới nhằm phát huy các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy động lực tăng trưởng mới. TP.HCM có độ mở nền kinh tế lớn vì vậy sẽ phụ thuộc khá nhiều vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế cả nước cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế TP.HCM", Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM đánh giá.

Thành phố Hồ Chí Minh và bài toán tăng trưởng hai con số: Động lực từ thể chế, hạ tầng và kinh tế số- Ảnh 5.
Thành phố Hồ Chí Minh và bài toán tăng trưởng hai con số: Động lực từ thể chế, hạ tầng và kinh tế số- Ảnh 6.
Thành phố Hồ Chí Minh và bài toán tăng trưởng hai con số: Động lực từ thể chế, hạ tầng và kinh tế số- Ảnh 7.


Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh tính toán, để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026 trên 10%, tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 phải đạt ít nhất 10,3%. Vì vậy, tương ứng với dự báo tăng trưởng kinh tế quý 1/2026 như trên, kịch bản tăng trưởng kinh tế TP.HCM quý 2/2026 cụ thể:

Kịch bản cơ sở được đặt trong bối cảnh chiến sự leo thang và kéo dài, dự báo tăng trưởng GRDP quý 1/2026 của Thành phố trong khoảng 7,08% – 7,98% (dự báo điểm 7,53%), tăng trưởng GRDP quý 2/2026 của Thành phố phải đạt trong khoảng 12,62% - 13,52% (dự báo điểm là 13,07%).

Kịch bản chuyển tiếp được đặt trong bối cảnh chiến sự xảy ra trong thời gian ngắn, dự báo tăng trưởng GRDP quý 1/2026 của TP.HCM trong khoảng 8,08% - 9,04% (dự báo điểm 8,56%), tăng trưởng GRDP quý 2/2026 của thành phố phải đạt trong khoảng 11,59% - 12,49% (dự báo điểm là 12,04%).

Kịch bản mục tiêu được đặt trong bối cảnh chiến sự được hạ nhiệt nhanh, dự báo tăng trưởng GRDP quý 1/2026 của TP.HCM trong khoảng 9,19% - 10,28% (dự báo điểm 9,74%), tăng trưởng GRDP quý 2/2026 của Thành phố phải đạt trong khoảng 10,41% - 11,31% (dự báo điểm là 10,86%).

Viện Nghiên cứu phát triển TP.Hồ Chí Minh
TP. Hồ Chí Minh là địa phương có độ mở kinh tế lớn, vì vậy tăng trưởng kinh tế của Thành phố chịu tác động đáng kể từ diễn biến của kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cả nước cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả tăng trưởng của Thành phố.

Để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM cũng đề xuất 6 giải pháp thúc đẩy kinh tế TP.HCM:

Thứ nhất, giải ngân đầu tư công quyết liệt. Thành phố tập trung các dự án trọng điểm quốc gia và địa phương (hạ tầng giao thông, logistics, khu công nghệ cao Bình Dương - Vũng Tàu sau sáp nhập). Đẩy nhanh tháo gỡ vướng mắc thủ tục, đất đai, giải phóng mặt bằng. Áp dụng cơ chế đặc thù (Nghị quyết 260 sửa đổi 98 cho TP.HCM) để rút ngắn thời gian phê duyệt.

Thứ hai, thúc đẩy sản xuất công nghiệp và xuất khẩu. Thành phố hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất quý I để tận dụng thuế quan Hoa Kỳ 15% tạm thời (trước khi có thể thay đổi sau 150 ngày); đa dạng hóa thị trường xuất khẩu (tăng cường EU, Nhật Bản, Hàn Quốc qua CPTPP, EVFTA, RCEP), đồng thời duy trì đà xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Tổ chức hội chợ xúc tiến thương mại ngay quý I. Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ minh bạch chuỗi cung ứng, chứng nhận xuất xứ (C/O) để tránh rủi ro chống lẩn tránh thuế.

Thứ ba, kích cầu tiêu dùng nội địa và dịch vụ. Triển khai chương trình kích cầu mạnh mẽ, tổ chức các sự kiện mua sắm, lễ hội lớn tại TP.HCM. Kích cầu du lịch, dịch vụ lưu trú - ăn uống. Hỗ trợ doanh nghiệp logistics, vận tải.

Thứ tư, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư tư nhân chất lượng cao. Tận dụng vị thế Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu; tập trung thu hút dự án công nghệ cao, AI, kinh tế số từ Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản. TP.HCM đẩy mạnh khu công nghệ cao Bình Dương cũ, cảng Vũng Tàu. Cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân (kinh tế số, khởi nghiệp).

Thứ năm, phát triển kinh tế số và đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh dữ liệu lớn, AI, chuyển đổi số trong sản xuất, dịch vụ, quản lý nhà nước, kinh tế dữ liệu làm trụ cột; hỗ trợ startup, nền tảng số, thương mại điện tử; đầu tư hạ tầng số (5G, đám mây) để nâng năng suất lao động.

Thứ sáu, giữ vững kinh tế ổn định và kiểm soát rủi ro. Kiểm soát chỉ số giá, hướng đến ổn định và thúc đẩy tiêu dùng nội địa; ổn định nguồn cung nhiên liệu: hạn chế xuất khẩu dầu thô; phối hợp PVN, EVN ưu tiên khí nội địa thay LNG nhập. Kích hoạt dự trữ chiến lược; tìm nguồn thay thế (có thể từ Nga, Mỹ, nhưng chi phí cao); giám sát giá, tránh thiếu hụt; kêu gọi người dân đồng hành tiết kiệm năng lượng; phối hợp doanh nghiệp (Petrolimex, PVN) đảm bảo cung ứng. Chống thất thu, chú trọng chi đầu tư phát triển hiệu quả; theo dõi sát thuế quan Hoa Kỳ, chuẩn bị kịch bản ứng phó nếu tăng trở lại.

Bàn về mục tiêu tăng trưởng 2 con số của TP.HCM, TS. Trần Du Lịch - Chủ tịch Hội đồng tư vấn triển khai Nghị quyết 98 của Quốc hội cho rằng, mục tiêu này thể hiện khát vọng và quyết tâm chính trị nhằm vượt qua "bẫy thu nhập trung bình", khi mà thời kỳ "dân số vàng" chỉ còn khoảng 3 kế hoạch 5 năm. Đây là cơ hội cuối cùng để Việt Nam nói chung và TP.HCM thoát cảnh "chưa giàu đã già", nên giai đoạn 10 năm 2026-2035 mang ý nghĩa quyết định đối với khát vọng trở thành nước phát triển cao vào năm 2045.

"Đối với TP.HCM, việc tăng trưởng kinh tế 2 con số còn có ý nghĩa thực hiện vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước và chứng minh sự thành công trong thực hiện các chính sách "đặc thù thí điểm" trong nhiều lĩnh vực, hướng đến mục tiêu: hình thành "siêu đô thị" văn minh, hiện đại; đô thị đáng sống; đô thị toàn cầu.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số, ổn định trong nhiều năm, bảo đảm sự hài hòa giữa 3 yếu tố: kinh tế; tiến bộ công bằng xã hội và môi trường đang là thách thức to lớn. Đó là mô hình tăng trưởng kinh tế - hạ tầng chiến lược và nguồn nhân lực chất lượng cao. Câu hỏi đặt ra là mục tiêu trên có khả thi không, chính là câu trả lời cho bài toán phát triển thành phố trong 20 năm tới", TS. Trần Du Lịch chia sẻ.

Xét về bối cảnh, TS. Trần Du Lịch cho biết, TP.HCM với diện tích hơn 6.772 km2, dân số khoảng 14 triệu người; có lợi thế đặc biệt trong giao thương quốc tế. TP.HCM đang đóng góp 23,5% GDP; 30% ngân sách cả nước. Tuy nhiên, với mô hình tăng trưởng truyền thống dựa chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư; công nghiệp gia công, lao động chi phí thấp, phát triển bất động sản... đang dần giảm hiệu quả. Hệ số ICOR cao; năng suất lao động tăng trưởng chậm; đóng góp của khoa học công nghệ vào TPF còn hạn chế. Nếu không chuyển đổi kịp thời, động lực tăng trưởng của thành phố suy yếu dần.

Do đó, chuyển đổi mô hình phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số không chỉ là xu hướng tất yếu, mà là yêu cầu mang tính chiến lược để thành phố duy trì vai trò đầu tàu và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế.

Chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số đang là cơ hội, nhưng cũng là thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa đang bị phân mảng, trong bối cảnh các vấn đề địa - chính trị thế giới diễn biến phức tạp, nên việc thu hút đầu tư FDI thế hệ mới đòi hỏi các quốc gia đang phát triển phải có lợi thế cạnh tranh vượt trội về thể chế và môi trường đầu tư và hệ sinh thái khởi nghiệp.

Cho đến nay, TP.HCM vẫn đang tập trung cho 4 nhóm ngành công nghiệp chủ lực và 9 nhóm ngành dịch vụ chủ yếu đang đòi hỏi phải chuyển đổi xanh và chuyển đổi số nhằm nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng trong cơ cấu giá trị và đáp ứng đòi hỏi của thị trường. Đây chính là thách thức trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Thành phố Hồ Chí Minh và bài toán tăng trưởng hai con số: Động lực từ thể chế, hạ tầng và kinh tế số- Ảnh 8.

Một góc Khu đô thị mới Thủ Thiêm

"Một đô thị có trình độ phát triển cao, một đô thị đáng sống... không chỉ đo bằng chỉ số về GRDP/người, mà còn nhiều yếu tố quan trọng khác, nhưng tăng trưởng kinh tế cao và ổn định vẫn là gốc của vấn đề trong bài toán phát triển.

Theo tôi, trọng tâm của quá trình chuyển đổi này không chỉ nằm ở công nghệ, mà trước hết là ở chính sách và thể chế. Cần nhận thức rằng, thành phố đang đứng trước thời cơ thuận lợi: 2 điểm nghẽn cố hữu là thể chế và hạ tầng giao thông đang được tháo gỡ một cách mạnh mẽ.

Về thể chế, việc mở rộng phân cấp phân quyền nâng cao tính tự chủ của thành phố trong quản lý phát triển theo tinh thần "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm" thể hiện qua các nghị quyết của Quốc hội như: Nghị quyết 260 sửa đổi bổ sung Nghị quyết 98; Nghị quyết 188 về phát triển đường sắt đô thị; Nghị quyết 222 về TTTCQT... Về hạ tầng giao thông kết nối vùng đang từng bước hoàn thiện cùng với tiến trình xây dựng hệ thống đường sắt đô thị, giải quyết cơ bản điểm nghẽn về giao thông trong vài năm tới; khai thông hệ thống logistics kết nối Vùng... Có thể nói thành phố đang đứng trước cơ hội để bứt phá tăng trưởng và thực hiện chủ trương chuyển đổi mô hình phát triển. Do đó, quan điểm cần đổi mới tư duy về chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo 3 điểm chính sau đây:

Thứ nhất, xây dựng niềm tin dài hạn. Hoàn thiện thể chế theo tinh thần Nghị quyết 57-BCT vào thực tiễn thành phố. Cần mạnh dạn thí điểm các cơ chế vượt trội theo tinh thần "sandbox chính sách" cho các lĩnh vực mới như Fintech, AI, kinh tế nền tảng; trung tâm tài chính quốc tế... Đồng thời cải cách thủ tục hành chính, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và môi trường pháp lý minh bạch để doanh nghiệp công nghệ yên tâm đầu tư dài hạn. Thể chế phải đi trước một bước, nếu không công nghệ sẽ bị trói buộc.

Thứ hai, tái cấu trúc không gian và ngành kinh tế theo hướng công nghệ cao. Thành phố cần ưu tiên phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao như bán dẫn, thiết kế chip, công nghệ sinh học, năng lượng sạch, logistics thông minh và dịch vụ tài chính. Các khu CNC, trung tâm R&D, vườn ươm khởi nghiệp phải thực sự trở thành hạt nhân của hệ sinh thái sáng tạo, gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước - doanh nghiệp - trường Đại học. Thu hút FDI thế hệ mới phải đặt mục tiêu chuyển giao công nghệ và nội địa hóa tri thức lên hàng đầu.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hạ tầng số. Đầu tư cho giáo dục STEM, kỹ năng số và chính quyền số phải được xem như hạ tầng thiết yếu tương đương điện, nước, giao thông. Mô hình đô thị thông minh phải được vận hành trên nền tảng dữ liệu mở, quản trị hiện đại và dịch vụ công trực tuyến toàn diện", TS. Trần Du Lịch chia sẻ.

TS. Trần Du Lịch cũng kiến nghị nhiều giải pháp để TP.HCM đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Một là, Trung ương đã trao quyền tự chủ về thể chế mạnh hơn cho chính quyền thành phố, theo tinh thần Nghị quyết 260 Quốc hội. Do đó, trước hết thành phố cần cụ thể bằng chính sách đối với các lĩnh vực như: thể chế hóa thí điểm "sandbox chính sách" đối với Fintech, kinh tế số, AI, TTTCQT, các mô hình kinh doanh mới. Thành phố có thể quyết định nhanh về đầu tư, đất đai, ngân sách khoa học công nghệ, thu hút nhân tài... mà không phải theo cơ chế "xin – cho" như trước đây, nhất là thu hút các nhà đầu tư chiến lược.

Hai là, tập trung phát triển mạng lưới hạ tầng giao thông như giao thông kết nối thuận lợi nhất với hệ thống cảng biển - cảng hàng không và hệ thống cảng cạn (ICD); hệ thống logistics cho Vùng và liên vùng. Đặt chỉ tiêu giảm chi phí logistics hằng năm; bảo đảm tiến độ và lộ trình hoàn thành mục tiêu xây dựng hệ thống đường sắt đô thị theo tinh thần NQ 188/2025/QH15 giai đoạn 2026-2035 và giai đoạn tiếp theo; hạ tầng số và chuyển đổi số.

Ba là, hình thành Quỹ đổi mới sáng tạo và đầu tư mạo hiểm quy mô lớn. Quỹ này hoạt động theo nguyên tắc thị trường, đồng đầu tư với khu vực tư nhân để hỗ trợ startup công nghệ; doanh nghiệp spin-off từ trường Đại học và các dự án R&D; Nhà nước đóng vai trò vốn mồi, kích hoạt vốn xã hội.

Bốn là, ưu tiên thu hút FDI thế hệ mới gắn với chuyển giao công nghệ. Thay tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư, từ "quy mô vốn" sang "hàm lượng công nghệ, R&D và giá trị gia tăng". Khuyến khích đặt trung tâm thiết kế chip, trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, thay vì chỉ gia công, đóng gói. Cần cơ chế yêu cầu liên kết với doanh nghiệp nội địa.

Trong quý 1/2026, nhiều chỉ số kinh tế TP.HCM đạt kết quả khởi sắc. GRDP tăng 8,27%, đây mức tăng cao nhất so với cùng kỳ kể từ năm 2020 đến nay. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,7%; thu hút 3,9 triệu lượt khách quốc tế và 15,4 triệu lượt khách nội địa; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11%; tổng thu ngân sách quý I đạt 242.799 tỷ đồng, tăng 17,5% và bằng 30,2% dự toán Trung ương giao; thu hút FDI đạt gần 2,9 tỷ USD, tăng 219% so với cùng kỳ. Trên địa bàn Thành phố có 12.545 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 47% so với cùng kỳ.

Năm là, triển khai tinh thần Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị về kinh tế nhà nước, thành phố tiến hành tổ chức lại lực lượng DNNN thuộc Thành phố, để dồn nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng số và dữ liệu như một loại hạ tầng chiến lược. Đầu tư đồng bộ trung tâm dữ liệu lớn, điện toán đám mây, 5G/6G, nền tảng dữ liệu mở và chính quyền số. Dữ liệu công phải được chia sẻ để doanh nghiệp phát triển các dịch vụ sáng tạo. Cắt giảm tối đa thủ tục giấy tờ, chuyển sang 100% dịch vụ công trực tuyến.

Sáu là, cải cách mạnh mẽ giáo dục và thị trường lao động chất lượng cao. Tập trung đào tạo STEM, bán dẫn, AI, tự động hóa, công nghệ sinh học. Tăng liên kết giữa doanh nghiệp - đại học - viện nghiên cứu. Xây dựng cơ chế thu hút chuyên gia quốc tế, Việt kiều, nhân tài trong nước bằng chính sách đãi ngộ cạnh tranh và môi trường làm việc thuận lợi.

Bảy là, tái cấu trúc không gian phát triển đô thị theo mô hình "đô thị sáng tạo". Hình thành các cụm đổi mới sáng tạo ở thành phố Thủ Đức (cũ), khu công nghệ cao; các trung tâm tài chính - thương mại - logistics thông minh; kết nối cảng biển, cảng hàng không - khu thương mại tự do (FTZ). Quy hoạch phải gắn chặt với giao thông, nhà ở, nơi làm việc và hệ sinh thái khởi nghiệp.

Tám là, thúc đẩy chuyển đổi xanh song hành với chuyển đổi số. Khuyến khích công nghiệp sạch, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn và giao thông điện hóa. TP.HCM phải là đô thị thông minh, xanh và bền vững, tạo nền tảng cho lợi thế cạnh tranh mới trong thu hút đầu tư toàn cầu.

Đối với TP.HCM, việc tăng trưởng kinh tế 2 con số còn có ý nghĩa thực hiện vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước và chứng minh sự thành công trong thực hiện các chính sách “đặc thù thí điểm” trong nhiều lĩnh vực, hướng đến mục tiêu hình thành “ siêu đô thị” văn minh, hiện đại; đô thị đáng sống.

Chín là, bên cạnh chính sách hỗ trợ cho startup trong lĩnh vực công nghệ cao, cần chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và hộ sản xuất kinh doanh chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, thích ứng với xu hướng phát triển, giảm thiểu quá trình sàng lọc doanh nghiệp thái quá gây ra các hệ quả xã hội.

Mười là, chuyển đổi mô hình phát triển lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực phát triển đòi hỏi tính đồng bộ và hệ thống trong chính sách và giải pháp thực thi, nên cần thiết phải xây dựng thành "Chương trình chuyển đổi mô hình phát triển mới", với hệ thống quan điểm và chính sách đồng bộ. Những nội dung này sẽ tích hợp vào Quy hoạch tổng thể thành phố giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 đang tiến hành thực hiện.

Tóm lại, với khát vọng đưa Việt Nam thành quốc gia phát triển, thu nhập cao trong vòng 20 năm tới, dựa vào tốc độ tăng GDP hằng năm 2 con số trong vài thập niên thì Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò động lực tăng trưởng của cả nước, đòi hỏi phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ "mô hình tăng trưởng nhờ vốn" sang "mô hình tăng trưởng nhờ tri thức", nâng cao đóng góp của năng suất và đổi mới sáng tạo, từng bước trở thành trung tâm công nghệ - tài chính - khởi nghiệp của Đông Nam Á.

Dưới góc nhìn từ mô hình tăng trưởng nội sinh, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn - Trường Đại học Fulbright Việt Nam nói rằng, năm 2025, GRDP của TP.HCM tăng 7,53% nếu tính cả dầu khí và đạt 8,03% khi loại trừ yếu tố này. Kết quả trên phản ánh động lực tăng trưởng của kinh tế thành phố vẫn được duy trì ở mức tích cực. Tuy nhiên, con số này cũng cho thấy, khoảng cách đáng kể so với mục tiêu tăng trưởng hai con số mà thành phố đặt ra cho năm 2026 và định hướng trong thập niên tới.

Đối với một đô thị lớn như TP.HCM với cơ cấu kinh tế ngày càng dựa nhiều vào dịch vụ tri thức, công nghiệp công nghệ cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, cách tiếp cận tăng trưởng nội sinh đặc biệt có ý nghĩa, cho phép nhìn nhận tăng trưởng không chỉ là kết quả của tích lũy vốn và mở rộng sản xuất mà còn là sản phẩm của quá trình tích lũy tri thức, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và gia tăng hiệu quả sản xuất.

Từ góc độ chính sách, điều này hàm ý rằng chiến lược tăng trưởng của TP.HCM cần tập trung nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo, phát triển vốn con người, kinh tế số và cải thiện chất lượng thể chế. Đây mới chính là những nguồn động lực tăng trưởng cao và bền bỉ cho TP.HCM trong tương lai.

Từ góc nhìn của mô hình tăng trưởng nội sinh và kịch bản hạch toán tăng trưởng đã xây dựng, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn nói rằng, mục tiêu tăng trưởng GRDP khoảng 10% của TP.HCM trong năm 2026 phụ thuộc chủ yếu vào khả năng kích hoạt nhanh các động lực tăng trưởng trong ngắn hạn, đồng thời tạo điều kiện để nâng cao năng suất của nền kinh tế.

Trong điều kiện thời gian thực hiện chính sách tương đối ngắn, đề bài đặt ra không thể là thiết kế các chiến lược dài hạn mà là triển khai hiệu quả các giải pháp có thể tạo ra tác động ngay đến đầu tư, sản xuất, tiêu dùng của nền kinh tế thành phố. Trước hết, cần ưu tiên nhân lực, vật lực và tài lực để đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm. Song song với đó, thành phố cần triển khai chương trình tháo gỡ các dự án đầu tư và bất động sản đang bị đình trệ.

Một nhóm chính sách quan trọng khác là kích thích tiêu dùng và phát triển các ngành dịch vụ đô thị. Trong lĩnh vực sản xuất, cần triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ.

Bên cạnh đó, thúc đẩy hoạt động vận tải và logistics là một giải pháp có tác động nhanh đến năng suất của nền kinh tế. Một yếu tố quan trọng khác là cải thiện nhanh môi trường kinh doanh và thủ tục hành chính. Cuối cùng, cần chú trọng các chương trình nâng cao kỹ năng lao động và kết nối thị trường lao động.

Để đạt tăng trưởng hai con số, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn cho rằng, TP.HCM cần kết hợp nhiều nguồn lực: vốn tư nhân, FDI, vốn công, nâng cao chất lượng lao động và cải thiện TFP, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo, năng lực hấp thụ công nghệ và phân bổ nguồn lực hiệu quả.

Trước hết, về tích lũy vốn và môi trường đầu tư, TP.HCM cần tiếp tục củng cố và phát huy hơn nữa vai trò của khu vực kinh tế tư nhân như là "một động lực tăng trưởng quan trọng nhất" mà Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị đã xác định. Trong mô hình tăng trưởng nội sinh, đầu tư tư nhân không chỉ làm tăng vốn vật chất mà còn thúc đẩy quá trình học hỏi công nghệ, đổi mới sản phẩm và nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất. Điều này đòi hỏi thành phố phải cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, đặc biệt là giảm chi phí gia nhập thị trường, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án, minh bạch hóa quy hoạch và bảo đảm tính ổn định của chính sách.

Thứ hai, về vai trò của đầu tư công, lý thuyết tăng trưởng nội sinh nhấn mạnh rằng một số loại vốn đầu tư công có thể trực tiếp làm tăng năng suất của khu vực tư nhân. Đối với TP.HCM, các khoản đầu tư vào hạ tầng giao thông, vận tải, hạ tầng số và dữ liệu có thể làm giảm chi phí giao dịch và mở rộng khả năng kết nối của nền kinh tế. Vì vậy, thay vì phân tán nguồn lực cho nhiều dự án nhỏ, chiến lược đầu tư công nên tập trung vào các dự án có hiệu ứng mạng lưới (network effects) lớn, như kết nối cảng biển, sân bay, khu công nghiệp, phát triển hệ thống giao thông công cộng đô thị, các tuyến metro, xây dựng nền tảng dữ liệu số cho quản trị đô thị và dịch vụ công. Những khoản đầu tư này không chỉ đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng mà còn nâng cao năng suất tổng thể của nền kinh tế thông qua việc cải thiện môi trường sản xuất và kinh doanh.

Thứ ba, phát triển vốn con người là điều kiện trung tâm của tăng trưởng nội sinh. Đối với một nền kinh tế có quy mô dân số và thị trường lao động lớn như TP.HCM, việc gia tăng số lượng lao động chỉ đóng góp hạn chế vào tăng trưởng. Động lực quan trọng hơn nằm ở việc nâng cao chất lượng lao động và dịch chuyển lao động sang các ngành có năng suất cao hơn. Do đó, chính sách giáo dục và đào tạo cần chuyển sang mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của thị trường lao động trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin, logistics, kỹ thuật công nghiệp, tài chính...

Thành phố Hồ Chí Minh và bài toán tăng trưởng hai con số: Động lực từ thể chế, hạ tầng và kinh tế số- Ảnh 9.
Thành phố Hồ Chí Minh và bài toán tăng trưởng hai con số: Động lực từ thể chế, hạ tầng và kinh tế số- Ảnh 10.
Thành phố Hồ Chí Minh và bài toán tăng trưởng hai con số: Động lực từ thể chế, hạ tầng và kinh tế số- Ảnh 11.
Thành phố Hồ Chí Minh và bài toán tăng trưởng hai con số: Động lực từ thể chế, hạ tầng và kinh tế số- Ảnh 12.

Thứ tư, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái công nghệ, khởi nghiệp cần trở thành trụ cột của chiến lược tăng trưởng mới. Trong các mô hình tăng trưởng nội sinh, đầu tư vào R&D tạo ra tri thức mới, làm tăng năng suất không chỉ cho doanh nghiệp đầu tư mà còn cho toàn bộ nền kinh tế thông qua hiệu ứng lan tỏa tri thức. Đối với TP.HCM, điều này đòi hỏi phải xây dựng được một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp hoàn chỉnh, bao gồm phát huy vai trò của các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm và các trung tâm khởi nghiệp. Thành phố cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp tham gia mạnh mẽ hơn vào hoạt động R&D, đồng thời thúc đẩy hợp tác hiệu quả, thực chất giữa khu vực học thuật và khu vực sản xuất nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.

Thứ năm, phát triển kinh tế số và chuyển đổi số có thể trở thành nguồn tăng trưởng năng suất quan trọng. Trong nền kinh tế số, việc ứng dụng công nghệ thông tin và dữ liệu lớn có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí giao dịch, cải thiện hiệu quả quản trị và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường. Đối với TP.HCM, việc xây dựng hạ tầng số dùng chung, phát triển chính quyền số và thúc đẩy thanh toán số có thể tạo ra những cải thiện đáng kể về hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Nếu các doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng chia sẻ dữ liệu và sử dụng các nền tảng số, quá trình ra quyết định sẽ nhanh hơn và chi phí phối hợp giữa các tác nhân kinh tế sẽ giảm đáng kể.

Cuối cùng, tăng trưởng bền vững đòi hỏi phải gắn kết giữa phát triển kinh tế với năng lực quản trị đô thị. Một thành phố có quy mô kinh tế lớn và phức tạp như TP.HCM đang phải đối mặt với nhiều thách thức về ô nhiễm môi trường, ngập nước, tắc nghẽn giao thông, thiếu liên kết không gian kinh tế - đô thị... Nếu những vấn đề này không được giải quyết hiệu quả, nó có thể làm giảm năng suất của nền kinh tế. Vì vậy, chiến lược tăng trưởng cần gắn với quy hoạch lại đô thị một cách năng suất, bền vững và đáng sống, đầu tư mạnh mẽ cho giao thông công cộng, sắp xếp lại không gian đô thị, mở rộng không gian xanh và nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ đô thị.

Tóm lại, con đường đạt được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững không đơn giản chỉ là mở rộng các yếu tố đầu vào mà chìa khóa chính là nâng cao năng suất của nền kinh tế thông qua cải cách thể chế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng then chốt, phát triển vốn con người, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nếu tìm được "chất keo" kết dính các yếu tố này một cách hiệu quả, TP.HCM không chỉ đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số mà còn kiến tạo được nền tảng cho sự phát triển bền bỉ trong dài hạn.

Theo PGS.TS Trần Hoàng Ngân - Chủ tịch Hội đồng tư vấn đột phá phát triển Trường Đại học Sài Gòn, năm 2026 được xem là năm "bản lề" với mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10%. Theo định hướng đến năm 2030, TP.HCM hướng tới lọt vào top 100 thành phố toàn cầu, thuộc nhóm thu nhập cao. Hiện thành phố xếp hạng 286/1000, nguồn nhân lực xếp hạng 177/1000, thuộc nhóm "Emerging Standouts", chỉ sau Bengaluru (Ấn Độ).

Năm 2026 cũng là năm của các đại công trình trọng điểm như Vành đai 3, Vành đai 4, cao tốc TP.HCM – Mộc Bài, TP.HCM – Long Thành, cùng các dự án giao thông, cảng biển và sân bay. Thành phố sẽ vận hành các tuyến metro hiện có, đồng thời đẩy nhanh các tuyến mới để tái cấu trúc không gian đô thị. Để đảm bảo nguồn lực, thành phố đặt mục tiêu giải ngân đầu tư công đạt hiệu quả cao, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa, thu hút đầu tư tư nhân và tối ưu hóa việc sử dụng đất công, tài sản công cho các lĩnh vực y tế, giáo dục và hạ tầng đô thị.

PGS.TS Trần Hoàng Ngân cho rằng, hạ tầng là "khung xương" của tăng trưởng, với năm 2026 được xem là đại công trường. Cơ chế đặc thù từ Nghị quyết 98 và 260 là "chìa khóa vàng" mở ra không gian phát triển. Trên nền tảng đó, kinh tế số trở thành động lực quan trọng để TP.HCM hướng tới mục tiêu vào top 100 toàn cầu. 

Để ứng phó với các biến động kinh tế và hướng tới mục tiêu tăng trưởng bền vững, PGS.TS Trần Hoàng Ngân nói rằng, TP.HCM cần triển khai đồng bộ cả nhóm giải pháp ngắn hạn và dài hạn.

Về ngắn hạn, mục tiêu là ngăn chặn hiệu ứng "domino" tăng giá và bảo vệ nhóm đối tượng yếu thế. Trước hết, cần tập trung ổn định giá xăng dầu thông qua việc sử dụng linh hoạt chính sách tài khóa như miễn, giảm thuế phí, đồng thời đa dạng hóa nguồn cung và tăng cường kiểm soát tình trạng buôn lậu qua biên giới. Song song đó, công tác kiểm soát giá và chống đầu cơ cần được đẩy mạnh, thông qua tăng cường quản lý thị trường và phối hợp với các doanh nghiệp đầu mối như Petrolimex Sài Gòn nhằm đảm bảo nguồn cung liên tục, ổn định.

Về an sinh xã hội, thành phố cần triển khai các giải pháp hỗ trợ thiết thực như trợ giá vận tải công cộng, bình ổn giá lương thực thực phẩm, đồng thời điều chỉnh tăng mức lương cơ sở, lương hưu và các khoản trợ cấp xã hội. Bên cạnh đó, việc tiết kiệm năng lượng cũng cần được thúc đẩy, với mục tiêu cắt giảm từ 10–15% chi phí năng lượng công cộng, đồng thời khuyến khích người dân sử dụng metro, xe buýt, xe đạp và các hình thức làm việc từ xa.

Thành phố Hồ Chí Minh và bài toán tăng trưởng hai con số: Động lực từ thể chế, hạ tầng và kinh tế số- Ảnh 13.

Phối cảnh Trung tâm tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM

Về dài hạn, mục tiêu là xây dựng nền kinh tế đô thị ít phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Hạ tầng giao thông xanh là giải pháp hàng đầu, với kế hoạch đẩy nhanh xây dựng các tuyến metro, xe buýt điện và đường riêng xe đạp. Thành phố sẽ áp dụng cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 98/260 khoản 13 điều 6, hỗ trợ chuyển đổi xe máy điện, khuyến khích vận tải thủy và phát triển hệ thống đường sắt đô thị. Bên cạnh đó, thành phố sẽ thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo bằng cách lắp đặt điện mặt trời trên mái nhà và khu công nghiệp theo mô hình "tự sản tự tiêu", kết hợp khai thác năng lượng áp mái và gió.

Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo cũng được đặt vào vị trí trọng điểm, với việc áp dụng hệ thống dự báo nhu cầu năng lượng bằng AI, hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu vận chuyển và phổ biến hình thức làm việc từ xa cho người lao động. Với trụ cột tăng trưởng kinh tế, chi phí logistics tăng cao đang làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp, do đó giải pháp then chốt là trợ giá vận tải và giảm phí sử dụng hạ tầng.

Đối với an sinh xã hội, lạm phát đang đẩy giá thực phẩm và bào mòn thu nhập gia đình, thành phố sẽ triển khai gói hỗ trợ tài chính trực tiếp cho đối tượng khó khăn. Đối với kiểm soát giá thị trường, tâm lý kỳ vọng lạm phát đã dẫn đến hành vi đầu cơ và tích trữ hàng hóa, do đó thành phố sẽ tăng cường truyền thông minh bạch và xử phạt nghiêm ngặt các trường hợp đầu cơ, buôn lậu.

Tóm lại, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động và các động lực tăng trưởng truyền thống dần suy yếu, TP.HCM đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải tái định hình mô hình tăng trưởng theo hướng dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất. Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là áp lực trước mắt mà còn là bài toán chiến lược dài hạn, gắn với khát vọng đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình và vươn lên nhóm quốc gia phát triển.

Trong tiến trình đó, những cú sốc từ môi trường bên ngoài, từ biến động năng lượng đến bất ổn địa chính trị vừa là thách thức, vừa là phép thử năng lực thích ứng của nền kinh tế đô thị lớn nhất cả nước. Điều quan trọng không chỉ nằm ở việc duy trì tốc độ tăng trưởng, mà là nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm tính bền vững và khả năng chống chịu trước các biến động. Với vai trò đầu tàu, Thành phố cần đi đầu trong cải cách thể chế, phát triển hạ tầng chiến lược, thúc đẩy kinh tế số và hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Chỉ khi chuyển đổi thành công từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn sang mô hình dựa vào tri thức và năng suất, Thành phố Hồ Chí Minh mới có thể tạo ra bước bứt phá thực sự, tiếp tục dẫn dắt nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển cao hơn trong những thập niên tới./.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top