Aa

TS. Huỳnh Thanh Điền: Nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay dài hạn là bước đi cần thiết để khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế

Hà Thương (Thực hiện)
Hà Thương (Thực hiện) ngthuongreatimes@gmail.com
Thứ Tư, 24/06/2026 - 06:05

Việc Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn trở lại mức 40% sau nhiều năm siết dần đang phát đi tín hiệu mới về ưu tiên điều hành. Theo TS. Huỳnh Thanh Điền, đây là sự điều chỉnh cần thiết trong bối cảnh nền kinh tế cần thêm dư địa vốn để thúc đẩy đầu tư, phát triển hạ tầng và hỗ trợ tăng trưởng.

Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Điểm đáng chú ý nhất của Thông tư là việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ mức 30% hiện hành lên 40%.

Trước đó, Ngân hàng Nhà nước nhiều lần điều chỉnh giảm tỷ lệ này nhằm kiểm soát rủi ro chênh lệch kỳ hạn trong hệ thống ngân hàng. Cụ thể, từ mức 40%, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được giảm xuống 37%, sau đó còn 34% và chính thức áp dụng mức 30% kể từ ngày 1/10/2023. Với quy định mới, tỷ lệ này quay trở lại mức 40%, tương đương giai đoạn 2020-2021.

Trao đổi với Reatimes, chuyên gia kinh tế, TS. Huỳnh Thanh Điền, cho rằng đây là một quyết định mang tính điều chỉnh chính sách đáng chú ý, phản ánh sự thay đổi trong ưu tiên điều hành của cơ quan quản lý, từ mục tiêu đảm bảo an toàn hệ thống sang hài hòa hơn giữa an toàn và yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Nới trần để khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế

- Thông tư 25/2026/TT-NHNN đánh dấu sự thay đổi đáng chú ý khi Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ lệ tối đa sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, sau nhiều năm kiên trì lộ trình siết dần tỷ lệ này. Theo ông, điều gì khiến cơ quan quản lý quyết định đảo chiều chính sách ở thời điểm hiện nay?

TS. Huỳnh Thanh Điền: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến quyết định này, nhưng quan trọng nhất là bối cảnh kinh tế hiện nay đã khác rất nhiều so với giai đoạn trước.

Trước đây, hệ thống ngân hàng Việt Nam từng tồn tại không ít bất cập về năng lực tài chính và quản trị rủi ro. Khi đó, việc sử dụng quá nhiều vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn có thể tạo ra rủi ro mất cân đối kỳ hạn, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã từng bước siết tỷ lệ này nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống và bảo vệ tiền gửi của người dân.

Tuy nhiên, hiện nay nền kinh tế đang đứng trước yêu cầu phát triển mới. Việt Nam đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm tới, hướng tới mức tăng trưởng hai con số. Muốn đạt được mục tiêu đó, nhu cầu đầu tư cho hạ tầng giao thông, hạ tầng số, năng lượng, nhà ở, đô thị và sản xuất kinh doanh là rất lớn. Đây đều là những lĩnh vực cần nguồn vốn trung và dài hạn.

Trong khi đó, thị trường vốn của Việt Nam vẫn chưa phát triển tương xứng với nhu cầu của nền kinh tế. Kênh huy động vốn qua cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp chưa thực sự trở thành nguồn cung vốn dài hạn chủ lực. Vì vậy, gánh nặng cung ứng vốn vẫn chủ yếu đặt lên vai hệ thống ngân hàng.

Nếu tiếp tục duy trì trần 30%, nhiều ngân hàng sẽ không còn nhiều dư địa để mở rộng tín dụng trung và dài hạn. Điều đó có thể khiến nhiều dự án đầu tư quan trọng gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn, ảnh hưởng tới mục tiêu tăng trưởng chung.
TS. Huỳnh Thanh Điền

Nếu tiếp tục duy trì trần 30%, nhiều ngân hàng sẽ không còn nhiều dư địa để mở rộng tín dụng trung và dài hạn. Điều đó có thể khiến nhiều dự án đầu tư quan trọng gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn, ảnh hưởng tới mục tiêu tăng trưởng chung.

Một yếu tố khác cũng rất đáng lưu ý là năng lực quản trị của hệ thống ngân hàng hiện nay đã được cải thiện đáng kể. Quá trình tái cơ cấu nhiều năm qua đã giúp xử lý phần lớn các tổ chức tín dụng yếu kém, nâng cao chuẩn mực quản trị và kiểm soát rủi ro. Vì vậy, cơ quan quản lý có cơ sở để mạnh dạn nới lỏng một phần các giới hạn mang tính phòng ngừa trước đây.

Có thể hiểu rằng, đây là sự điều chỉnh nhằm tạo thêm dư địa cho tín dụng phục vụ tăng trưởng, nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát của hệ thống ngân hàng.

- Như ông phân tích, mục tiêu của việc nới tỷ lệ là tạo thêm dư địa cho dòng vốn trung và dài hạn phục vụ nền kinh tế. Vậy từ góc độ hoạt động ngân hàng, quy định mới sẽ tác động như thế nào đến khả năng cung ứng tín dụng của hệ thống trong thời gian tới?

TS. Huỳnh Thanh Điền: Khi được nâng trần lên 40%, các ngân hàng sẽ có thêm khả năng sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cấp tín dụng cho các khoản vay có kỳ hạn dài hơn. Điều này giúp mở rộng khả năng giải ngân cho doanh nghiệp, các dự án đầu tư và nhu cầu vốn dài hạn của nền kinh tế, đồng thời giảm áp lực phải tăng mạnh huy động vốn dài hạn với chi phí cao.

Quan trọng hơn, chính sách này sẽ giúp dòng vốn lưu thông linh hoạt hơn trong hệ thống. Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp đang có nhu cầu mở rộng sản xuất, đầu tư mới hoặc triển khai các dự án quy mô lớn, việc ngân hàng có thêm dư địa tín dụng sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư và tạo hiệu ứng lan tỏa sang nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế. Nói cách khác, đây không chỉ là câu chuyện của ngành ngân hàng mà còn là câu chuyện của tăng trưởng kinh tế.

- Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng có cơ cấu nguồn vốn và năng lực quản trị giống nhau. Theo ông, những nhóm ngân hàng nào sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ sự thay đổi này?

TS. Huỳnh Thanh Điền: Theo tôi, những ngân hàng có cơ cấu tiền gửi ổn định, tỷ lệ tiền gửi dân cư cao và năng lực quản trị tốt sẽ là nhóm hưởng lợi lớn nhất.

Việc được nới tỷ lệ không có nghĩa ngân hàng được phép cho vay một cách dễ dãi. Ngược lại, điều này đòi hỏi năng lực quản trị rủi ro phải tốt hơn bởi chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn và khoản vay vẫn luôn là một rủi ro hiện hữu.

Những ngân hàng có hệ thống thẩm định dự án chặt chẽ, kiểm soát dòng tiền tốt và khả năng dự báo thanh khoản hiệu quả sẽ tận dụng được cơ hội để mở rộng tín dụng, gia tăng lợi nhuận. Ngược lại, các ngân hàng quản trị yếu, lựa chọn khách hàng và dự án không tốt có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản hoặc nợ xấu trong tương lai.

Nói cách khác, chính sách này mở ra cơ hội cho tất cả các ngân hàng nhưng không phải ngân hàng nào cũng đủ năng lực để khai thác hiệu quả cơ hội đó.

TS. Huỳnh Thanh Điền: Nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay dài hạn là bước đi cần thiết để khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế - Ảnh 1.

Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp đang có nhu cầu mở rộng sản xuất, đầu tư mới hoặc triển khai các dự án quy mô lớn, việc ngân hàng có thêm dư địa tín dụng sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư và tạo hiệu ứng lan tỏa sang nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế. Ảnh minh hoạ

Thị trường bất động sản được tiếp sức

- Một trong những lĩnh vực phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn trung và dài hạn của ngân hàng là bất động sản. Trong bối cảnh thị trường vẫn đang trong quá trình phục hồi, liệu việc nới tỷ lệ này có giúp các doanh nghiệp bất động sảnngười mua nhà tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn hay không?

TS. Huỳnh Thanh Điền: Tôi cho rằng tác động đối với bất động sản sẽ khá rõ nét.

Trong những năm vừa qua, không ít dự án bất động sản bị đình trệ hoặc triển khai chậm là do gặp khó khăn về dòng vốn. Ngoài các vướng mắc pháp lý, thiếu vốn là một trong những nguyên nhân lớn nhất.

Đặc thù của bất động sản là chu kỳ đầu tư dài, thời gian hoàn vốn kéo dài nhiều năm. Vì vậy, phần lớn các dự án đều có nhu cầu vay vốn trung và dài hạn. Khi tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn bị giới hạn ở mức thấp, khả năng tiếp cận vốn của các chủ đầu tư cũng bị thu hẹp theo.

Thế nên, khi trần được nâng lên 40%, các ngân hàng sẽ có thêm dư địa để tài trợ cho các dự án có tính khả thi cao. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp bất động sản dễ tiếp cận vốn hơn mà còn góp phần khơi thông nhiều dự án đang bị đình trệ vì thiếu nguồn tài chính.

Ở góc độ người mua nhà, khả năng tiếp cận các khoản vay mua nhà trung và dài hạn cũng thuận lợi hơn. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tín dụng sẽ được mở rộng đại trà. Các ngân hàng vẫn phải tuân thủ quy trình thẩm định chặt chẽ, đánh giá năng lực tài chính của khách hàng cũng như tính pháp lý và hiệu quả của dự án.

Nói cách khác, nguồn vốn có thể dồi dào hơn nhưng vẫn sẽ được phân bổ theo nguyên tắc thị trường và quản trị rủi ro.

- Nếu dòng vốn tín dụng được cải thiện như ông vừa phân tích, ông đánh giá tác động của chính sách này đối với tiến trình phục hồi của thị trường bất động sản sẽ ở mức độ nào? Liệu đây có thể trở thành một trong những động lực quan trọng giúp thị trường tăng tốc trong giai đoạn tới?

TS. Huỳnh Thanh Điền: Đối với doanh nghiệp bất động sản, dòng vốn được ví như dòng máu của cơ thể. Nếu dòng vốn bị tắc nghẽn thì dự án khó có thể triển khai, doanh nghiệp khó duy trì hoạt động. Khi nguồn tín dụng được khơi thông hơn, nhiều dự án có thể được tái khởi động hoặc đẩy nhanh tiến độ triển khai. Cụ thể, những dự án có pháp lý đầy đủ, nhu cầu ở thực cao và chủ đầu tư có năng lực tài chính tốt sẽ hưởng lợi trước tiên.

Điều này sẽ góp phần cải thiện nguồn cung trên thị trường. Khi nguồn cung tăng lên, thị trường sẽ giảm bớt tình trạng khan hiếm cục bộ ở một số phân khúc. Về lâu dài, đây cũng là yếu tố giúp thị trường phát triển lành mạnh và bền vững hơn.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng việc nới tỷ lệ từ 30% lên 40% không phải là "chiếc đũa thần" có thể ngay lập tức giải quyết mọi khó khăn của thị trường bất động sản. Để thị trường phục hồi bền vững vẫn cần đồng thời tháo gỡ các nút thắt về pháp lý dự án, cải thiện môi trường đầu tư, tăng tính minh bạch và củng cố niềm tin của nhà đầu tư.

Dù vậy, trong bối cảnh hiện nay, đây là một quyết định có ý nghĩa tích cực, góp phần tạo thêm nguồn lực tài chính cho nền kinh tế nói chung và thị trường bất động sản nói riêng. Nếu được triển khai hiệu quả, chính sách này có thể trở thành một trong những động lực quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.

TS. Huỳnh Thanh Điền: Nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay dài hạn là bước đi cần thiết để khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế - Ảnh 2.

Thị trường bất động sản có thêm cơ hội tiếp cận vốn trung, dài hạn. (Ảnh Trọng Hiếu)

- Bên cạnh những cơ hội mà chính sách mới mang lại, theo ông đâu là những rủi ro cần lưu ý khi tăng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn? Cơ quan quản lý và các ngân hàng cần làm gì để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa đảm bảo an toàn hệ thống?

TS. Huỳnh Thanh Điền: Việc nới tỷ lệ không đồng nghĩa với việc có thể chủ quan với rủi ro. Bản chất của nguồn vốn ngắn hạn và các khoản vay trung, dài hạn vẫn có sự chênh lệch về kỳ hạn. Nếu quản trị không tốt, ngân hàng có thể đối mặt với áp lực thanh khoản khi người gửi tiền rút vốn trong khi các khoản cho vay chưa đến hạn thu hồi.

Tuy nhiên, như đã nói, tôi cho rằng rủi ro hiện nay đã giảm đáng kể so với trước đây nhờ năng lực quản trị của hệ thống ngân hàng được cải thiện. Điều quan trọng là các ngân hàng phải tiếp tục nâng cao chất lượng thẩm định, kiểm soát chặt dòng vốn và ưu tiên các dự án có hiệu quả thực sự.

Về phía cơ quan quản lý, việc theo dõi sát diễn biến thanh khoản, chất lượng tín dụng và thị trường bất động sản vẫn rất cần thiết để bảo đảm dòng vốn được khơi thông đúng hướng, phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhưng không tạo ra những rủi ro mới cho hệ thống tài chính.

Điều quan trọng nhất là phải sử dụng nguồn vốn đúng địa chỉ. Nếu dòng vốn chảy vào các dự án hiệu quả, tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế thì việc nới tỷ lệ sẽ hỗ trợ tăng trưởng rất tốt. Nhưng nếu dòng vốn bị sử dụng kém hiệu quả hoặc chạy theo các hoạt động đầu cơ, rủi ro sẽ quay trở lại.
TS. Huỳnh Thanh Điền

Tôi cho rằng, điều quan trọng nhất là phải sử dụng nguồn vốn đúng địa chỉ. Nếu dòng vốn chảy vào các dự án hiệu quả, tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế thì việc nới tỷ lệ sẽ hỗ trợ tăng trưởng rất tốt. Nhưng nếu dòng vốn bị sử dụng kém hiệu quả hoặc chạy theo các hoạt động đầu cơ, rủi ro sẽ quay trở lại. Vì vậy, bài toán hiện nay không chỉ là nới hay siết tín dụng, mà là nâng cao chất lượng phân bổ vốn trong nền kinh tế.

- Trân trọng cảm ơn những chia sẻ của ông!

Bên cạnh nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN cũng sửa đổi một số quy định liên quan đến tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).

Theo đó, tổng tiền gửi được sử dụng để tính LDR tiếp tục loại trừ tiền ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng của khách hàng và tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.

Đáng chú ý, đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, NHNN cho phép chỉ loại trừ 80% số dư tiền gửi này khỏi công thức tính LDR, hoặc áp dụng một tỷ lệ khác theo quyết định của Thống đốc NHNN trong từng thời kỳ. Như vậy, một phần tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước sẽ được tính vào nguồn vốn huy động của ngân hàng khi xác định tỷ lệ LDR.

Trước đó, NHNN từng ban hành Thông tư 08/2026/TT-NHNN cho phép các ngân hàng tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào mẫu số khi xác định LDR, thay vì loại bỏ hoàn toàn như quy định trước đây.

Thông tư 25/2026/TT-NHNN đồng thời bãi bỏ Thông tư 08/2020/TT-NHNN và Thông tư 08/2026/TT-NHNN kể từ thời điểm có hiệu lực.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top