“Tự chủ chiến lược”: Lựa chọn quyết định cho một Việt Nam thịnh vượng

“Tự chủ chiến lược”: Lựa chọn quyết định cho một Việt Nam thịnh vượng

Thảo Liên
Thảo Liên lienlien.media@gmail.com
Thứ Tư, 15/04/2026 - 06:08

Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng được hình ảnh vượt trội - từ nội lực đến vị thế trên trường quốc tế và đang đứng trước cơ hội để bứt phá nhanh hơn so với các giai đoạn trước, đồng thời tiến lên nấc thang mới cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Yêu cầu tăng trưởng ở mức 2 con số trong một giai đoạn đủ dài, không chỉ là mục tiêu kinh tế mà là điều kiện cần để nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia, trong kỷ nguyên mà xanh - số đang chi phối toàn bộ tư duy phát triển.

Cánh cửa cơ hội đang rộng mở, nhưng những thách thức mang tính toàn cầu cũng đang không ngừng gia tăng, trong khi lằn ranh giữa "tăng trưởng cao" và "bẫy thu nhập trung bình" vốn dĩ rất mong manh. Giai đoạn hiện tại, vì thế trở nên đặc biệt quan trọng, thậm chí mang tính cấp bách đối với các mục tiêu lớn trong tầm nhìn đến năm 2045.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác lập mục tiêu "tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc". Theo các chuyên gia, từ "độc lập, tự chủ" đến "tự chủ chiến lược" là sự phát triển cao hơn về mặt tư duy, trong bối cảnh độc lập dân tộc gắn bó chặt chẽ với định hướng hội nhập quốc tế sâu rộng và đó cũng là yêu cầu cấp thiết trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới.

Trao đổi với Reatimes, GS.TS. Hoàng Văn Cường, nguyên Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân nhìn nhận, mục tiêu "tự chủ chiến lược" cho thấy rõ định hướng nâng cao nội lực của nền kinh tế, từ chỗ phụ thuộc lớn vào các nguồn lực bên ngoài sang chủ động tham gia sâu hơn và từng bước làm chủ các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

"Đây là nền tảng để hình thành một nền kinh tế "tự cường", qua đó củng cố vị thế và tạo dư địa để tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới", GS.TS. Hoàng Văn Cường nhấn mạnh và cho rằng, yêu cầu này cũng đồng thời đặt ra bài toán phải hình thành lực lượng "doanh nghiệp dân tộc" đủ sức chuyển hóa khát vọng thành năng lực thực chất, xác lập và hiện thực hóa mô hình tăng trưởng mới, vươn lên nắm giữ vị trí có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị, khơi dậy sức bật nội sinh và hình ảnh quốc gia trên con đường vươn tới thịnh vượng.

- Năm 2026 được xem là điểm khởi đầu cho con đường thịnh vượng của Việt Nam. Lúc này, ông có suy ngẫm gì về những cơ hội và thách thức đang đặt ra cho những mục tiêu, khát vọng phát triển đất nước đã được xác lập?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Có thể cảm nhận được rằng, khát vọng thịnh vượng của dân tộc ta đang được thôi thúc mãnh liệt. 40 năm đổi mới, nền kinh tế đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng tự hào. Cơ hội để bứt lên chưa bao giờ rộng mở như bây giờ, nhưng nguy cơ tụt lại phía sau cũng rất hiện hữu.

Về cơ hội, phải nhấn mạnh rằng, Việt Nam đang bước vào giai đoạn mà nhiều điều kiện quan trọng để bứt phá cùng hội tụ. Trước hết là nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, khả năng kiểm soát lạm phát tốt, điều hành chính sách linh hoạt, môi trường đầu tư không ngừng được cải thiện. Việt Nam đang là điểm đến lựa chọn hàng đầu của các nhà đầu tư - đây là điều mà không mấy quốc gia đang phát triển làm được trong bối cảnh thế giới nhiều biến động.

Kinh tế thế giới hiện đang tạo ra những "khoảng trống chiến lược" - ở một góc độ nào đó chính là "cửa sổ cơ hội" cho chúng ta. Chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc, cạnh tranh công nghệ gia tăng, xu hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa đang làm thay đổi căn bản cách thức sản xuất và phân bổ giá trị. Ở nhiều lĩnh vực mới nổi, các quốc gia có thể coi là đang đứng gần nhau hơn trên vạch xuất phát.

Trong bối cảnh đó, người Việt Nam có tư duy logic toán học khá tốt, lực lượng lao động trẻ, khả năng tiếp cận công nghệ nhanh và cộng đồng doanh nghiệp ngày càng năng động, sẵn sàng thích ứng với những đổi mới, sáng tạo. Điều này mở ra cơ hội để Việt Nam không còn chỉ đi sau học hỏi, mà có thể đi cùng, thậm chí lựa chọn những phân khúc phù hợp để bứt lên.

Chúng ta cũng đã và đang tận dụng được một phần sự dịch chuyển của dòng vốn và chuỗi cung ứng toàn cầu trong thời gian qua. Nhưng điều quan trọng hơn là, sau một thời gian dài hội nhập và tích lũy, Việt Nam hiện đã có nền tảng đủ để chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn - dựa vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo thay vì xuất khẩu dựa trên nền tảng gia công và lắp ráp. Đây có thể là thời điểm vàng để chúng ta tái định vị vai trò của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Mô hình tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ, gia công, lắp ráp trong nhiều thập kỷ qua vốn nằm ở đáy của đường cong nụ cười, khâu thấp nhất trong chuỗi giá trị. Chúng ta có thể xuất khẩu tới 500 tỷ USD, nhưng giá trị thực giữ lại chỉ khoảng 20%, tức là đang "tăng trưởng hộ" cho thế giới. Ngay cả ở những ngành được coi là công nghệ cao như phần mềm vẫn là gia công; bán dẫn vẫn là kiểm thử, đóng gói - những phần việc có giá trị gia tăng rất thấp.

Vấn đề nằm ở chỗ, nếu cứ tiếp tục như vậy, thì dù có cố gắng tăng cường độ lao động, phần giá trị chúng ta nhận được cũng không cải thiện đáng kể. Phần giá trị gia công chiếm trong giá trị sản phẩm thấp thì dù có tăng năng suất gấp đôi số sản phẩm làm ra cũng chỉ làm tăng rất ít thu nhập, trong khi phần giá trị gia tăng cao lại nằm ở thiết kế, công nghệ, thương hiệu, tiêu thụ - những khâu mà chúng ta chưa nắm giữ.

“Tự chủ chiến lược”: Lựa chọn quyết định cho một Việt Nam thịnh vượng- Ảnh 1.

Khu vực FDI hiện chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu. (Ảnh minh họa: Báo Chính phủ)

Áp lực càng lớn hơn khi Việt Nam đang ở giai đoạn già hoá dân số nhanh, quỹ thời gian cho dân số vàng không còn nhiều, chỉ khoảng 10 - 15 năm tới sẽ chuyển sang dân số già. Phải tận dụng được giai đoạn dân số vàng để nâng cao trình độ khoa học công nghệ, chuyển sang đảm nhận các khâu lao động kỹ thuật then chốt, có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị, thì mới có cơ hội vượt qua bẫy thu nhập trung bình trước khi lực lượng lao động bước vào giai đoạn già hóa. Khi lao động đã già hoá, khả năng nâng cao trình độ để thay đổi vị thế công việc từ khâu có giá trị thấp sang khâu có trình độ kỹ thuật cao sẽ thu hẹp lại rất nhanh. Không thể vượt qua bẫy thu nhập trung bình khi dân số đã già hoá, mà ngược lại, có thể rơi vào tình trạng "chưa giàu đã già".

Một điểm đáng lưu ý nữa là nội lực của nền kinh tế vẫn chưa được phát huy đầy đủ. Khu vực FDI hiện chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu, nhưng sự lan tỏa sang doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Dòng tiền trong nền kinh tế có xu hướng chảy vào tài sản đầu cơ thay vì sản xuất, khiến tốc độ quay vòng vốn thấp, làm suy giảm hiệu quả tạo ra giá trị gia tăng. Nếu không khơi thông được dòng chảy này vào các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, đổi mới sáng tạo, thì rất khó tạo ra bứt phá thực chất.

Chính những thách thức đó đang đặt ra yêu cầu phải thay đổi. Thế giới đang bước vào một giai đoạn mà lợi thế không còn nằm ở chi phí thấp, mà nằm ở năng lực làm chủ công nghệ, làm chủ thị trường và làm chủ chuỗi giá trị. Điều đó buộc chúng ta phải chuyển từ tư duy "tham gia" sang "làm chủ", từ "tận dụng cơ hội" sang "tạo ra vị thế". Hay nói cách khác, nền kinh tế hiện đã chạm tới ngưỡng mà những lợi thế cũ bắt đầu thu hẹp, trong khi áp lực nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị ngày càng rõ rệt.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới vì thế là thước đo của khát vọng phát triển, của mức độ sẵn sàng thay đổi và của năng lực bộ máy quản trị quốc gia. Để đạt được điều đó, tăng trưởng không thể tiếp tục chỉ dựa vào những động lực cũ, mà phải được dẫn dắt và quyết định bởi nội lực - khả năng làm chủ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và đặc biệt là sự vươn lên của doanh nghiệp trong nước.

- Yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với đó là tái cơ cấu nền kinh tế vẫn chưa có chuyển biến thực chất trên thực tế dù đã được đặt ra từ Đại hội XI (2011) khi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng bắt đầu bộc lộ nhiều hạn chế. Nhưng có thể thấy giai đoạn hiện tại, vấn đề này trở nên cấp bách và được quan tâm hơn bao giờ hết. Theo Giáo sư, việc hiện thực hóa mô hình tăng trưởng mới dựa trên động lực chính là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có vai trò như thế nào đối với mục tiêu "tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc" được nêu rõ trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Như đã nói, đến thời điểm này, mô hình tăng trưởng truyền thống không còn đủ sức tạo ra bước nhảy vọt. Chúng ta không thể chậm trễ hơn trong việc chuyển đổi thực chất sang mô hình tăng trưởng dựa trên nền tảng công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đây không còn là lựa chọn mà là điều kiện mang tính quyết định để hiện thực hóa khát vọng hùng cường, tự chủ chiến lược trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, và những thách thức trên toàn cầu ngày một gia tăng.

Một nền kinh tế phụ thuộc vào công nghệ, nguyên liệu và chuỗi cung ứng bên ngoài thì khó có thể tự chủ. Khi làm chủ công nghệ, Việt Nam có thể chủ động hơn trong sản xuất, có thể tham gia vào các khâu có giá trị cao hơn như thiết kế, nghiên cứu, phát triển và xây dựng thương hiệu. Từ đó, giảm phụ thuộc nhập khẩu đầu vào, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.

Việc chuyển từ "hội nhập thụ động" sang "hội nhập thông minh và tự chủ" chính là quá trình chuyển sang làm chủ công nghệ, nâng dần tỷ lệ giá trị gia tăng giá trị nội địa. Hiện nay, nhiều hàng xuất khẩu còn phụ thuộc vào nguyên liệu và công nghệ do bên ngoài làm chủ nên phần giá trị giữ lại còn thấp. Nếu Việt Nam làm chủ tốt hơn về công nghệ, nguyên liệu và tham gia sâu hơn vào các khâu giá trị cao, thì dù tổng kim ngạch xuất khẩu không tăng, nhưng phần giá trị tạo ra trong nước có thể tăng mạnh, thậm chí đóng góp vào GDP gấp đôi, gấp ba, mà không cần tăng quy mô xuất khẩu. 

Thay đổi, tái cấu trúc nền kinh tế, đầu tư làm chủ công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, thay thế dần đầu vào nhập khẩu và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước là lựa chọn chiến lược để "hội nhập" không làm gia tăng phụ thuộc mà ngược lại, trở thành công cụ để củng cố khả năng tự chủ, tự cường của nền kinh tế.

“Tự chủ chiến lược”: Lựa chọn quyết định cho một Việt Nam thịnh vượng- Ảnh 2.

Mặt khác, nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng chính là chìa khóa vượt bẫy thu nhập trung bình. Khoa học - công nghệ, đối mới sáng tạo, chuyển đổi số giúp tối ưu hóa sản xuất, tạo ra sản phẩm có hàm lượng tri thức cao hơn, từ đó nâng giá trị gia tăng. Đây chính là con đường căn bản để bứt phá đạt được tốc độ tăng trưởng cao, thậm chí hai con số trong một giai đoạn đủ dài. Nói cách khác, nếu thực hiện đồng bộ và quyết liệt, mô hình tăng trưởng mới sẽ không chỉ giúp Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn, mà còn tăng trưởng bền vững với hiệu quả, chất lượng cao hơn, chấm dứt tình trạng "tăng trưởng hộ". 

Tuy nhiên, để mô hình tăng trưởng mới được hiện thực hóa, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở định hướng mà ở cách thức triển khai. Tôi cho rằng, Đại hội XIV sẽ tạo ra bước ngoặt mới cho mô hình phát triển của đất nước nói chung và nền kinh tế nói riêng.

- Đó là một cuộc đổi mới thực chất - lần thứ hai, sau 40 năm, thưa Giáo sư?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Đúng vậy. Vì sao Đại hội XIV là bước ngoặt? Cần nhìn nhận bối cảnh hiện nay đã rất khác so với trước đây. Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam không còn là một nền kinh tế ở vạch xuất phát, mà đã tích lũy được cả nội lực, vị thế quốc tế và kinh nghiệm hội nhập. Điều này mở ra cơ hội đi nhanh hơn, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi cách tiếp cận chiến lược hoàn toàn mới để phát triển bền vững và gia tăng khả năng thích ứng, sức chống chịu. Bẫy thu nhập trung bình vẫn còn đe dọa trong khi khát vọng phát triển của Việt Nam không dừng lại ở ngưỡng thu nhập trung bình cao, mà hướng tới trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Do đó, tinh thần đổi mới lần này phải là một sự chuyển đổi mang tính bản chất chứ không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật.

Thực tế, Đại hội XIV không chỉ xác lập một tầm nhìn phát triển mới mà còn đặt ra yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ trong mô hình phát triển đất nước, mô hình phát triển kinh tế và mô hình tăng trưởng. Trong tiến trình đó, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là đột phá quan trọng nhất và là nền tảng chính.

Nhân dân đang đặt nhiều kỳ vọng vào Đại hội XIV bởi tinh thần Đại hội nhấn mạnh hành động thực chất, đo lường bằng kết quả. Chương trình hành động, các nhiệm vụ chiến lược được xác định đồng thời và triển khai ngay sau Đại hội, với yêu cầu rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ sẽ là thước đo thực chất cho thành công của Đại hội.

Điều này có nghĩa là quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng phải bắt đầu ngay bằng các chính sách cụ thể về thể chế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Bởi nếu không có đột phá về thể chế và cách thức hành động thì dù định hướng đúng cũng khó thành công. Mô hình tăng trưởng mới chỉ có thể vận hành hiệu quả khi môi trường thể chế khuyến khích đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro và thúc đẩy doanh nghiệp làm chủ công nghệ. Đó là cách đối thoại với tương lai, với mục tiêu thịnh vượng.

Nếu việc đổi mới tư duy, đổi mới phương thức hành động và hoàn thiện thể chế được triển khai đồng bộ, quyết liệt, các mục tiêu dù rất cao vẫn hoàn toàn có cơ sở để trở thành hiện thực.

- Giáo sư nhiều lần nhắc tới việc nâng cao sức mạnh của doanh nghiệp trong nước. Và thực tế, khi nói đến năng lực nội sinh, đến tự chủ chiến lược hay khát vọng phát triển của dân tộc thì doanh nghiệp chính là lực lượng nòng cốt viết nên "bản trường ca" của nền kinh tế. Khi khát vọng phồn vinh chuyển hóa thành nỗ lực đầu tư, sản xuất, kinh doanh và ý chí tự cường chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thì nâng doanh nghiệp lên, chính là nâng đất nước lên?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Không có một lực lượng doanh nghiệp dân tộc hùng mạnh thì không thể nâng cao năng lực nội sinh và càng không thể nói đến tự chủ chiến lược.

Trong tư duy mới, mục tiêu tự chủ chiến lược mà Đại hội XIV nhấn mạnh không đồng nghĩa với đóng cửa hay cô lập mà là khả năng làm chủ, kiểm soát các yếu tố then chốt quyết định vận mệnh, sự phát triển bền vững và an ninh quốc gia trong quá trình hội nhập sâu, hay nói cách khác là mở cửa trong thế chủ động. Chúng ta có thể tận dụng tối đa các cơ hội từ bên ngoài nhưng không bị chi phối hay phụ thuộc, trên cơ sở đó, có thể kiểm soát được rủi ro, bảo vệ lợi ích quốc gia, giữ vững vị thế và bản sắc dân tộc trong mọi tình huống, nhất là khi bối cảnh quốc tế luôn phức tạp và biến động. Như vậy có nghĩa là nội lực phải mạnh.

Và muốn hiện thực hóa được điều đó, phải bắt nguồn từ chính sự chuyển biến của doanh nghiệp trong nước. Đó là khả năng làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo, quản trị, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…, để tạo ra giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế, đồng thời từng bước tham gia chuỗi cung ứng, khẳng định vị thế Việt Nam trên bản đồ kinh tế toàn cầu. Doanh nghiệp còn nhỏ, yếu; còn nhiều rào cản kìm hãm, khó cạnh tranh thậm chí bị lấn át thì nội lực chưa thể được kích hoạt và nền kinh tế khó thoát khỏi mô hình "tăng trưởng hộ", làm thuê cho thế giới.

- Các định hướng chiến lược từ Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 đến Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 đều nhấn mạnh yêu cầu cần có chính sách đột phá để hình thành, phát triển doanh nghiệp dân tộc, doanh nghiệp tiên phong, quy mô lớn, có vai trò dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực trọng yếu; có năng lực cạnh tranh quốc tế và khả năng vươn ra toàn cầu. Tuy nhiên, ngoài thông điệp mang tính khích lệ mạnh mẽ, những hình dung về "doanh nghiệp dân tộc" đến nay vẫn chưa thực sự rõ ràng cả về nhận thức lẫn cơ chế, chính sách. Theo Giáo sư, khái niệm doanh nghiệp dân tộc cần được minh định như thế nào để có sự tiếp sức tương xứng?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Đúng vậy. Hiện vẫn chưa có sự thống nhất, rạch ròi trong các quan niệm doanh nghiệp dân tộc, doanh nghiệp tiên phong, hay dẫn dắt, trụ cột… nên các khái niệm này vẫn thường được dùng gắn liền với nhau hoặc thậm chí thay thế cho nhau. Thực ra chúng ta đang mong muốn xây dựng được đội ngũ doanh nghiệp hội tụ đủ những yếu tố đó. Nhưng nó không phải là một. Tôi cho rằng, mỗi tên gọi có một đặc trưng riêng, trong đó "doanh nghiệp dân tộc" là khái niệm bao trùm nhất, và như bạn nói, nó mang tính khích lệ, cổ vũ rất lớn để các doanh nghiệp mang trong mình khát vọng dân tộc thì đều muốn vươn lên để trở thành hay được gọi là "doanh nghiệp dân tộc".

Để minh định, tôi cho rằng, doanh nghiệp dân tộc, trước hết phải là doanh nghiệp mang hình ảnh của dân tộc, tạo ra niềm tự hào dân tộc. Khi nhắc đến doanh nghiệp đó, người ta nhìn thấy hình ảnh người Việt Nam; người Việt Nam cảm thấy tự hào; và thế giới nhìn vào phải nhận diện được đó là đại diện của Việt Nam. Vì mang hình ảnh như vậy, doanh nghiệp ấy không thể chỉ được đánh giá bằng quy mô tài sản, lợi nhuận hay hiệu quả kinh doanh như một doanh nghiệp thông thường. Nó phải chứa đựng các yếu tố văn hóa, các giá trị cốt lõi của dân tộc. Đương nhiên, để làm được điều đó, doanh nghiệp không thể nhỏ bé, không thể yếu, không thể thiếu vị thế. Họ phải có sức mạnh, có sự ổn định, có khả năng vươn lên cạnh tranh quốc tế, tạo chỗ đứng trên thị trường thế giới, để từng bước làm chủ được chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị.

Doanh nghiệp trụ cột có thể đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, doanh nghiệp tiên phong có thể đi nhanh, đi trước nhưng chưa chắc đã hội tụ đủ các yếu tố văn hóa và giá trị dân tộc. Ngược lại, doanh nghiệp dân tộc có thể không nhất thiết phải là trụ cột lớn nhất hay đi đầu trong mọi lĩnh vực nhưng phải có vị thế riêng, có khả năng dẫn dắt và định hướng phát triển, kiến tạo tương lai. Và cốt lõi vẫn là giá trị Việt, văn hóa Việt, tinh thần Việt và niềm tự hào dân tộc.

“Tự chủ chiến lược”: Lựa chọn quyết định cho một Việt Nam thịnh vượng- Ảnh 3.

Doanh nghiệp dân tộc, trước hết phải là doanh nghiệp mang hình ảnh của dân tộc, tạo ra niềm tự hào dân tộc. (Ảnh minh họa)

- Như vậy, cần có tiêu chí để xác định?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Tôi cho rằng có một số tiêu chí cơ bản.

Thứ nhất, đó phải là doanh nghiệp do người Việt Nam làm chủ. Không thể gọi là doanh nghiệp dân tộc nếu chủ sở hữu là người nước ngoài.

Thứ hai, doanh nghiệp phải mang được các giá trị văn hóa và giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam, thể hiện trên sản phẩm, thương hiệu, slogan, triết lý phát triển…

Thứ ba, phải có sức lan tỏa.

Lan tỏa trong nước nghĩa là người dân nhìn thấy mình trong đó, coi doanh nghiệp đó như một phần của mình, sẵn sàng lựa chọn sản phẩm và cảm thấy tự hào khi sử dụng.

Lan tỏa ra thế giới nghĩa là tạo được vị thế quốc tế. Ví dụ, Việt Nam có ngành dệt may, điện tử, lắp ráp điện thoại rất mạnh. Nhưng nếu chúng ta không làm chủ trong chuỗi giá trị thì chưa thể nói là làm chủ vị thế. Ngược lại, trong lĩnh vực viễn thông, nếu doanh nghiệp Việt Nam cung cấp dịch vụ ra nhiều nước và cạnh tranh ngang bằng các nhà cung cấp khác, thì đó là biểu hiện của việc khẳng định vị thế trên thế giới.

Doanh nghiệp dân tộc vì thế không chỉ theo đuổi lợi ích kinh tế của riêng mình mà mỗi bước chân đi đều hòa chung với khát vọng dân tộc. Họ có lý tưởng lớn, tinh thần phụng sự cao cả, gắn kết lợi ích doanh nghiệp với trách nhiệm cộng đồng, với sự phát triển bền vững của đất nước và hình ảnh quốc gia. Có như vậy thì mới nỗ lực vươn lên, vươn lên không ngừng để khẳng định vị thế, để dẫn dắt, để lan tỏa. Họ phải đóng góp lớn cho nền kinh tế, tạo việc làm, định hướng phát triển cho người lao động, dẫn dắt doanh nghiệp khác, hình thành chuỗi liên kết và hệ sinh thái. Sự lớn mạnh của doanh nghiệp dân tộc vì thế sẽ có khả năng kéo được những doanh nghiệp khác cùng phát triển, tạo nên nội lực kinh tế mạnh.

- Trong tầm nhìn 2045 mà Việt Nam đang hướng tới, để hiện thực hóa các mục tiêu then chốt của kỷ nguyên mới, những tiêu chí và kỳ vọng về quy mô cũng như khả năng đóng góp, lan tỏa của các doanh nghiệp dân tộc có lẽ cần phải đặt ở mức cao hơn so với những doanh nghiệp dân tộc mà chúng ta có thể gọi tên ở thời điểm hiện tại, thưa ông?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Không nên ấn định một mức quy mô cứng nhắc. Không thể nói rằng cứ đạt đến một con số cụ thể nào đó mới là doanh nghiệp dân tộc.

Ở mỗi giai đoạn phát triển, những doanh nghiệp giữ vai trò này có thể chỉ ở quy mô nhất định, chưa vượt trội so với các doanh nghiệp khác, nhưng vẫn mang được hình ảnh, giá trị và lợi ích của đất nước. Tuy nhiên, khi nền kinh tế phát triển và mức độ hội nhập ngày càng sâu, yêu cầu đối với doanh nghiệp cũng cao hơn, đòi hỏi họ phải không ngừng nâng tầm để đáp ứng những chuẩn mực mới.

Điều quan trọng là doanh nghiệp phải xác định vị thế của mình thông qua những tiêu chí cụ thể và có thể đo lường trong từng giai đoạn. Chẳng hạn, tỷ trọng thị phần mà doanh nghiệp nắm giữ trong ngành, mức độ tham gia và phần giá trị đóng góp trong chuỗi giá trị, hay khả năng tạo ảnh hưởng trên thị trường. Những yếu tố này phải luôn được đặt trong tương quan so sánh với các doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực.

- Giai đoạn phát triển hiện nay đang đặt ra yêu cầu cao hơn về quy mô, chất lượng tăng trưởng và mức độ tự chủ chiến lược. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để hình thành và phát triển mạnh hơn lực lượng doanh nghiệp dân tộc? Nếu trước đây, sự lớn mạnh của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào nỗ lực tự thân và khả năng vươn lên trong từng ngành, thì hiện nay rõ ràng cần có vai trò định hướng và dẫn dắt cụ thể hơn từ chính sách.

Vậy theo ông, cần thiết kế chính sách như thế nào để không chỉ khẳng định vai trò, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, mà còn tạo động lực để họ nâng tầm, trở thành những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, có vị thế và đóng góp xứng đáng hơn với yêu cầu phát triển mới của nền kinh tế?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Đúng vậy, đây là vấn đề cần đặt ra trong giai đoạn này. Trước đây, doanh nghiệp phần lớn vẫn phải tự bươn chải: Doanh nghiệp nào khỏe, đủ năng lực thì vươn lên, từ nhỏ đến vừa, từ vừa đến lớn, từ lớn đến lớn mạnh; còn doanh nghiệp yếu thì tự bị đào thải. Tuy nhiên, từ Nghị quyết 68, có thể thấy rõ một sự thay đổi: Nhà nước không chỉ tập trung vào khu vực công mà đã nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò của khu vực tư nhân. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về chính sách, mà là sự thay đổi ở cấp độ tư duy và mô hình phát triển.

Nếu trước kia, mục tiêu chủ yếu là tăng trưởng nhanh, nâng cao năng suất và thu nhập, thì cách tiếp cận đó hiện nay không còn phù hợp. Việt Nam vẫn là một nền kinh tế mở và tiếp tục hội nhập sâu rộng, nhưng điểm khác biệt là phải hội nhập trong thế tự chủ chiến lược. Và tôi muốn nhấn mạnh lại, điều đó có nghĩa là quốc gia phải có khả năng tự quyết định hướng đi, lựa chọn lĩnh vực tham gia và chủ động định vị mình trong hệ thống kinh tế toàn cầu, thay vì bị dẫn dắt bởi các yếu tố bên ngoài.

Từ yêu cầu tự chủ chiến lược, vấn đề đặt ra là phải xác định được vị thế của nền kinh tế, mà cụ thể được thể hiện qua vị thế của doanh nghiệp. Nhà nước có vai trò định hướng, từ đó thiết kế các cơ chế, chính sách và môi trường phù hợp để hỗ trợ, tạo cơ hội và thúc đẩy doanh nghiệp dân tộc phát triển theo hướng đó. 

Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn là chủ thể trung tâm, phải tự lựa chọn con đường phát triển, chủ động nâng cao năng lực và tìm cách vươn lên trong các lĩnh vực có lợi thế. Các doanh nghiệp cũng không thể phát triển đơn độc, cạnh tranh nhau để vượt lên mà phải liên kết với nhau tạo sức manh: Doanh nghiệp đầu đàn giữ vai trò chủ thể dẫn dắt, doanh nghiệp nhỏ hơn nhưng mạnh ở từng khía cạnh sẽ bắt tay với các doanh nghiệp dẫn dắt để đảm nhận từng khâu theo thế mạnh của mình và như thế tất cả cùng xác định được vị thế, chỗ đứng của mình trong chuỗi cung ứng, cùng tạo nên thành công từ sức mạnh nội lực.

“Tự chủ chiến lược”: Lựa chọn quyết định cho một Việt Nam thịnh vượng- Ảnh 4.
“Tự chủ chiến lược”: Lựa chọn quyết định cho một Việt Nam thịnh vượng- Ảnh 5.
“Tự chủ chiến lược”: Lựa chọn quyết định cho một Việt Nam thịnh vượng- Ảnh 6.
“Tự chủ chiến lược”: Lựa chọn quyết định cho một Việt Nam thịnh vượng- Ảnh 7.

Đã có những doanh nghiệp Việt đẩy mạnh đầu tư, phát triển hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D), hoàn thiện chuỗi giá trị "All-in-one", thực hiện chiến lược phát triển danh mục sản phẩm, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. (Ảnh minh họa)

Định hướng phát triển hiện nay gắn chặt với khoa học - công nghệ, đặc biệt là các lĩnh vực mới như chuyển đổi số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo. Khi Nhà nước đầu tư và tạo nền tảng cho các lĩnh vực này, doanh nghiệp cần chủ động tham gia, xác định hướng đi phù hợp để từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao vị thế và phát huy năng lực nội tại. Đương nhiên, Nhà nước phải xây dựng hệ sinh thái chính sách đồng bộ, bao gồm các cơ chế hỗ trợ, bảo vệ và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển bền vững.

Bên cạnh Nhà nước và doanh nghiệp, yếu tố xã hội cũng có vai trò quan trọng. Một doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp dân tộc khi sản phẩm của họ không chỉ có giá trị kinh tế mà còn được xã hội ghi nhận, ủng hộ và coi đó là niềm tự hào chung. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra sản phẩm có chất lượng, đáp ứng nhu cầu và mang lại giá trị thực cho người dân.

Như vậy, sự phát triển của doanh nghiệp dân tộc cần được hình thành từ ba trụ cột gắn kết chặt chẽ: Nhà nước định hướng, hỗ trợ và tạo môi trường; doanh nghiệp chủ động và dẫn dắt bằng hành động; xã hội đồng hành và ủng hộ. Chỉ khi ba yếu tố này vận hành đồng bộ, doanh nghiệp dân tộc mới có thể khẳng định vị thế và đóng góp hiệu quả vào mục tiêu tự chủ chiến lược của quốc gia.

- Các chuyên gia văn hóa - xã hội thường nhắc đến một số đặc điểm tâm lý của người Việt, như tâm lý "sính ngoại", hoặc trong lĩnh vực kinh tế tư nhân thì đôi khi tồn tại sự đố kỵ, chưa thực sự ủng hộ những doanh nghiệp thành công.

Theo Giáo sư, ngoài việc bản thân doanh nghiệp phải nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm để chinh phục người tiêu dùng, thì có cách nào - đặc biệt từ góc độ chính sách để góp phần hóa giải những rào cản tâm lý này không?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Dưới góc độ chính sách, những rào cản tâm lý như "sính ngoại" hay thiếu sự ủng hộ doanh nghiệp trong nước không thể chỉ giải quyết bằng kêu gọi, mà cần tác động vào cách người dân ra quyết định tiêu dùng.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, Chính phủ cần tạo ra một hệ sinh thái đầy đủ, bao gồm cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp, khuôn khổ pháp lý rõ ràng và các tiêu chuẩn quốc gia, ràng buộc kỹ thuật chặt chẽ. Khi các tiêu chuẩn chất lượng, an toàn, truy xuất nguồn gốc… được thiết lập nghiêm túc và minh bạch, người tiêu dùng sẽ dần hình thành nhận thức rằng: Lựa chọn sản phẩm đạt chuẩn trong nước là lựa chọn tốt và đáng tin cậy.

Mấu chốt là, thay vì yêu cầu người dân "ủng hộ", chính sách cần tạo niềm tin dựa trên chất lượng được bảo chứng, đồng thời định hình lại hành vi tiêu dùng thông qua tiêu chuẩn, thông tin và môi trường cạnh tranh công bằng. Khi đó, tâm lý xã hội sẽ tự điều chỉnh theo hướng tích cực, và doanh nghiệp nội địa có cơ hội được nhìn nhận đúng với giá trị thực của mình.

- Nhưng cũng có lập luận rằng, nếu Nhà nước và xã hội tạo điều kiện thuận lợi ở mức cao cho doanh nghiệp, liệu có dẫn tới nguy cơ hình thành một môi trường "o bế" hay không?

Nói cách khác, khi các cơ chế hỗ trợ, ưu đãi được thiết kế quá mạnh, doanh nghiệp có thể phát triển trong một không gian thuận lợi nhưng bị giới hạn về năng lực cạnh tranh thực chất, thiếu áp lực đổi mới và vươn ra thị trường lớn hơn. Vậy, làm thế nào để cân bằng giữa hỗ trợ và cạnh tranh, để chính sách vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, vừa không làm suy giảm động lực tự thân và khả năng cạnh tranh dài hạn?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Đây là một băn khoăn có cơ sở, nhưng cần nhìn nhận đúng bản chất của vấn đề. Tạo điều kiện không đồng nghĩa với "o bế" hay nuông chiều doanh nghiệp để họ hưởng lợi trong một môi trường thiếu cạnh tranh. Chính sách hỗ trợ, nếu có, phải được thiết kế như một công cụ chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển năng lực nội tại của doanh nghiệp dân tộc, chứ không phải để duy trì sự yếu kém.

Thực tế, trong những ngành nền tảng, nếu không có một mức độ hỗ trợ hợp lý và khoa học, doanh nghiệp trong nước rất khó tích lũy đủ năng lực để cạnh tranh. Ví dụ như ngành ô tô: Nếu muốn hình thành công nghiệp ô tô nội địa, cần tạo điều kiện và hỗ trợđể doanh nghiệp trong nước có thị phần đủ lớn để phát triển, qua đó tích lũy công nghệ, quy mô và năng lực quản trị. Còn nếu chỉ tập trung ưu đãi cho khu vực FDI và phân tán thị trường cho nhiều chủ thể, thì rất khó xuất hiện những doanh nghiệp dân tộc đủ mạnh để dẫn dắt ngành.

Trên thực tế, xu hướng bảo hộ thương mại đang lan rộng tại nhiều quốc gia khiến thế giới ngày càng phân mảnh. Nhiều nền kinh tế đang tăng cường bảo vệ các ngành then chốt như công nghệ, năng lượng, bán dẫn, chuỗi cung ứng… Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc từ bỏ toàn cầu hóa, mà là điều chỉnh cách hội nhập: Vừa mở cửa, vừa kiểm soát để bảo đảm lợi ích quốc gia. Trong đó, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp không phải bằng các hỗ trợ trực tiếp - là điều vi phạm cam kết quốc tế, mà được sử dụng như một công cụ để củng cố năng lực sản xuất trong nước, tránh phụ thuộc vào bên ngoài và phát triển các ngành chiến lược dài hạn.

Do đó, cần nhấn mạnh rằng tạo điều kiện phải gắn với mục tiêu nâng cao năng lực thực chất, nếu không sẽ chỉ làm trì hoãn cạnh tranh chứ không tạo ra sức mạnh. Các chính sách hỗ trợ phải có mục tiêu rõ ràng, có thời hạn, gắn với các tiêu chí về nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới công nghệ và hiệu quả hoạt động. Khi đạt đến một ngưỡng nhất định, doanh nghiệp đủ mạnh phải bước ra cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường. Chỉ khi đó, chính sách mới vừa tạo điều kiện phát triển, vừa duy trì được áp lực cạnh tranh cần thiết, tránh rơi vào tình trạng "o bế" và lệ thuộc.

- Giáo sư có thể làm rõ hơn về cách thức hỗ trợ của nhà nước trong việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa. Thời gian gần đây, chúng ta bàn luận nhiều về cơ chế nhà nước đặt hàng doanh nghiệp thực hiện các dự án lớn của quốc gia. Vậy cơ chế đặt hàng cần thiết kế như thế nào để khuyến khích doanh nghiệp làm chủ công nghệ, yên tâm đầu tư dài hạn và gia tăng nội lực?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Đây chính là vấn đề mà vừa rồi chúng ta đã đề cập đến. Cốt lõi là làm rõ tư duy tự chủ chiến lược cụ thể trong từng lĩnh vực của nền kinh tế. Ví dụ, nếu xác định cần tự chủ trong ngành công nghiệp đường sắt thì buộc Nhà nước phải chủ động đặt hàng để doanh nghiệp yên tâm tập trung đầu tư công nghệ hiện đại, từ đó hình thành năng lực sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, cần hiểu đúng bản chất của "đặt hàng". Đây không đơn thuần là việc Nhà nước bỏ ngân sách để giao nhiệm vụ, mà quan trọng hơn là cam kết về thị trường. Khi Nhà nước đặt hàng sản xuất đường ray trong nước, đồng nghĩa với việc dành thị phần nội địa cho doanh nghiệp trong nước, hạn chế phụ thuộc vào nhập khẩu. Chính sự bảo đảm về thị trường như vậy mới tạo điều kiện để doanh nghiệp sẵn sàng vào cuộc. Có nhìn thấy tương lai thì họ mới yên tâm đầu tư dài hạn vào công nghệ và nâng cao trình độ sản xuất. Đây là vấn đề rất quan trọng, bởi sản xuất được đường ray hay đầu máy, tức là có thể làm chủ được công nghệ ở khâu cao nhất, tạo điều kiện làm chủ công nghệ nền tảng để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đi kèm.

Nhưng quay trở lại, cần nhấn mạnh hỗ trợ ở đây phải mang tính chiến lược, nhằm xây dựng năng lực làm chủ, chứ không phải để doanh nghiệp hưởng lợi trong một môi trường an toàn. Doanh nghiệp được "đặt hàng" không thể phát triển theo kiểu đơn lẻ, hưởng lợi riêng, mà phải đóng vai trò dẫn dắt, thu hút các doanh nghiệp khác tham gia, từng bước hình thành một hệ sinh thái và chuỗi giá trị hoàn chỉnh và phát huy nguồn lực một cách hữu hiệu nhất.

Trong bối cảnh hơn 90% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, cách duy nhất để hình thành những doanh nghiệp có tầm vóc là tổ chức lại lực lượng này thông qua các chuỗi liên kết. Một doanh nghiệp lớn đóng vai trò "trục chính", tập hợp các doanh nghiệp nhỏ tham gia vào từng khâu, mỗi doanh nghiệp đảm nhận một phần việc và trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị. Qua đó, không chỉ tạo ra sức mạnh tổng hợp, mà còn mở ra con đường để các doanh nghiệp nhỏ từng bước nâng cấp năng lực và tham gia sâu hơn vào cạnh tranh quốc tế. Đây cũng chính là cách tập hợp và phát huy nguồn lực một cách hữu hiệu nhất.

- Từ thực tế một số doanh nghiệp trong nước nỗ lực nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và phát triển sản xuất trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, đồng thời mạnh dạn kiến nghị, đề xuất khi gặp khó khăn, có thể thấy họ rất cần sự đồng hành từ chính sách.

Theo Giáo sư, việc các doanh nhân, đặc biệt là những người có khát vọng dẫn dắt - chủ động lên tiếng, đề xuất chính sách, thể hiện mong muốn phát triển, có ý nghĩa như thế nào đối với quá trình hình thành các doanh nghiệp dân tộc?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp dân tộc trước hết phụ thuộc vào chính doanh nhân - người chủ doanh nghiệp, họ có đủ tâm huyết, khát vọng và năng lực hay không? Nhưng khát vọng thôi là chưa đủ, điều quan trọng là phải có trình độ, bản lĩnh và khả năng sáng tạo để biến khát vọng đó thành hiện thực. Đồng thời, doanh nghiệp muốn vươn lên và khẳng định vị thế không thể đi một mình, mà phải thu hút được sự tham gia và đồng hành của xã hội, từ đó hình thành các liên kết, chuỗi giá trị và hệ sinh thái phát triển xung quanh doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, những doanh nghiệp thành công thường không chỉ phát triển riêng lẻ mà biết tổ chức lại sản xuất, kết nối các chủ thể và khai thác sức mạnh cộng đồng. Một ví dụ điển hình là mô hình phát triển trong ngành nông nghiệp: Thay vì để nông dân tự phát, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh và lãng phí giá trị, doanh nghiệp đã chủ động xây dựng liên kết với người dân, cung cấp giống, tổ chức sản xuất theo kế hoạch và điều phối thu hoạch hợp lý. Không chỉ dừng ở thu mua, doanh nghiệp còn đầu tư, dẫn dắt và chia sẻ lợi ích, qua đó tạo ra một hệ thống vận hành hiệu quả hơn cho cả doanh nghiệp và người dân.

Ở lĩnh vực công nghiệp, cũng có những doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, từng bước xây dựng chuỗi giá trị công nghiệp hỗ trợ trong nước. Họ không chỉ dừng lại ở lắp ráp, mà chủ động đầu tư vào sản xuất linh kiện, liên kết với các đối tác trong nước và tìm cách làm chủ những khâu có giá trị cao hơn. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chấp nhận đi đường dài, đầu tư lớn và kiên trì xây dựng hệ sinh thái sản xuất, qua đó từng bước nâng cao hàm lượng giá trị trong nước và giảm phụ thuộc vào bên ngoài.

Những câu chuyện như vậy cho thấy, vai trò của doanh nhân dân tộc không chỉ là người kinh doanh, mà còn là người tổ chức, dẫn dắt và kiến tạo hệ sinh thái phát triển. Chính khả năng kết nối, lan tỏa và khai thác sức mạnh của cộng đồng mới là yếu tố quyết định để hình thành những doanh nghiệp có tầm vóc và tạo ra giá trị bền vững cho nền kinh tế.

- Nghị quyết 68 đặt mục tiêu hình thành khoảng 20 doanh nghiệp có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Theo Giáo sư, mục tiêu này có khả thi không?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Nếu chúng ta đi theo con đường tự chủ chiến lược, chủ động hợp tác nhưng ở vị thế làm chủ, thì hoàn toàn có thể hình thành những doanh nghiệp đủ năng lực vươn ra thị trường quốc tế.

Ví dụ ngành bán dẫn gắn với trí tuệ nhân tạo hiện nay, nhiều cơ hội phát triển vẫn đang ở vạch xuất phát, Việt Nam có nhiều tiềm năng, lợi thế và có cơ hội tham gia từ sớm. Nếu chúng ta mời gọi doanh nghiệp lớn trên thế giới đến đầu tư, thì cũng phải chuẩn bị sẵn tiềm lực và vị thế của mình để đủ sức mạnh đi song hành ngang hàng, chứ không phải đi bên cạnh phụ thuộc; phải cùng làm chủ và từng bước nắm được công nghệ, thay vì đứng ngoài chuỗi giá trị.

- Thưa Giáo sư, Nghị quyết 68 xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, nhưng đồng thời, Nghị quyết 79 lại nhấn mạnh vai trò chủ đạo, dẫn dắt của kinh tế Nhà nước. Trong bối cảnh khu vực tư nhân đang phát triển mạnh, thậm chí giữ vai trò tiên phong ở cả những lĩnh vực quan trọng như công nghệ cao, theo ông, sứ mệnh dẫn dắt, mở đường của kinh tế nhà nước nên được hiểu và thực hiện như thế nào, để hai trụ cột kinh tế này thực sự cộng hưởng sức mạnh, bổ trợ cho nhau?

GS.TS. Hoàng Văn Cường: Rõ ràng, mục tiêu của chúng ta là xây dựng một quốc gia tự cường, dựa trên một nền kinh tế tự chủ, vững mạnh nhưng vẫn hội nhập sâu rộng. Muốn hiện thực hóa được, phải có sự dẫn dắt, phải có chỗ dựa vững chắc trong nước, tạo ra "bệ đỡ" thực chất. Vai trò định hướng dẫn dắt thuộc về kinh tế nhà nước, còn vai trò tạo sức mạnh cạnh tranh lại là kinh tế tư nhân.

Chúng ta cần hiểu đúng nội hàm kinh tế nhà nước không chỉ là doanh nghiệp nhà nước, mà là toàn bộ nguồn lực quốc gia do Nhà nước nắm giữ: Từ đất đai, tài nguyên, hạ tầng, ngân sách cho đến các công tổ chức kinh tế, các đơn vị dịch vụ sự nghiệp công, các hoạt động kinh tế nhà nước nắm giữ và hệ thống công cụ chính sách. Sứ mệnh dẫn dắt và mở đường của kinh tế nhà nước được thể hiện rõ nét qua việc phân bổ các nguồn lực này cho nền kinh tế. Khi cần thúc đẩy một ngành hay một vùng, Nhà nước sẽ ưu đãi về thuế, đầu tư hạ tầng và tập trung nguồn lực. Ngược lại, với những lĩnh vực không khuyến khích, Nhà nước có thể điều tiết bằng thuế cao hơn hoặc hạn chế tiếp cận nguồn lực.

Trên thực tế, kinh tế nhà nước không hoạt động độc lập hay tách rời mà luôn song hành cùng với kinh tế tư nhân và khu vực FDI. Trong đó, doanh nghiệp Nhà nước phải đi đầu, trực tiếp tham gia và triển khai các mục tiêu phát triển ở những lĩnh vực khó, lĩnh vực mới hoặc có ý nghĩa chiến lược mà khu vực tư nhân chưa đủ khả năng hoặc chưa sẵn sàng đầu tư. Nhưng nếu doanh nghiệp Nhà nước không đủ năng lực, thì rất khó đảm nhận vai trò dẫn dắt như kỳ vọng.

Một vấn đề cần làm rõ là khi kinh tế Nhà nước vận hành theo cơ chế thị trường, cạnh tranh là tất yếu. Nếu không phân định rõ ràng, sẽ dẫn đến chồng lấn giữa doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân, thậm chí tiềm ẩn cạnh tranh không lành mạnh. Vì vậy, cần xác định rõ "sân chơi": Những lĩnh vực trọng yếu gắn với an ninh, chủ quyền quốc gia thì Nhà nước phải nắm giữ. Những lĩnh vực có thể xã hội hóa, như hạ tầng, năng lượng…, cần tạo điều kiện để cả Nhà nước và tư nhân cùng tham gia, nhưng với vai trò rõ ràng, tránh dàn trải và chồng lấn. Ngay trong khu vực Nhà nước cũng phải tập trung nguồn lực có trọng tâm, không thể đầu tư dàn trải.

Nhìn rộng ra, vai trò dẫn dắt của kinh tế Nhà nước là tạo nền tảng, tạo hướng đi và tạo niềm tin, để khu vực tư nhân có thể phát huy hết năng lực. Khi Nhà nước làm tốt vai trò này, còn doanh nghiệp được trao quyền và vận hành theo cơ chế thị trường, thì hai khu vực sẽ bổ trợ cho nhau, chứ không phải cạnh tranh theo hướng triệt tiêu lẫn nhau. Nói ngắn gọn, Nhà nước phải "cầm trịch" ở những yếu tố nền tảng và chiến lược, còn hoạt động kinh doanh cụ thể cần để thị trường và doanh nghiệp quyết định.

Để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, làm mới những động lực tăng trưởng truyền thống và phát huy những động lực mới như số, xanh, kinh tế tuần hoàn,… Nhà nước cần thiết kế chính sách theo hướng chấp nhận rủi ro, khuyến khích đầu tư mạo hiểm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận những lĩnh vực mới, có giá trị cao. Đồng thời, doanh nghiệp cũng phải sẵn sàng chấp nhận rủi ro, dám đầu tư, dám đi vào những hướng mới để đạt được giá trị lớn hơn. Chỉ có như vậy, chúng ta mới tận dụng được cơ hội và khẳng định vị thế, tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Có thể nói, Nghị quyết 79 là cuộc cách mạng trong tư duy quản lý, từ can thiệp, quản lý hành chính sang vai trò kiến tạo, trao quyền. Kỳ vọng đặt ra là các nghị quyết mới này sẽ tạo nền tảng cho sự phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần, khơi dậy được sức mạnh của tất cả các khu vực: Từ nhà nước, tư nhân cho đến khu vực FDI. Qua đó, chúng ta có thể khai thác được các nguồn lực một cách hiệu quả nhất, nhưng đồng thời vẫn tạo lập được một nền kinh tế độc lập, tự chủ theo đúng định hướng.

Khi nội lực được khơi dậy, Việt Nam hoàn toàn có thể bước sang một giai đoạn phát triển mới - không chỉ duy trì tăng trưởng cao như kỳ vọng, mà còn nâng cao được chất lượng tăng trưởng và vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khi đó, mục tiêu trở thành quốc gia hùng cường, thịnh vượng, phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 không phải là điều quá xa vời, mà là kết quả của một quá trình chuyển đổi có chủ đích, có chiến lược và có đủ quyết tâm để thực hiện.

“Tự chủ chiến lược”: Lựa chọn quyết định cho một Việt Nam thịnh vượng- Ảnh 8.

Khi nội lực được khơi dậy, Việt Nam hoàn toàn có thể bước sang một giai đoạn phát triển mới và gia tăng vị thế. (Ảnh minh hoạ)

- Trong bài viết "Tiến lên, toàn thắng ắt về ta!" nhân dịp thành công của Đại hội XIV, Tổng Bí thư Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: "Nếu chúng ta tận dụng tốt thời cơ, vượt qua thách thức của 5 - 10 năm bản lề này, chắc chắn đất nước sẽ cất cánh mạnh mẽ, hiện thực hóa được hoài bão trở thành một Việt Nam hùng cường vào giữa thế kỷ 21".

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, chuyển sang giai đoạn mới, mỗi chủ trương đúng đắn khi ban hành phải được thực hiện với quyết tâm gấp mười lần và hành động gấp trăm lần trong thực tiễn; quyết tâm chính trị phải ở mức cao nhất, nỗ lực ở mức lớn nhất, hành động phải quyết liệt nhất - đó là mệnh lệnh xuất phát từ ý chí và khát vọng phát triển của dân tộc.

Khẳng định Đại hội XIV đã trao "ngọn cờ quyết thắng" cho khát vọng Việt Nam hùng cường, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: "Giờ là lúc biến tất cả chủ trương, nghị quyết thành hành động, thành kết quả cụ thể. Tương lai, vận mệnh của đất nước thúc giục chúng ta phải hành động, hành động quyết liệt hơn nữa".

Hơn lúc nào hết, tinh thần Đổi mới, bứt phá và khí thế vươn mình đang sục sôi trong cộng đồng doanh nghiệp. Niềm tin vào những quyết sách chiến lược cũng như tinh thần hành động của Đảng, niềm tin vào tương lai dân tộc, cùng niềm tin vào năng lực nội sinh đã và đang thôi thúc các doanh nghiệp đón nhận lời hiệu triệu của thời đại, dám "nghĩ lớn, làm lớn" và "tiến lên không ngừng" để khẳng định vị thế, vươn ra toàn cầu.

Trân trọng cảm ơn GS.TS. Hoàng Văn Cường vì những góc nhìn, phân tích sâu sắc, thẳng thắn, giá trị và đầy tính gợi mở về con đường đi tới thịnh vượng của Việt Nam thông qua định hướng tự chủ chiến lược và dựa vào sức mạnh nội lực để kiến tạo mô hình tăng trưởng mới. Chúng ta hãy cùng chờ đón những bước chuyển của nền kinh tế và những dấu ấn vươn mình của doanh nghiệp dân tộc trong cuộc đổi mới lần thứ hai này!

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Bcons Newsky: https://bconsx.com.vn/bcons-new-sky/ Dự án đất nền The Link City Dầu Giây Kim Oanh Trang Website Dự Án Capital Square Đà Nẵng https://capitalsquarebrg.com.vn/ https://alluvia-city.com Trang website Dự Án Da Nang Downtown danangsundowntown.vn của sun group ThanhLinhTravel.com
Lên đầu trang
Top