Aa

Từ giờ, sống chung nhưng chưa đăng ký kết hôn có được cùng đứng tên sổ đỏ không?

Chủ Nhật, 14/06/2026 - 14:28

Không ít cặp đôi chung sống nhiều năm, cùng tạo lập nhà đất nhưng vẫn băn khoăn về quyền sở hữu tài sản. Thực tế, quy định pháp luật về việc đứng tên trên sổ đỏ có thể khác với suy nghĩ của nhiều người.

Nhiều người cho rằng chỉ những cặp vợ chồng có đăng ký kết hôn mới được cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Tuy nhiên, quy định pháp luật hiện hành cho phép nhiều chủ thể cùng sở hữu quyền sử dụng đất, kể cả trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn.

Theo khoản 1 Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đối với tài sản chung của vợ chồng thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng như nhà ở, quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận phải ghi tên của cả hai vợ chồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Quy định này chỉ áp dụng đối với quan hệ hôn nhân hợp pháp, tức nam và nữ đã thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời kỳ hôn nhân, nhà đất được xác định là tài sản chung sẽ được ghi nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng của cả vợ và chồng trên giấy chứng nhận.

Từ giờ, sống chung nhưng chưa đăng ký kết hôn có được cùng đứng tên Sổ đỏ không? - Ảnh 1.

Sống chung nhưng chưa đăng ký kết hôn có được cùng đứng tên Sổ đỏ không? Ảnh minh họa

Ngược lại, đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, pháp luật không mặc nhiên công nhận đây là quan hệ vợ chồng hợp pháp (trừ một số trường hợp đặc biệt được pháp luật công nhận theo quy định chuyển tiếp trước đây). Do đó, tài sản được hình thành trong thời gian chung sống cũng không được xem là tài sản chung của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc hai người không thể cùng sở hữu nhà, đất.

Theo Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, quan hệ tài sản giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn trước hết được giải quyết theo thỏa thuận của các bên. Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định pháp luật có liên quan.

Luật cũng quy định việc giải quyết tài sản trong trường hợp này phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, con cái; đồng thời công việc nội trợ, chăm sóc gia đình và các công việc duy trì đời sống chung được xem như lao động có thu nhập khi xem xét quyền lợi của các bên.

Theo Điều 207 Bộ luật Dân sự năm 2015, sở hữu chung là hình thức sở hữu của nhiều chủ thể đối với cùng một tài sản và bao gồm sở hữu chung theo phần hoặc sở hữu chung hợp nhất. Vì vậy, dù không có quan hệ hôn nhân hợp pháp, nam và nữ vẫn có thể cùng xác lập quyền sở hữu đối với một tài sản nếu có thỏa thuận hoặc đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Đối với quyền sử dụng đất, khoản 2 Điều 135 Luật Đất đai năm 2024 quy định trường hợp thửa đất có nhiều người cùng sử dụng hoặc tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu chung của nhiều người thì mỗi người sẽ được cấp một giấy chứng nhận. Nếu các đồng sở hữu có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền có thể cấp chung một giấy chứng nhận và trao cho người đại diện quản lý.

Như vậy, nam và nữ sống chung nhưng không đăng ký kết hôn vẫn có thể cùng đứng tên trên sổ đỏ nếu cùng có quyền sử dụng đất hoặc cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất. Trong trường hợp này, quyền sở hữu được xác lập theo hình thức đồng sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự chứ không phải tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình.

Sổ đỏ sẽ ghi nhận đầy đủ tên của các đồng sở hữu. Mỗi người có thể được cấp một giấy chứng nhận riêng hoặc cùng đứng tên trên một giấy chứng nhận nếu có yêu cầu. Việc định đoạt, chuyển nhượng hoặc thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản cũng phải tuân thủ các quy định về sở hữu chung và thỏa thuận giữa các bên.

Điều này cho thấy việc đăng ký kết hôn không phải là điều kiện bắt buộc để hai người cùng đứng tên trên sổ đỏ. Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ phát sinh từ tài sản trong trường hợp này sẽ được xác định theo quan hệ đồng sở hữu dân sự, thay vì chế độ tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top