Chính phủ ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 2/4/2026, sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/1/2022 về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Kết luận số 224-KL/TW ngày 08/12/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Chương trình).
Theo nghị quyết, chương trình phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2025 đạt tối thiểu 45%, đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ lệ đất xây dựng đô thị trên tổng diện tích đất tự nhiên đạt khoảng 1,5-1,9% vào năm 2025, đến năm 2030 đạt khoảng 1,9 - 2,3%.
Số lượng đô thị toàn quốc đến năm 2025 khoảng 950-1.000 đô thị, đến năm 2030 khoảng 1.000-1.200 đô thị.

Việt Nam dự kiến có thêm ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế vào năm 2045. Ảnh minh họa
Đến năm 2025, 100% các đô thị hiện có và đô thị mới có quy hoạch tổng thể, quy hoạch phân khu, chương trình cải tạo, chỉnh trang, tái thiết và phát triển đô thị; bảo đảm tối thiểu 100% đô thị vừa và lớn hoàn thiện tiêu chí phân loại đô thị về cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo và công trình văn hóa cấp đô thị.
Đến năm 2030, hình thành một số trung tâm đô thị cấp quốc gia, cấp vùng đạt các chỉ tiêu về y tế, giáo dục và đào tạo, văn hóa tương đương mức bình quân của các đô thị thuộc nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN.
Tỷ lệ đất giao thông trên đất xây dựng đô thị đạt khoảng 11-16% vào năm 2025, 16-26% vào năm 2030. Diện tích cây xanh bình quân đầu người tại khu vực đô thị đạt khoảng 6-8m2 vào năm 2025, khoảng 8-10m2 vào năm 2030. Diện tích sàn nhà ở bình quân đầu người tại khu vực đô thị đạt tối thiểu 28m2 vào năm 2025, đến năm 2030 đạt tối thiểu 32m2.
Tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á.
Hệ thống đô thị liên kết thành mạng lưới đồng bộ, thống nhất, cân đối giữa các vùng, miền; có khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh; bảo vệ môi trường; kiến trúc tiêu biểu, giàu bản sắc, xanh, hiện đại, thông minh.
Phấn đấu xây dựng ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế đô thị phát triển theo hướng hiện đại, trong đó các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Để đạt được các mục tiêu trên, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung chỉ đạo, triển khai các nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Cụ thể, thống nhất nhận thức và hành động về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam.
Các cơ quan chức năng các cấp tổ chức quán triệt, tuyên truyền, giáo dục và vận động sâu rộng trong toàn xã hội về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị bền vững trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thường xuyên, định kỳ tổ chức tuyên truyền, phổ biến và đánh giá việc triển khai thực hiện các nội dung của Nghị quyết số 06-NQ/TW, Kết luận số 224-KL/TW và các nghị quyết liên quan.
Nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý quy hoạch, đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị bền vững.
Các Bộ, ngành, địa phương tổ chức lập Quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; rà soát, điều chỉnh hoặc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chung, quy chế quản lý kiến trúc; lập Quy hoạch tổng thể đơn vị hành chính các cấp giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng đô thị đồng bộ, hiện đại, có tính liên kết và thích ứng với biến đổi khí hậu; tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình, dự án nâng cấp, phát triển đô thị.
Nghiên cứu xây dựng các chương trình về cải tạo, chỉnh trang, tái thiết và phát triển đô thị, phát triển kết cấu hạ tầng đô thị ở cấp quốc gia, cấp tỉnh và từng đô thị nhằm cụ thể hóa các chỉ tiêu của Nghị quyết số 06-NQ/TW; tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm ít nhất 100 đô thị tiêu biểu, có khả năng chống chịu, giảm phát thải, thông minh, có bản sắc.
Xây dựng các nhiệm vụ, đề án chuyên ngành; phát triển nguồn nhân lực cho đô thị; điều chỉnh định hướng chiếu sáng đô thị đến năm 2030; nghiên cứu mô hình bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quản lý đô thị; phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia...
Xây dựng cơ chế, chính sách và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Nghiên cứu, hoàn thiện thể chế; trình cấp có thẩm quyền hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ Nghị quyết số 06-NQ/TW và Kết luận số 224-KL/TW. Trong đó, nghiên cứu, đề xuất xây dựng Luật quản lý và phát triển đô thị; sửa đổi Luật Nhà ở (Luật số 27/2023/QH15); sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản (Luật số 29/2023/QH15); nghiên cứu xây dựng luật về quản lý không gian ngầm.