Vừa qua, trường Đại học Luật Hà Nội, Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý và Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP.HCM) đã phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học trọng điểm "Hệ thống pháp luật kinh tế Việt Nam 40 năm đổi mới (1986 - 2026)". Tại phiên thảo luận trực tiếp, các chuyên gia đã tập trung phân tích thực trạng, vướng mắc pháp lý và đề xuất định hướng phát triển trong giai đoạn mới.

Toàn cảnh Hội thảo khoa học trọng điểm “Hệ thống pháp luật kinh tế Việt Nam 40 năm đổi mới (1986 - 2026)”.
Mở đường cho các động lực phát triển tích cực thay vì chỉ ngăn chặn tiêu cực
Phát biểu mở đầu phiên thảo luận, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh nhìn lại chặng đường 40 năm phát triển của đất nước thông qua phương pháp tiếp cận tiệm tiến gắn liền với các dấu mốc lịch sử quan trọng như năm 1986, năm 1989, quá trình đàm phán Hiệp định Thương mại Song phương Việt - Mỹ, việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
"Những bước ngoặt này đã tạo ra các cú hích định hình lại cục diện nền kinh tế. Trong tư duy lập pháp, sự kết hợp linh hoạt giữa chuẩn mực quốc tế và đặc thù nội tại giúp Việt Nam vừa hội nhập sâu rộng vừa giữ vững sự chủ động trong quản trị vĩ mô", vị chuyên gia nhận định.

TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh.
Tuy nhiên, khi đối chiếu với thực tiễn thị trường, TS. Võ Trí Thành chỉ ra sự tương phản rõ rệt giữa quyền tự do kinh doanh và hệ thống điều kiện kinh doanh. Mặc dù quyền tự do kinh doanh được khẳng định theo nguyên tắc chọn - bỏ trong các cam kết quốc tế chất lượng cao, rào cản lớn nhất vẫn nằm ở các điều kiện kinh doanh rườm rà tại một số lĩnh vực, đóng vai trò như một hình thức bảo hộ tinh vi trong bối cảnh thương mại toàn cầu chưa hoàn toàn cởi mở. Bên cạnh đó, bài toán cải cách đòi hỏi sự cân bằng giữa việc bịt kín các lỗ hổng tiêu cực và tinh thần khơi thông nguồn lực từng phát huy hiệu quả mạnh mẽ từ đầu thập niên 90, qua đó nhấn mạnh yêu cầu phải mở đường cho các động lực phát triển tích cực thay vì chỉ tập trung ngăn chặn tiêu cực.
Đánh giá tổng thể bước sang giai đoạn hiện nay, TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh nhiệm vụ kép là vừa hoàn thiện nền tảng kinh tế thị trường thông qua việc sửa đổi các đạo luật trụ cột như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, vừa phải dũng cảm thay đổi những quy định cũ để thích ứng với kỷ nguyên số.
"Khi cấu trúc nền kinh tế dịch chuyển sang mô hình phi tuyến tính với sự xuất hiện của dữ liệu bên cạnh các yếu tố truyền thống như vốn, lao động, đất đai, hệ thống pháp luật phải đối mặt với hàng loạt vấn đề mới chưa có tiền lệ như quyền tài sản dữ liệu, dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới, khung khổ pháp lý cho trí tuệ nhân tạo (AI) và sự dịch chuyển nhân lực toàn cầu", TS. Thành đánh giá.
Tháo gỡ rào cản pháp lý, tạo hành lang an toàn cho người dám nghĩ, dám làm
Bàn về việc những khoảng trống giữa chính sách và thực tế khiến tinh thần dám nghĩ, dám làm khó đi vào đời sống, GS.TS. Hoàng Văn Cường, Đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV; Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam chỉ ra rằng, mặc dù chủ trương khuyến khích và bảo vệ người năng động, sáng tạo đã được đưa vào nhiều văn kiện và luật chuyên ngành như Luật Khoa học và Công nghệ, số lượng người thực sự dám làm vẫn rất ít do thiếu cơ chế bảo vệ rủi ro thực chất.

GS.TS. Hoàng Văn Cường, Đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV; Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam.
"Các quy định hiện hành tuy miễn trách nhiệm khi xảy ra rủi ro không vụ lợi, nhưng thời gian chờ đợi minh bạch hóa quá trình chứng minh khiến thiệt hại đã xảy ra, đẩy hệ thống pháp luật vào vòng luẩn quẩn của luật khung, luật ống với các văn bản hướng dẫn cứng nhắc. Do đó, cần thiết phải thiết lập một cơ chế minh bạch và giải trình rõ ràng để tạo hành lang an toàn cho sự sáng tạo", GS.TS. Hoàng Văn Cường góp ý.
Bên cạnh đó, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật kinh tế vẫn còn nhiều điểm nghẽn do thiếu sự khớp nối giữa các quy định chuyên ngành. Đơn cử như chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, chuyển đổi hộ kinh doanh chuyên nghiệp và nâng ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế lên một tỷ đồng vốn rất tiến bộ, nhưng trên thực tế nhiều hộ kinh doanh vẫn ngần ngại do chi phí tuân thủ lớn từ Luật Kế toán hiện hành. Việc duy trì các yêu cầu hóa đơn và chứng từ giấy rườm rà trong kỷ nguyên chuyển đổi số khiến người dân vừa mất chi phí số hóa vừa gánh thêm gánh nặng hành chính.
Cuối cùng, bàn về chủ trương đảng viên làm kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 224, GS.TS. Hoàng Văn Cường đánh giá đây là quyết sách đột phá nhằm khai thác nguồn lực con người chất lượng cao trong bộ máy nhà nước. Song, để giải tỏa tâm lý e ngại của dư luận về nguy cơ xung đột lợi ích hay mất môi trường, bình đẳng, nhà lập pháp phải xây dựng khung kiểm soát chặt chẽ nhằm bịt kín kẽ hở tiêu cực mà không rơi vào tư duy quản lý theo kiểu không quản được thì cấm, qua đó tạo động lực phát triển vững chắc cho nền kinh tế.
Cần nhận diện trào lưu phát triển và xu hướng vận động của hệ thống pháp luật kinh tế
Đưa ra góc nhìn bao quát ở tầm phương pháp luận và cấu trúc thể chế, TS. Vũ Đình Ánh - nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường - giá cả của Bộ Tài chính nhận định, chủ đề tổng kết hệ thống pháp luật kinh tế 40 năm đổi mới là một bài toán mang tầm vóc vô cùng lớn, vượt quá phạm vi và giới hạn thời lượng của một hội thảo đơn lẻ vốn chỉ mới dừng lại ở bước đặt vấn đề ban đầu.

TS. Vũ Đình Ánh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường - giá cả của Bộ Tài chính.
Đi sâu phân tích phương pháp tiếp cận nghiên cứu, TS. Vũ Đình Ánh nhấn mạnh trước hết phải xác định rõ "khoảng đầu vào" bằng việc khoanh vùng cụ thể phạm vi các văn bản quy phạm pháp luật được đưa vào đối tượng khảo sát, từ các đạo luật do Quốc hội ban hành đến hệ thống nghị định, thông tư hay các quyết định điều hành cụ thể. Đồng thời, công tác nghiên cứu cần được triển khai bài bản theo cả hai trục: chiều ngang là việc lựa chọn các trụ cột ngành kinh tế then chốt để đánh giá (đặc biệt không thể bỏ qua hệ thống pháp luật về thuế), và chiều dọc là độ sâu phân tích trong từng sắc thuế hay lĩnh vực chuyên ngành cụ thể.
Đặc biệt, TS. Vũ Đình Ánh cũng xoáy sâu bàn luận về tư duy thiết kế pháp luật xuyên suốt chặng đường qua. "Liệu hệ thống pháp luật được ban hành có đang hướng đến "mở đường" cho kinh tế phát triển, tạo điều cho người dân và doanh nghiệp được tự do kinh doanh những gì pháp luật không cấm; hay thực chất tư duy lập pháp vẫn đang nghiêng về xu hướng dựng lên các hàng rào kiểm soát, chỉ cho phép thực hiện những gì đã được quy định cứng trong luật?", TS. Ánh đặt câu hỏi.
Từ trăn trở này, ông kiến nghị thực hiện phân kỳ giai đoạn lịch sử hệ thống pháp luật kinh tế thành các trào lưu phát triển rõ nét qua từng thập kỷ (như giai đoạn 1986–1996, 1996–2006, 2006–2026 và tầm nhìn kỷ nguyên mới). Chỉ khi phát hiện được bản chất và xu hướng tiến hóa này, giới nghiên cứu và các cơ quan hoạch định mới có đủ nền tảng dự báo chính xác diện mạo của hệ thống pháp luật kinh tế Việt Nam đến năm 2035 và các giai đoạn tiếp theo.
"Luật kinh tế cần tái cấu trúc toàn diện, không thể hễ có biến động là ra luật mới"
Tiếp nối hội thảo từ góc độ một người trong tổ biên tập chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam, GS.TS. Hoàng Thế Liên, Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Tư pháp, Giảng viên cao cấp Đại học Luật Hà Nội lại nhìn nhận, chặng đường 40 năm qua như một cuộc chuyển đổi và đấu tranh cam go giữa cơ chế cũ và cơ chế mới.
Khi bước chân từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, đất nước hoàn toàn chưa có tiền lệ, buộc đội ngũ xây dựng pháp luật phải đi khắp thế giới học hỏi. Song, việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế phải luôn được chắt lọc cho phù hợp với thể chế chính trị đặc thù của Việt Nam, cũng như cây táo ngoại nhập chưa chắc đã thích nghi ngay nếu không được thuần hóa đúng cách.

GS.TS. Hoàng Thế Liên, Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Tư pháp, Giảng viên cao cấp Đại học Luật Hà Nội.
Nhìn lại dấu mốc quan trọng năm 2001 và việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, ông nhấn mạnh cách tiếp cận tiệm tiến, từng bước vững chắc nhằm bảo đảm ổn định chính trị - xã hội đã trở thành một "vốn vô hình" vô cùng quý giá giúp Việt Nam tạo dựng niềm tin và thu hút đầu tư quốc tế.
"Trong những thời điểm nhạy cảm, việc khéo léo sử dụng sức ép từ các hiệp định thương mại quốc tế (như ASEAN, WTO, CPTPP) đã đóng vai trò là đòn bẩy quan trọng để phá vỡ tư duy cũ", Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Tư pháp nhấn mạnh.
Tuy nhiên, ông cũng thẳng thắn chỉ ra rằng dù kinh tế đã đổi mới mạnh mẽ, tư duy đổi mới chính trị trong một số giai đoạn chưa bắt kịp tương xứng, đôi khi trở thành lực cản và đòi hỏi hệ thống phải giải mã mối quan hệ đặc thù giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với các giá trị phổ quát của nhân loại.
Bước sang giai đoạn hiện nay, GS.TS. Hoàng Thế Liên khẳng định phương pháp tiếp cận tiệm tiến cần được chuyển hóa thành cách tiếp cận đột phá để vượt qua bẫy thu nhập trung bình và vươn lên nhóm thu nhập cao, theo đúng các khuyến nghị từ báo cáo Việt Nam 2035. Về mặt cấu trúc, pháp luật kinh tế mang tính chất hỗn hợp công - tư phức tạp, đòi hỏi ranh giới rõ ràng giữa quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc pháp luật không cấm và yêu cầu bảo đảm lợi ích quốc gia, an ninh, an toàn xã hội.
Do đó, hệ thống pháp luật không thể tiếp tục vận hành theo kiểu chạy theo sự vụ, "nóng tay bắt lỗ tai" hay hễ có biến động là ra luật mới, bởi điều đó sẽ làm méo mó và phá vỡ cấu trúc tổng thể. Thay vào đó, ngành lập pháp cần tiến hành tái cấu trúc toàn diện hệ thống pháp luật kinh tế, đổi mới tư duy xây dựng pháp luật dựa trên việc xác định các hệ giá trị cốt lõi, kết hợp linh hoạt với các công cụ giải thích pháp luật và án lệ nhằm bảo đảm sự ổn định, minh bạch và khả năng ứng phó linh hoạt trước mọi biến động của thời đại.